Thread Content
Bài viết này cuối cùng được chỉnh sửa bởi shineduke vào ngày 19-11-2016 lúc 13:36. Trong các quy định về thiết kế kiến trúc liên quan đến an toàn chống cháy, cũng như trong các ví dụ được đưa ra sau đó, không hề có đề cập gì đến sunfurơ trioxide. Mặc dù axit sunfuric khói được xếp vào nhóm chất oxy hóa mạnh thuộc loại nguy cơ cháy nổ B, nhưng có vẻ như tính oxy hóa của lưu huỳnh trioxide lại mạnh hơn axit sunfuric khói một chút. Vậy thì nên phân loại nó như thế nào đây?
Theo đó, tính chất của lưu huỳnh trioxide và axit sunfuric khói có phải không rất giống nhau, chỉ là nồng độ lưu huỳnh trioxide tự do cao hơn mà thôi
Có cơ sở nào không? Hiện nay, đối với các doanh nghiệp sản xuất axit sunfuric từ lưu huỳnh, liệu bộ phận tạo ra trioxit lưu huỳnh có được xếp vào loại A không? Có ai làm việc trong lĩnh vực này có thể trả lời giúp không?
Trong “Bảng thông tin phân loại các chất nguy hiểm” năm 2015, không ghi rõ nhóm tính oxi hóa của lưu huỳnh trioxide và axit sunfuric khói. Đối với dung dịch hydro peroxide: (1) Nếu hàm lượng ≥60%, thì thuộc nhóm chất lỏng có tính oxi hóa, loại 1; (2) Nếu hàm lượng từ 20% đến <60%, thì thuộc nhóm chất lỏng có tính oxi hóa, loại 2; (3) Nếu hàm lượng từ 8% đến <20%, thì thuộc nhóm chất lỏng có tính oxi hóa, loại 3. Có thể suy ra rằng tính oxi hóa của lưu huỳnh trioxide và axit sunfuric khói không quá cao. Xếp vào loại B thì hầu như không có vấn đề gì.