Sản xuất axeton nitrile. Do mức tăng tiêu thụ của sản phẩm chính được sản xuất từ acrylonitrile – đó là acrylic – diễn ra chậm, nên nhu cầu về acrylonitrile cũng giảm theo. Dự kiến đến năm 2018, tỷ lệ của acrylonitrile trong cơ cấu tiêu thụ acrylene sẽ giảm xuống còn 8,5%. Ngoài ra, các dẫn xuất quan trọng khác của propylen còn có các loại rượu carbonyl và epoxipropan. Vào năm 2008, tỷ lệ chiếm của chúng trong cơ cấu tiêu thụ propylen lần lượt là 8% và 7%. Dự kiến trong vài năm tới, tỷ trọng của chúng trong cơ cấu tiêu thụ propylen sẽ giảm nhẹ. Do nhu cầu về các sản phẩm phái sinh ở khâu tiêu thụ cuối ngày càng tăng mạnh, lượng tiêu thụ propylen trên toàn thế giới trong những năm gần đây đã tăng lên đáng kể, làm thay đổi cục diện cung cầu của các loại hydrocarbon truyền thống. Trong gần 10 năm qua, tốc độ tăng trưởng nhu cầu về propylen trên toàn thế giới đã vượt qua tốc độ tăng trưởng nhu cầu về ethylen. Xu hướng này sẽ tiếp tục diễn ra, do đó trong tương lai, thế giới có thể sẽ phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nguồn propylen. Dự kiến trong 5 năm tới, tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của nhu cầu propylene trên toàn thế giới sẽ đạt 4,5%. Vào thời điểm đó, nhu cầu về propylen từ các ngành công nghiệp ở khâu tiêu thụ cuối cùng sẽ lên tới 84,2 triệu tấn, trong khi nguồn cung trên thị trường vẫn ở mức khan hiếm. Từ năm 2010 đến năm 2015, nhu cầu về propylen trên toàn thế giới sẽ tiếp tục tăng với tốc độ 4,9% mỗi năm. Châu Á sẽ trở thành khu vực có nhu cầu về propylen lớn nhất thế giới vào năm 2015, trong khi Trung Đông sẽ là khu vực có tốc độ tăng trưởng nhu cầu nhanh nhất. Trong vài năm tới, tốc độ tăng trưởng nhu cầu về propylene của Iran sẽ vượt qua Trung Quốc và Ấn Độ, trở thành quốc gia có tốc độ tăng trưởng nhu cầu nhanh nhất thế giới; con số này dự kiến sẽ đạt 18,7%. Iran đang phát triển mạnh ngành công nghiệp hóa dầu; nhiều nhà máy sản xuất polypropylene dành cho mục đích xuất khẩu sẽ được xây dựng. Các sản phẩm polypropylene được sản xuất ra sẽ chủ yếu được xuất khẩu sang châu Á và Tây Âu. Phần lớn propylen ở nước ta được sử dụng để sản xuất polypropylen, chiếm khoảng 74,8% tổng lượng propylen tiêu thụ. Một phần khác được dùng để sản xuất các sản phẩm hóa chất khác như acrylonitrile, epoxyclopropane, v.v., chiếm khoảng 25,2% tổng lượng propylen tiêu thụ. 2. Acrylonitrile là một chất lỏng không màu, có mùi khó chịu. Đây là một sản phẩm hóa học hữu cơ phổ biến, và là nguyên liệu quan trọng để sản xuất ba loại vật liệu tổng hợp chính: sợi tổng hợp, cao su tổng hợp và nhựa. Acrylonitrile được ứng dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp tổng hợp hóa học cũng như trong đời sống kinh tế của con người. Tính đến cuối tháng 8 năm 2012, có 9 nhà máy sản xuất acrylonitrin. Tổng công suất sản xuất của các nhà máy này lên tới 1,275 triệu tấn mỗi năm. Các nhà máy này đều sử dụng phương pháp tổng hợp acrylonitrin thông qua quá trình oxy hóa acrylamine. Ban đầu, họ sử dụng công nghệ từ công ty BP của nước ngoài; sau đó, hầu hết chuyển sang sử dụng công nghệ từ Viện Nghiên cứu Hóa dầu Thượng Hải thuộc Tập đoàn Sinopec để cải tạo và mở rộng nhà máy. Ngoại trừ Công ty TNHH Hóa dầu Sinopec Thượng Hải, các nhà máy còn lại đều được trang bị các thiết bị sản xuất phụ trợ (như acrylic, nhựa ABS hoặc cao su nitrile, v.v.). Các nhà máy sản xuất chủ yếu nằm trong các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Hóa chất Trung Quốc và Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc. Trong đó, tổng công suất sản xuất của Tập đoàn Dầu khí Hóa chất Trung Quốc là 550.000 tấn, chiếm khoảng 43,14% tổng công suất sản xuất trong nước ; Tổng công suất sản xuất của Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc là 725.000 tấn/năm, chiếm khoảng 56,86% tổng công suất sản xuất trong nước. Trong số đó, Công ty Dầu khí Jilin – một công ty thuộc Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc – hiện là nhà sản xuất acrylonitrile lớn nhất trong nước. Khả năng sản xuất của công ty này là 424.000 tấn/năm, chiếm khoảng 33,25% tổng khả năng sản xuất acrylonitrile của cả nước ; Tiếp theo là Công ty cổ phần hóa dầu Sinopec Thượng Hải, với khả năng sản xuất 260.000 tấn/năm, chiếm khoảng 20,39% tổng khả năng sản xuất trong nước. II. Phương pháp sản xuất phenol và propylbenzene bằng phương pháp isopropylbenzene
1. Các phương pháp chính để sản xuất phenol
Ban đầu, phenol được chiết xuất từ quặng than. Sau đó, người ta đã phát triển các phương pháp chế tạo dựa trên benzen, như phương pháp sulf hóa bằng kiềm nóng chảy, phương pháp từ chlorobenzen, phương pháp oxy hóa toluene, và phương pháp từ isopropylbenzen. (l) Phương pháp nung kiềm với chất sulfon hóa là phương pháp truyền thống để sản xuất phenol. Quá trình này bao gồm việc sulfon hóa benzene để tạo thành axit benzenosulfonic; sau đó, thông qua các bước trung hòa, nung kiềm và axit hóa, người ta có thể thu được phenol. Do phương pháp này tạo ra lượng lớn sunfat như một sản phẩm phụ, chi phí sản xuất cao và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nên nó đã bị loại bỏ. (2) Phương pháp chlorobenzen: Sử dụng benzen làm nguyên liệu, sau đó tiến hành quá trình clor hóa hoặc oxyclor hóa để tạo ra chlorobenzen. Từ chlorobenzen, người ta có thể thu được phenol thông qua quá trình thủy phân kiềm trong môi trường lỏng hoặc thủy phân axit trong môi trường khí. Phương pháp này có tỷ lệ chuyển hóa thấp và gây ăn mòn mạnh đối với thiết bị. (3) Phương pháp oxy hóa toluen: Sử dụng toluen làm nguyên liệu để oxy hóa thành axit benzoic; sau đó, axit benzoic được oxy hóa và mất đi nhóm carboxyl để tạo thành phenol. Phương pháp này có tuổi thọ của chất xúc tác ngắn, và tạo ra nhựa đường. (4) Phương pháp oxy hóa khử hydro của cyclohexane: Sử dụng cyclohexane làm nguyên liệu, qua quá trình oxy hóa sẽ tạo ra cyclohexanol; sau đó, thông qua quá trình khử hydro xúc tác, sẽ thu được phenol. Chi phí sản xuất của phương pháp này khá cao.