Thread Content
Bài viết này cuối cùng được chỉnh sửa bởi liuquan1100 vào ngày 2016-11-29 08:03. 【Câu hỏi và trả lời – Câu hỏi số 223】Ngày 29/11/2016: Làm thế nào để xác định xem ống lò có bị kết tắc hay không? Sau khi trả lời sẽ thấy mục tham khảo**, chỉ cần trả lời đúng các điểm chính là có thể nhận điểm. Tình trạng kết tắc ống lò có thể được xác định thông qua các tiêu chí sau: (1) Khi lượng vật liệu đầu vào không thay đổi, xem áp suất tại lối vào và lối ra của ống lò có tăng lên hay không. Nếu có sự thay đổi, cần phải phân tích nguyên nhân ngay lập tức. (2) Quan sát bề mặt ống lò xem có hiện tượng đỏ lên hay không. Do sự hình thành cặn bẩn bên trong ống, điện trở nhiệt tăng lên, khiến việc truyền nhiệt trở nên khó khăn. Do đó, nhiệt độ ở một số vùng của thành ống tăng cao, khiến thành ống bị đỏ lên. (3) Lượng chất được xử lý không thay đổi, nhưng nhiệt độ ở lối ra của lò giảm hoặc lượng nhiên liệu sử dụng tăng lên. (4) Nhiệt độ ở lối ra của lò tăng chậm, điều này cho thấy có sự kết tắc xảy ra ở vùng bao quanh nhiệt kế. Tổng hợp các câu hỏi và trả lời năm 2016 (được cập nhật đến tháng 11~~~~) http://bbs.hcbbs.com/thread-1597792-1-1.html. Kêu gọi các doanh nghiệp muốn tài trợ cho chương trình “Bình chọn 10 thành viên xuất sắc nhất của Hải Xuyên năm 2016”. http://bbs.hcbbs.com/thread-1628108-1-1.html (Nguồn: Diễn đàn Hóa chất Hải Xuyên)
1) Chênh lệch áp suất ở cửa ra khí của lò tăng lên, dẫn đến áp suất bên trong lò tăng cao. 2) Nhiệt kế tại lối ra của lò cho chỉ số thấp, phản ứng chậm. 3) Khi các điều kiện vận hành không thay đổi, nhiệt độ bên trong lò tăng lên đáng kể, trong khi nhiệt độ ở đầu ra của lò lại không tăng được.
Tham khảo ** (1): Trong lò sáng, nếu thấy có những vết bẩn màu xám trên ống lò, điều đó có nghĩa là ống lò ở vị trí đó đã bị kết tắc. (2) Lượng vật liệu được xử lý không thay đổi, nhưng nhiệt độ trong lò và áp suất trong lò đều tăng lên. (3) Nhiệt độ ở lối ra của lò tăng chậm, cho thấy có sự kết tắc xảy ra ở vùng bao quanh nhiệt kế.
(1) Độ chênh lệch áp suất ở lối vào và lối ra của ống lò có tăng lên không? (2) Nhiệt độ ở lối ra của lò giảm xuống; ngay cả khi tăng lượng nhiên liệu, cũng rất khó để nâng lại nhiệt độ đó. (3) Kiểm tra xem bề mặt ống lò có bị đỏ lên hay không; thành ống lò cũng có thể bị đỏ.
(1) Đầu đốt không hoạt động tốt, ngọn lửa chiếu thẳng vào ống lò, khiến một vùng của ống lò bị quá nhiệt. (2) Tốc độ dòng chảy của dầu bên trong ống lò quá chậm, thời gian lưu lại của chất lỏng quá dài, hoặc việc cung cấp chất lỏng bị gián đoạn khiến xảy ra tình trạng cháy khô. (3) Thiết bị đo bị hỏng, không thể phản ánh chính xác nhiệt độ tại các điểm khác nhau, dẫn đến tình trạng nhiệt độ ở thành ống vượt mức cho phép.
1) Chênh lệch áp suất ở lối ra của lò tăng lên, dẫn đến áp suất bên trong lò tăng cao. 2) Nhiệt kế tại lối ra của lò cho chỉ số thấp, phản ứng chậm. 3) Khi các điều kiện vận hành không thay đổi, nhiệt độ bên trong lò tăng lên đáng kể, trong khi nhiệt độ ở đầu ra của lò lại không tăng được. 4) Ống lò chuyển từ màu hồng sang màu đen, thậm chí bị bong tróc và xuất hiện các vết đốm; các giá đỡ gạch chịu nhiệt trong buồng lò cũng chuyển từ màu đỏ ấm sang màu trắng. 5) Lượng nhiên liệu tiêu thụ tăng lên.
(1) Khi lượng vật liệu đầu vào không thay đổi, liệu chênh lệch áp suất ở lối vào và lối ra của ống lò có tăng lên hay không? Nếu có sự thay đổi, cần phải phân tích nguyên nhân ngay lập tức. (2) Quan sát bề mặt ống lò xem có hiện tượng đỏ lên hay không. Do sự hình thành cặn bẩn bên trong ống, điện trở nhiệt tăng lên, khiến việc truyền nhiệt trở nên khó khăn. Do đó, nhiệt độ ở một số vùng của thành ống tăng cao, khiến thành ống bị đỏ lên. (3) Lượng chất được xử lý không thay đổi, nhưng nhiệt độ ở lối ra của lò giảm hoặc lượng nhiên liệu sử dụng tăng lên. (4) Nhiệt độ ở lối ra của lò tăng chậm, điều này cho thấy có sự kết tắc xảy ra ở vùng bao quanh nhiệt kế.
1) Chênh lệch áp suất ở lối ra của lò tăng lên, dẫn đến áp suất bên trong lò tăng cao. 2) Nhiệt kế tại lối ra của lò cho chỉ số thấp, phản ứng chậm. 3) Khi các điều kiện vận hành không thay đổi, nhiệt độ bên trong lò tăng lên đáng kể, trong khi nhiệt độ ở đầu ra của lò lại không tăng được. 4) Ống lò chuyển từ màu hồng sang màu đen, thậm chí bị bong tróc và xuất hiện các vết đốm; các giá đỡ gạch chịu nhiệt trong buồng lò cũng chuyển từ màu đỏ ấm sang màu trắng. 5) Lượng nhiên liệu tiêu thụ tăng lên.
1. Kiểm tra sự thay đổi của chênh lệch áp suất ở đầu vào và đầu ra của ống lò; nếu chênh lệch áp suất tăng lên đáng kể, có thể là do hiện tượng kết tắc xảy ra.
2. Kiểm tra hiệu suất trao đổi nhiệt của lò nung; nếu hiệu suất giảm mạnh, cũng có thể là do hiện tượng kết tắc.
3. Kiểm tra lượng khí đốt tiêu thụ ở cùng một mức tải và nhiệt độ; nếu lượng khí đốt tiêu thụ tăng lên đáng kể, cũng có thể là do hiện tượng kết tắc. Chỉ dựa vào một yếu tố thôi thì không thể kết luận chắc chắn về việc có xảy ra hiện tượng kết tắc hay không; cần phải xem xét tổng hợp cả ba yếu tố trên mới có thể đưa ra kết luận chính xác
Có thể nhận biết bằng cách quan sát màu sắc bề mặt của ống lò. Ở những vị trí bị kết tắc, do hệ số truyền nhiệt của các chất cặn than thấp, nên nhiệt độ bề mặt ống lò tăng cao, khiến màu sắc trở nên đỏ thẫm; đồng thời xuất hiện những vết loang màu xám. Còn ở những vùng khác, bề mặt ống lò có màu đen.