Thread Content
Tổng hợp phân tích tình hình giá urê tháng 12 năm 2016, hy vọng các đồng nghiệp có thể cung cấp một số thông tin về lĩnh vực này!
Tình hình giá urê tại các khu vực trong nước – Tác giả/Nguồn: Trang web Hóa chất Trung Quốc – Ngày đăng: 2016-12-01 – Số lần xem: 3. Tỷ lệ hoạt động của các nhà máy sản xuất urê vẫn ở mức thấp; nguồn cung ở một số khu vực vẫn còn khan hiếm. Nhu cầu từ phía thị trường vẫn ở mức bình thường. Tuy nhiên, tình hình xuất khẩu của một số nhà máy ở Nội Mông, Sơn Tây… có phần cải thiện, khiến lượng urê có sẵn trên thị trường tăng lên một chút. Do đó, giá urê tại các khu vực như Liêu Ninh, Giang Tô, An Huy… có xu hướng giảm. Mức giá bán ra chính thức tại khu vực Sơn Đông hiện vẫn ở mức khoảng 1480 nhân dân tệ mỗi tấn (giá tính theo tấn; cùng ý nghĩa như sau). Một số sản phẩm cao cấp có mức giá giảm khoảng 20–30 nhân dân tệ. Giá mua hàng tại Lâm Nghi cũng giảm khoảng 10 nhân dân tệ… (Chi tiết được trình bày trong khu vực dành cho thành viên; cùng ý nghĩa như sau) ; Tình hình các đơn hàng mới ở khu vực Hai Sông vẫn ở mức bình thường. Ngoài ra, có một lượng nhỏ ure từ Sơn Tây và Nội Mông được vận chuyển đến đây, khiến lượng ure trên thị trường tăng nhẹ. Do đó, mức giá bán ra của các nhà sản xuất ở Hà Bắc lại giảm thêm 5–10 nhân dân tệ, còn khoảng 1480–1490 nhân dân tệ. Giá giao dịch cũng khá thấp. Còn ở Hà Nam, mức giá bán ra của các nhà sản xuất giảm 20 nhân dân tệ, còn khoảng 1500 nhân dân tệ. Như vậy, vẫn còn nhiều không gian để có thể đạt được mức giá ưu đãi hơn ; Do ảnh hưởng từ việc giảm giá tại các khu vực lân cận, tình hình các đơn hàng mới ở khu vực Giang Tô và An Huy cũng không mấy khả quan. Mức giá bán ra của các nhà sản xuất ở An Huy dao động từ 1540 đến 1550 nhân dân tệ; còn đối với các đơn hàng gửi đi xa hơn nữa, mức giá lại thấp hơn khoảng 30 nhân dân tệ, tức vào khoảng 1550–1590 nhân dân tệ. Báo giá tại các địa điểm khác tạm thời **. Tổng lượng urê tồn kho tại các cảng chính của nước ta… Về mặt quốc tế, …… Nhìn chung, tỷ lệ hoạt động của các nhà máy sản xuất urê vẫn ở mức thấp. Về mặt xuất khẩu, không có nhiều yếu tố tích cực; việc chuẩn bị phân bón tại các khu vực trong nước vẫn chưa diễn ra. Các nhà phân phối chủ yếu chờ đợi tình hình phát triển. Số lượng đơn hàng mới cũng khá ít. Tình hình xuất khẩu urê giá rẻ cũng có phần cải thiện, dẫn đến việc lượng cung trên thị trường tăng lên một chút. Dự kiến, giá urê ở một số khu vực sẽ tiếp tục giảm nhẹ. Ở các khu vực như Đông Nam hai tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam, tỷ lệ hoạt động của các nhà máy sản xuất urê rất thấp, và lượng urê nhập từ các tỉnh khác cũng rất ít. Do đó, giá urê ở những khu vực này nên được duy trì ổn định. Khi tình hình vận chuyển được cải thiện, giá urê có nguy cơ giảm thêm nữa. Nếu có bất kỳ phần nào trong các dữ liệu phân tích và thông tin thị trường trên trang web này mà bạn muốn tìm hiểu sâu hơn, vui lòng gọi đến số hotline 0451-88001128 để được tư vấn. Thông tin về giá cả theo khu vực: Đơn vị tính: nhân dân tệ/ton (những con số in đậm trong bảng là giá của urê hạt lớn)
Ngành phân bón nitơ: Chi phí tăng cao khiến giá urê tăng lên; tỷ lệ hoạt động thấp góp phần duy trì tình hình tích cực trong ngành. Tác giả/Nguồn: Ngày: 2016-12-01. Số lượt xem: 6. Trong ba tháng gần đây, tình hình kinh doanh trong ngành urê ngày càng tích cực; tỷ lệ hoạt động thấp đã góp phần hỗ trợ giá cả. Các doanh nghiệp hàng đầu trong ngành sẽ được hưởng lợi nhiều từ điều này. Urea, với hàm lượng nitơ cao nhất trong các loại phân bón chứa nitơ, có nhu cầu sử dụng cực kỳ lớn trong lĩnh vực nông nghiệp; còn trong công nghiệp, nó lại là nguyên liệu quan trọng để sản xuất nhiều loại hóa chất khác nhau. Sau tháng 5 năm 2012, giá urê đã trải qua một chu kỳ suy giảm kéo dài hơn bốn năm. Nguyên nhân là do khả năng sản xuất tăng quá nhanh, giá than giảm, giá lương thực giảm, cùng với sự sụt giảm giá urê trên thị trường quốc tế. Đến giữa tháng 8 năm nay, mức giá thấp nhất của ure trong nước đã dưới 1200 nhân dân tệ/ton; toàn bộ ngành công nghiệp này đang phải đối mặt với tình trạng lỗ lã hoặc khó có thể sinh lời. Tuy nhiên, dưới tác động của nhiều yếu tố như giá than tăng mạnh, việc bãi bỏ các chính sách ưu đãi về giá điện, chi phí vận chuyển tăng cao, các biện pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường, cùng với việc lượng hàng tồn kho liên tục giảm, trong ba tháng gần đây, giá urê đã có một đợt phục hồi khá mạnh mẽ. Nhìn về năm 2017, nhu cầu từ các thị trường tiêu thụ và khối lượng xuất khẩu dự kiến sẽ tiếp tục giảm nhẹ. Tuy nhiên, do áp lực từ chi phí nguyên liệu, chi phí vận chuyển, cùng các quy định về bảo vệ môi trường, các nhà máy sản xuất ure trong nước chỉ có thể hoạt động ở mức công suất thấp. Điều này sẽ khiến nguồn cung ure bị hạn chế, từ đó tạo ra áp lực tích cực lên giá cả. Hiện nay, trong xu hướng thúc đẩy cải cách phía cung, các nhà máy sản xuất urê với công nghệ lạc hậu và chi phí sản xuất cao sẽ buộc phải ngừng hoạt động. Ngược lại, những doanh nghiệp có công nghệ tiên tiến và mức tiêu thụ năng lượng thấp sẽ thu được lợi nhuận đáng kể.
Tình hình giá urê tại các khu vực trong nước – Tác giả/Nguồn: Trang web Hóa chất Trung Quốc – Ngày đăng: 2016-12-02 – Số lần xem: 27. Tỷ lệ hoạt động của các nhà máy sản xuất urê vẫn ở mức thấp; nguồn cung ở một số khu vực vẫn còn khan hiếm. Nhu cầu từ các khách hàng cuối vẫn ở mức bình thường. Đồng thời, lượng urê có sẵn ở một số khu vực lại tăng lên một chút. Do đó, giá urê tại các khu vực Shandong, Lianghe và Fujian có phần giảm. Tình hình các đơn hàng mới từ các nhà sản xuất trong khu vực Sơn Đông khá ổn. Có một lượng nhỏ urê giá rẻ từ các tỉnh khác được nhập về. Mức giá bán ra của các nhà sản xuất chính dao động từ 1450–1480 nhân dân tệ mỗi tấn; riêng một số nhà sản xuất thì bán với giá chỉ 1420 nhân dân tệ mỗi tấn ; Khu vực hai con sông cũng có một lượng nhỏ urê từ Sơn Tây và Nội Mông được nhập về. Lượng urê trên thị trường tăng nhẹ, vì vậy giá bán urê tại các nhà máy ở Hà Bắc lại giảm thêm 10–20 nhân dân tệ, xuống còn 1460–1480 nhân dân tệ. Theo thông tin từ Trang web Phân bón Trung Quốc, giá bán urê tại các nhà máy thường nằm trong khoảng… (Phần chi tiết xin xem mục dành cho thành viên; cùng nghĩa ở các đoạn sau). Còn tại Hà Nam, giá bán urê tại các nhà máy lại giảm thêm 20 nhân dân tệ, xuống còn 1480–1500 nhân dân tệ, sau đó mới được giao đi nơi khác…… ; Tình hình vận chuyển sản phẩm ra ngoài của một số nhà máy ở khu vực Sơn Tây vẫn còn ở mức bình thường. Mức giá bán ra thị trường vẫn dao động trong khoảng 1300–1340 nhân dân tệ; còn đối với các đơn hàng được giao trực tiếp tại địa phương, mức giá vẫn là 1450–1500 nhân dân tệ. Nhìn chung, giá vẫn được duy trì ở mức cao để kiểm soát lượng đơn hàng nhận được ; Mức giá bán ra chính thức tại hai tỉnh Sơn Đông và An Huy vẫn ổn định trong thời gian tới. Chỉ có một số nhà máy sản xuất urê ở An Huy mới bắt đầu hoạt động trở lại hoặc sắp bắt đầu hoạt động trở lại; do đó áp lực bán hàng vẫn chưa lớn. Mức giá bán tăng khoảng 20–30 nhân dân tệ. Tỷ lệ hoạt động của các nhà máy ở tỉnh Giang Tô… Mức giá dành cho các sản phẩm cao cấp thì giảm khoảng 50 nhân dân tệ ; Tỷ lệ khởi công tại khu vực Phúc Kiến… Do ảnh hưởng từ việc giảm giá bán tại các khu vực khác, cùng với sự sụt giảm nhẹ về nhu cầu trong nước, nên mức giá bán ra của các doanh nghiệp tại Phúc Kiến đã giảm 60 nhân dân tệ, xuống còn khoảng 1610 nhân dân tệ. Tình hình xuất hàng của một số nhà sản xuất ở khu vực Nội Mông có phần cải thiện đôi chút. Mức giá bán ra thị trường vẫn ở mức 1200–1300 nhân dân tệ. Còn mức giá khi giao hàng đến các khu vực phía Đông Bắc thì vẫn khoảng 1550 nhân dân tệ, và tình trạng này vẫn tiếp diễn trong giai đoạn đầu. Về mặt quốc tế, giá urê trên thị trường Brazil có thể giảm xuống mức… Nhìn chung, tỷ lệ hoạt động của các nhà máy sản xuất urê vẫn ở mức thấp. Về mặt xuất khẩu, hiện chưa có nhiều yếu tố tích cực; các đại lý chủ yếu chờ đợi tình hình phát triển. Số lượng đơn hàng mới cũng không nhiều. Tình hình xuất khẩu urê với giá thấp cũng có phần cải thiện, dẫn đến việc lượng cung trên thị trường tăng lên một chút. Dự kiến, giá urê ở một số khu vực sẽ tiếp tục giảm nhẹ. Giá urê tại khu vực hai con sông ở Shandong có thể giảm xuống còn khoảng 1400 nhân dân tệ, hoặc cao hơn một chút. Khi việc vận chuyển trở nên thuận lợi hơn, giá urê có nguy cơ giảm thêm nữa. Tuy nhiên, do tỷ lệ hoạt động của các nhà máy vẫn ở mức thấp, sau Ngày Năm Mới, khi các đại lý bắt đầu chuẩn bị phân bón, giá urê có thể tăng trở lại. Nếu có bất kỳ phần nào trong các dữ liệu phân tích và thông tin thị trường trên trang web này mà bạn muốn tìm hiểu sâu hơn, vui lòng gọi đến số hotline 0451-88001128 để được tư vấn. Thông tin về giá cả theo khu vực: Đơn vị tính: nhân dân tệ/ton (những con số in đậm trong bảng là giá của urê hạt lớn)
Ngành phân bón nitơ: Chi phí tăng khiến giá urê tăng cao; tỷ lệ hoạt động thấp góp phần duy trì tình hình tích cực trong ngành. Tác giả/Nguồn: Ngày: 2016-12-02. Số lần xem: 25. Trong ba tháng gần đây, tình hình kinh doanh trong ngành urê có xu hướng tích cực; tỷ lệ hoạt động thấp đã góp phần hỗ trợ giá cả. Các doanh nghiệp hàng đầu trong ngành sẽ được hưởng lợi nhiều từ điều này. Urea, với hàm lượng nitơ cao nhất trong các loại phân bón chứa nitơ, có nhu cầu sử dụng cực kỳ lớn trong lĩnh vực nông nghiệp; còn trong công nghiệp, nó lại là nguyên liệu quan trọng để sản xuất nhiều loại hóa chất khác nhau. Sau tháng 5 năm 2012, giá urê đã trải qua một chu kỳ suy giảm kéo dài hơn bốn năm. Nguyên nhân là do khả năng sản xuất tăng quá nhanh, giá than giảm, giá lương thực giảm, cùng với sự sụt giảm giá urê trên thị trường quốc tế. Đến giữa tháng 8 năm nay, mức giá thấp nhất của ure trong nước đã dưới 1200 nhân dân tệ/ton; toàn bộ ngành công nghiệp này đang phải đối mặt với tình trạng lỗ lã hoặc khó có thể sinh lời. Tuy nhiên, dưới tác động của nhiều yếu tố như giá than tăng mạnh, việc bãi bỏ các chính sách ưu đãi về giá điện, chi phí vận chuyển tăng cao, các biện pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường, cùng với việc lượng hàng tồn kho liên tục giảm, trong ba tháng gần đây, giá urê đã có một đợt phục hồi khá mạnh mẽ. Nhìn về năm 2017, nhu cầu từ các thị trường tiêu thụ và khối lượng xuất khẩu dự kiến sẽ tiếp tục giảm nhẹ. Tuy nhiên, do áp lực từ chi phí nguyên liệu, chi phí vận chuyển, cùng các quy định về bảo vệ môi trường, các nhà máy sản xuất ure trong nước chỉ có thể hoạt động ở mức công suất thấp. Điều này sẽ khiến nguồn cung ure bị hạn chế, từ đó tạo ra áp lực tích cực lên giá cả. Hiện nay, trong xu hướng thúc đẩy cải cách phía cung, các nhà máy sản xuất urê với công nghệ lạc hậu và chi phí sản xuất cao sẽ buộc phải ngừng hoạt động. Ngược lại, những doanh nghiệp có công nghệ tiên tiến và mức tiêu thụ năng lượng thấp sẽ thu được lợi nhuận đáng kể. (Mạng thông tin về phân bón và hóa chất nông nghiệp Trung Quốc)
Tình hình giá urê tại các khu vực trong nước Tác giả/Nguồn: Trang web Hóa chất Nông nghiệp Trung Quốc Ngày đăng: 07-12-2016 Số lần xem: 19 Hôm nay, giá urê tại các tỉnh Hà Nam, Giang Tô và Thiểm Tây có xu hướng giảm; còn ở các khu vực khác, giá vẫn ổn định. Mức giá bán ra chính thức tại khu vực Sơn Đông hiện vẫn ở mức khoảng 1430 nhân dân tệ mỗi tấn (giá tính theo tấn; cùng giải thích như vậy sau này). Một số mặt hàng cao cấp có mức giá giảm thêm 30 nhân dân tệ; trong khi đó, một số mặt hàng phổ thông lại tăng nhẹ 10 nhân dân tệ. Tình hình đặt hàng mới nói chung khá ổn định; mức giá bán cho các mặt hàng phổ thông vào khoảng 1410 nhân dân tệ mỗi tấn ; Các đại lý ở khu vực hạ lưu tỉnh Hà Nam vẫn chưa chấp nhận mức giá hiện tại của urê. Mức giá bán ra từ các nhà sản xuất vẫn còn thấp, khoảng 10 yuan nữa, tức là từ 1430–1460 yuan. Vẫn có thể thương lượng để đạt được mức giá phù hợp hơn ; Mức giá bán ra chính thức tại khu vực Sơn Tây hiện vẫn ở mức 1350–1450 nhân dân tệ. Sau khi tình hình vận chuyển bằng đường bộ có phần cải thiện, một số dịch vụ vận chuyển cao cấp đã giảm giá 20 nhân dân tệ; mức giá mới nằm trong khoảng 1280–1320 nhân dân tệ ; Tiếp theo khu vực Lianghe ở Sơn Đông, khu vực Giang Tô cũng bắt đầu nhận được nguồn hàng giá rẻ từ các tỉnh khác. Tình hình các đơn hàng mới cũng không mấy khả quan; mức giá bán ra của các nhà sản xuất chủ lực giảm khoảng 30 nhân dân tệ, còn nằm trong khoảng 1480–1560 nhân dân tệ ; Doanh số bán hàng của hai nhà máy lớn ở khu vực Thiểm Tây khá ổn định. Mức giá bán ra từ các nhà máy này giảm khoảng 50 nhân dân tệ, còn dao động trong khoảng 1500 nhân dân tệ. Giá bán cho các đơn hàng gửi đi nơi khác chỉ khoảng 1420–1430 nhân dân tệ. Còn đối với một số nhà máy sản xuất urê nằm gần khu vực Nội Mông, mức giá bán vẫn ở mức 1330 nhân dân tệ. Đối với các đơn hàng lớn, vẫn có thể thương lượng được mức giá phù hợp. Về mặt kích thước hạt lớn, tỷ lệ hoạt động sản xuất ở khu vực Sơn Đông còn khá thấp. Gần đây, số lượng đơn hàng có phần tăng lên, và giá bán ra trên thị trường cũng tăng khoảng 10 nhân dân tệ, lên mức khoảng 1520 nhân dân tệ ; Tình hình bán hàng tại khu vực Giang Tô không mấy khả quan, mức giá bán ra trên thị trường thấp hơn khoảng 30 nhân dân tệ, tức vào khoảng 1590–1650 nhân dân tệ. Trên phạm vi quốc tế, vào ngày 1 tháng 12, công ty Abu Qir của Ai Cập đã tổ chức đấu giá 15.000 tấn urê dạng hạt nhỏ và 15.000 tấn urê dạng hạt lớn. Mức giá trúng thầu cuối cùng là 224 đô la/mét tấn đối với urê dạng hạt nhỏ, và 232,5 đô la/mét tấn đối với urê dạng hạt lớn. Cả hai mức giá này đều giảm so với trước. Nhìn chung, mặc dù tỷ lệ hoạt động của ngành urea vẫn ở mức thấp, nhưng các yếu tố tích cực về xuất khẩu vẫn rất ít. Nhu cầu trong nước cũng không mạnh. Tình hình xuất khẩu urea với giá thấp có phần được cải thiện đôi chút. Dự kiến, trong thời gian tới, giá urea ở một số khu vực sẽ tiếp tục giảm nhẹ. Nếu có bất kỳ phần nào trong các phân tích và dữ liệu thị trường của trang web này mà bạn muốn tìm hiểu sâu hơn, vui lòng gọi đến số hotline 0451-88001128 để được tư vấn. Tình hình thị trường khu vực: Đơn vị tính: nhân dân tệ/ton (Urea hạt to được in đậm trong bảng)
Các yếu tố như sự suy giảm hiệu quả của urea đã gây ra sự chênh lệch trong diễn biến giá của amoniac lỏng. Tác giả/Nguồn: Trang web Hóa chất Trung Quốc. Ngày đăng: 07/12/2016. Số lần xem: 20. Hiện tại, giá amoniac lỏng cao hơn khoảng 350–450 nhân dân tệ so với đầu tháng 11 (giá tính theo tấn; giá trị tương tự áp dụng cho các mức giá khác). Trong tháng vừa qua, các nhà sản xuất liên tục phải đối mặt với áp lực tăng giá. Tuy nhiên, mặc dù giá amoniac lỏng vẫn ở mức cao, nhưng đã bắt đầu có dấu hiệu chênh lệch. Kể từ đầu tuần trước, giá amoniac lỏng ở một số khu vực như Hoa Bắc, Hoa Đông và Hoa Trung đã giảm xuống. Ví dụ, ở khu vực Thạch Gia Trang, tỉnh Hà Bắc, giá bán lẻ amoniac lỏng giảm khoảng 60 nhân dân tệ, còn khoảng 2300–2320 nhân dân tệ mỗi tấn. Ở tỉnh Sơn Đông, giá bán lẻ amoniac lỏng giảm khoảng 50 nhân dân tệ, còn khoảng 2350–2480 nhân dân tệ mỗi tấn. Còn ở tỉnh Hà Nam, giá bán lẻ amoniac lỏng cũng giảm khoảng 50 nhân dân tệ, còn khoảng 2300–2420 nhân dân tệ mỗi tấn; Các khu vực không phải là những vùng sản xuất chính như Đông Bắc, Hai Hồ, Vân Quý… vẫn tiếp tục có những mức tăng giá nhỏ. Chẳng hạn, giá nhập kho tại khu vực Đông Bắc vào khoảng 3200 nhân dân tệ; giá bán ra tại khu vực Hai Hồ tăng khoảng 30 nhân dân tệ, lên mức 2600–2630 nhân dân tệ. Tại khu vực Vân Quý, giá bán ra tăng từ 150–200 nhân dân tệ, lên mức 2800–3000 nhân dân tệ. Giá cả có thể được thương lượng khi giao dịch. Xu hướng phân hóa này được hình thành như thế nào? Trước hết, sự thay đổi về tỷ lệ hoạt động chính là “thủ phạm”. Các nhà sản xuất ở các khu vực sản xuất chính đã tận dụng tình trạng giá amoniac lỏng tăng vọt để thu được lợi nhuận cao, và chuyển trọng tâm sản xuất sang amoniac lỏng. Một số nhà sản xuất còn làm việc liên tục để đáp ứng nhu cầu thị trường. Ngoài ra, một số doanh nghiệp từng ngừng hoạt động để bảo trì cũng đã quay trở lại hoạt động, vì vậy lượng hàng hóa có sẵn trên thị trường tăng lên. Tuy nhiên, chưa kịp vui mừng, các cuộc kiểm tra về môi trường lại liên tục được tiến hành. Ví dụ, khu vực Lianghe vẫn đang phải chịu các cuộc kiểm tra môi trường; các doanh nghiệp sử dụng amoniac lỏng, đặc biệt là những doanh nghiệp ở khâu tiêu thụ cuối cùng, bị yêu cầu giảm sản lượng hoặc ngừng sản xuất. Do đó, lượng hàng hóa cung cấp cho thị trường tăng lên, dẫn đến tình trạng cung vượt cầu. Các nhà sản xuất buộc phải giảm giá để bán hết hàng tồn kho. Tuy nhiên, ở những khu vực không phải là vùng sản xuất chính như Đông Bắc, Vân Quý và các nơi khác, giá than vẫn ở mức cao. Các nhà máy sản xuất amoniac lỏng do chi phí tăng cao nên chỉ sử dụng nguyên liệu để đáp ứng nhu cầu của chính mình; một số nhà máy vẫn tiếp tục ngừng hoạt động. Do đó, giá bán vẫn tiếp tục tăng nhẹ. Thứ hai, là tác động “lây lan” từ xu hướng suy yếu của urea. Theo thông tin từ thị trường, tình hình xuất khẩu urê với giá thấp từ các khu vực Sơn Tây và Nội Mông đã có dấu hiệu cải thiện. Giá urê ở khu vực Tân Cương chỉ tăng nhẹ; ví dụ, giá urê của công ty Hua Jin ở Tân Cương chỉ tăng 70 nhân dân tệ mà thôi. Giá bán khi xuất khẩu vẫn có thể được thương lượng. Những nguồn cung urê giá rẻ này đã làm giảm mức giá urê trên thị trường. Ngoài ra, do ảnh hưởng từ các cuộc kiểm tra về môi trường, một số nhà máy sản xuất ván dán và phân bón hỗn hợp đã giảm lượng urê mua vào. Một số chuyên gia cho rằng tình hình thị trường urê có thể sẽ tiếp tục suy yếu, và khả năng phục hồi trong thời gian ngắn là không cao. So với urê, amoniac lỏng vẫn mang lại lợi nhuận cao hơn và có ưu thế rõ rệt. Sau khi cân nhắc các ưu và nhược điểm, một số nhà sản xuất vẫn chọn sản xuất amoniac lỏng nhiều hơn khi điều kiện cho phép. Một lần nữa, sự thận trọng trong việc mua hàng từ các đối tác ở khâu hậu cần. Hiện tại, các doanh nghiệp hóa chất vẫn duy trì mức mua nhập amoniac lỏng ổn định. Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng amoniac lỏng của các doanh nghiệp này so với các doanh nghiệp sản xuất phân bón thì không cao lắm; tỷ lệ giữa hai loại này khoảng 3:7. Các doanh nghiệp sản xuất phân bón chủ yếu tập trung vào việc sản xuất phân đạm, phân lân và phân hỗn hợp. Trong đó, thị trường phân đạm vẫn còn ở mức yếu kém; phân lân thì bị hạn chế sản xuất do các quy định về bảo vệ môi trường; còn việc dự trữ phân hỗn hợp vào mùa đông cũng diễn ra chậm chạp. Tình hình kinh doanh của cả ba loại phân bón này đều không tốt, tỷ lệ hoạt động của các nhà máy cũng khá thấp – theo thống kê của Trang thông tin về phân bón, tỷ lệ này lần lượt chỉ là 50%, 41–51% và 55%. Do đó, người ta có xu hướng né tránh việc sử dụng amoniac lỏng giá cao; cách mua hàng chủ yếu là mua theo nhu cầu thực tế, điều này khiến việc tiêu thụ amoniac lỏng bị chậm lại. Tổng kết lại, mặc dù thị trường amoniac lỏng có những diễn biến khác nhau, nhưng xét về các yếu tố nêu trên, các yếu tố tiêu cực ngày càng gia tăng và phạm vi ảnh hưởng cũng ngày mở rộng. Do đó, có khả năng giá cả sẽ tiếp tục giảm. (Tan Junying)
Tình hình giá ure ở các khu vực trong nước Tác giả/Nguồn: Trang web Hóa chất Trung Quốc Ngày đăng: 06/12/2016 Tỷ lệ nhấp vào trang: 27 Do việc bán hàng không mấy thuận lợi, giá ure ở các tỉnh như Sơn Đông, Lianghe, Sơn Tây và Giang Tô vẫn tiếp tục giảm nhẹ kể từ cuối tuần trước. So với cuối tuần trước: Có một lượng nhỏ urê giá rẻ từ các tỉnh khác được vận chuyển đến khu vực Sơn Đông. Hầu hết các nhà sản xuất cho biết tình hình các đơn hàng mới khá ổn định; mức giá bán ra trung bình là khoảng 1430 nhân dân tệ mỗi tấn. Tuy nhiên, một số nhà sản xuất có các đơn hàng sắp được giao thì mức giá của họ cao hơn khoảng 10–30 nhân dân tệ ; Ở khu vực hai con sông, cũng có một lượng nhỏ urê từ Sơn Tây và Nội Mông được vận chuyển đến đây. Do đó, lượng hàng hóa trên thị trường tăng lên một chút. Vì vậy, giá bán của các nhà sản xuất ở Hà Bắc lại giảm thêm 20–30 nhân dân tệ, xuống còn 1420–1450 nhân dân tệ. Giá giao dịch thường nằm trong khoảng… (Chi tiết xem mục dành cho thành viên; tương tự ở các khu vực khác). Còn ở Hà Nam, giá bán của các nhà sản xuất cũng giảm 20–30 nhân dân tệ, xuống còn 1440–1460 nhân dân tệ…… ; Tình hình vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt ở khu vực Sơn Tây vẫn còn căng thẳng; nhiều nhà sản xuất tại đây gặp áp lực lớn về mặt tồn kho. Gần đây, tình hình vận chuyển bằng đường bộ có phần cải thiện, vì vậy việc vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ trở thành phương thức chính. Giá bán hàng hóa giảm khoảng 50–100 nhân dân tệ, nên mức giá hiện tại dao động từ 1350–1450 nhân dân tệ. Còn giá bán hàng hóa tại chỗ thì vẫn ổn định ở mức 1280–1340 nhân dân tệ ; Do sự giảm giá tại khu vực Sơn Đông, một số nhà sản xuất ở tỉnh Giang Tô nằm gần khu vực này cũng hạ giá bán xuống 40 nhân dân tệ. Giá bán ra thị trường của các nhà sản xuất này cũng giảm 40 nhân dân tệ, còn từ 1480–1590 nhân dân tệ ; Mức giá bán ra chính thức tại khu vực An Huy hiện vẫn ở mức 1500–1550 nhân dân tệ; hầu hết các nhà sản xuất đều cho biết như vậy… Nhìn chung, tỷ lệ hoạt động của các nhà máy sản xuất urea vẫn ở mức thấp. Trong khi đó, các yếu tố tích cực liên quan đến xuất khẩu vẫn rất ít. Các đại lý trong nước chủ yếu chọn cách chờ đợi tình hình phát triển. Số lượng đơn hàng mới cũng không mấy khả quan. Tuy nhiên, tình hình xuất khẩu urea với giá thấp có phần cải thiện đôi chút; lượng cung trên thị trường cũng tăng lên một chút. Dự kiến, giá urea ở một số khu vực sẽ tiếp tục giảm nhẹ trong thời gian tới. Nếu có bất kỳ phần nào trong các dữ liệu phân tích và thông tin thị trường trên trang web này mà bạn muốn tìm hiểu sâu hơn, vui lòng gọi đến số điện thoại tư vấn: 0451-88001128.
Thông tin về tình hình thị trường theo khu vực:
Đơn vị tính: nhân dân tệ/ton (urê hạt to được in đậm trong bảng)
Urea lên tới 1900? Đi-amoni tăng 200? Kali clorua giá 2050! Tác giả/Nguồn: Trang web Hóa chất Nông nghiệp Trung Quốc. Ngày đăng: 2016-12-05. Số lần xem: 23. Những ngày gần đây, trên mạng xã hội WeChat liên tục xuất hiện những thông tin về việc giá urê tăng lên mức 1900; điều này không phải là chuyện vô căn cứ! ”, cái gì “do Yun Tianhua dẫn đầu… giá (ammonium dihydrogen phosphate) dự kiến tăng 200 nhân dân tệ!” ”, Cái gì mà “Phân kali ở Tây Tạng đang khóc!” ”……Gần đây giá phân bón tăng vọt đến mức ngay cả những phương tiện truyền thông vốn rất nghiêm túc cũng không kiềm chế được mà viết những tiêu đề phóng đại! Tác giả cũng muốn góp phần vào cuộc thảo luận này, chia sẻ một vài quan điểm tương đồng và khác biệt về thị trường phân kali. Urea lên tới 1900 nhân dân tệ? Ngay cả khi có khả năng, thì đó cũng chỉ là một giấc mơ xa vời mà thôi. Điạm nhị natri tăng 200 nhân dân tệ? Vài ngày nữa sẽ rõ thôi. Kali clorua giá 2050 nhân dân tệ? Được rồi, đó đã là sự thật rồi! Dữ liệu từ Trang web Phân bón Trung Quốc cho thấy, hiện tại ở thị trường cảng trong nước, mức giá cao của loại kali clorua chiếm 62% tổng lượng phân bán ra đã lên tới 2050 nhân dân tệ! Một số nhà bán lẻ đã ngừng bán sản phẩm này, và cho biết mức giá dự kiến để bán trong tương lai cũng là 2050 nhân dân tệ! Hãy cùng lắng nghe lý do mà các nhà buôn đưa ra: Đầu tiên, việc vận chuyển kali sản xuất tại Qinghai gặp phải những khó khăn hiếm có; cho đến nay vẫn chưa có thời điểm cụ thể nào để khôi phục lại tình hình. Điều này khiến tình trạng cung vượt cầu ban đầu dần chuyển thành tình trạng khan hiếm nguồn cung. Đây chính là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc giá phân bón kali tăng cao, đồng thời cũng là yếu tố thúc đẩy giá tiếp tục tăng trong tương lai. Thứ hai, sự biến động của tỷ giá hối đoái đã khiến chi phí tăng lên đáng kể. Trong bối cảnh các nhà sản xuất lớn trên thế giới ngày càng áp dụng các biện pháp hạn chế sản xuất để duy trì mức giá ổn định, mặc dù tình hình thị trường quốc tế vẫn ổn định trong thời gian dài, nhưng kỳ vọng về việc giá các hợp đồng lớn tại nước ta sẽ tăng vẫn tiếp tục gia tăng. Người ta cho rằng, thậm chí các nhà cung cấp nước ngoài còn từ chối cung cấp hàng hóa cho nước ta. Một lần nữa, xét về lượng hàng tồn kho tại cảng hiện tại cũng như dự báo về lượng hàng sẽ đến trong tương lai, thì nguồn cung của loại bột trắng khá khan hiếm. Vì vậy, giá của nó sẽ cao hơn. Hơn nữa, bột trắng vốn là loại hàng có nhu cầu rất lớn. Cuối cùng, một mặt do khó khăn trong việc vận chuyển, chi phí vận chuyển cao, giá than, điện, khí đốt tiếp tục tăng, cùng với áp lực bảo vệ môi trường và tình trạng xuất khẩu gặp trở ngại tạm thời, nên tỷ lệ hoạt động của các nhà máy sản xuất urê vẫn ở mức thấp. Tỷ lệ hoạt động của các nhà máy sản xuất phân lân và phân kali cũng không cao. Mặt khác, sự quan tâm đến việc dự trữ phân bón vào mùa đông giảm sút, thị trường có xu hướng ưu tiên hàng hóa có sẵn, nhưng điều này lại dẫn đến tình trạng thiếu hàng ở các khâu tiêu thụ. Do đó, giá phân bón vốn đã không cao, rất có thể sẽ tăng mạnh khi thị trường bắt đầu hoạt động trở lại vào mùa xuân tới, do nhu cầu mua hàng tăng cao và khó khăn trong việc vận chuyển hàng hóa. Những lý do này khá thuyết phục; ít nhất là vào thời điểm hiện tại, xu hướng phát triển của thị trường kali clorua trong tương lai có lẽ sẽ như vậy. Mặc dù ở nhiều cảng, giá của loại bột trắng 62% vẫn ở mức 1950 nhân dân tệ, nhưng xét về xu hướng chung, khả năng giá kali clorua giảm là rất thấp; ngược lại, giá có thể sẽ tiếp tục tăng. Tuy nhiên, trên thị trường vẫn còn nhiều ý kiến do dự và hoài nghi. Tác giả xin tổng kết ngắn gọn những ý kiến này để mọi người có thể cân nhắc kỹ lưỡng hơn. Trong việc xử lý vấn đề này, tốt nhất là nên tìm ra giải pháp tốt nhất có thể. Thứ nhất, vấn đề vận chuyển thực sự rất khó đoán. Có người cho rằng sau Ngày Giáng sinh, khi hệ thống đường sắt áp dụng kế hoạch vận chuyển mới, mọi thứ sẽ được khôi phục trở lại. Cũng có người cho rằng mọi thứ có lẽ sẽ chỉ được cải thiện sau mùa cao điểm vào mùa xuân. Nhưng dù sao thì đó cũng chỉ là suy đoán của mọi người thôi; quyết định cuối cùng vẫn thuộc về ban quản lý đường sắt. Tuy nhiên, nếu những phản ứng từ các doanh nghiệp liên quan và dư luận từ giới truyền thông thực sự được chú ý, thì mọi thứ sẽ có phần cải thiện, và điều đó sẽ giúp giảm bớt áp lực về việc tăng giá. Thứ hai, việc giá quốc tế khó có thể tăng lên cũng có những nguyên nhân cố hữu. Hơn nữa, dù không còn khái niệm “vùng giá thấp” nữa, nhưng xét về bối cảnh các hợp đồng lớn được ký kết tại nước ta, vẫn chưa có tiền lệ nào cho thấy nước ta là bên dẫn đầu xu hướng tăng giá. Ngoài ra, sự biến động của tỷ giá hối đoái gần đây cũng có thể được coi là yếu tố giúp nước ta duy trì mức giá thấp. Các kho dự trữ quốc gia và các cơ sở sản xuất ở nước ngoài cũng là những yếu tố quan trọng mà chúng ta có thể sử dụng. Do đó, việc cho rằng giá phân kali sẽ tăng do các hợp đồng lớn là điều không hợp lý. Hơn nữa, các hợp đồng lớn cũng chưa chắc đã khiến giá tăng. Vì vậy, tác động của thị trường quốc tế đối với thị trường trong nước vẫn cần được xem xét dựa trên lượng hàng nhập khẩu trong thời gian tới, đặc biệt là lượng hàng nhập khẩu vào tháng 1 và tháng 2. Thứ ba, cái gọi là “tình trạng căng thẳng” thực ra chẳng có cơ sở nào cả. Trong bối cảnh thị trường thuộc về người bán, việc nói rằng có tình trạng căng thẳng chỉ là lời nói suông mà thôi; hoàn toàn không thể chứng minh được điều đó ; Ảnh hưởng từ bối cảnh chung rất quan trọng, nhưng yếu tố then chốt vẫn là nguồn cung và nhu cầu trong nước. Khả năng giá tăng mạnh vào mùa xuân tới là rất cao, nhưng khả năng giá giảm nhanh cũng không nhỏ, trừ khi tỷ lệ hoạt động sản xuất tiếp tục ở mức thấp, việc vận chuyển gặp khó khăn, hoặc giá lương thực tăng mạnh và xuất khẩu có sự cải thiện rõ rệt. Tóm lại, thị trường luôn thay đổi, việc đẩy giá lên cũng cần phải có chừng mực. Những biến động đột ngột theo kiểu “trả đũa” sẽ gây tổn hại cho cả hai bên. Thị trường không ngăn cản việc giao dịch, nhưng con người vẫn cần phải hành động một cách có lý trí. Trước tình hình giá phân kali vẫn có xu hướng tăng, cùng với thị trường phân bón vẫn duy trì mức tăng trong giai đoạn không phải mùa vụ, cách làm an toàn nhất vẫn là nên chọn mua vào lúc giá thấp, giao dịch nhiều lần, kiểm soát số lượng mua và tránh hành động một cách vội vã. (Ado)
Bộ Thương mại: Giá phân bón tăng 0,3% trong tuần trước Tác giả/Nguồn: Ngày đăng: 2016-12-07 Tỷ lệ nhấp: 6 Theo thông tin từ Bộ Thương mại, trong tuần trước (từ ngày 28 tháng 11 đến ngày 4 tháng 12), chỉ số giá các sản phẩm nông nghiệp dùng để tiêu dùng trên toàn quốc tăng 0,4% so với tuần trước đó; còn chỉ số giá các nguyên vật liệu dùng trong sản xuất thì tăng 1%. Thị trường nông sản ăn được: Giá trung bình của 30 loại rau củ tăng 0,2% so với tuần trước. Trong đó, giá bí ngô, súp lơ trắng và bông cải xanh lần lượt tăng 9,9%, 6,8% và 5,3%. Giá dầu ăn có sự tăng nhẹ; trong đó, giá dầu đậu nành và dầu cải lần lượt tăng 1% và 0,8%, còn giá dầu đậu phộng thì vẫn ở mức như tuần trước. Giá lương thực nói chung ổn định, trong đó giá gạo giữ nguyên so với tuần trước, còn giá bột mì tăng 0,3%. Giá thịt có sự biến động nhẹ; trong đó, giá thịt lợn và thịt bò đều giảm 0,1%, còn giá thịt cừu thì tăng 1,9%. Giá trung bình của các sản phẩm thủy sản giảm 0,1%. Cụ thể, giá cá chép, cá trắm và cá chình lần lượt giảm 1,4%, 0,7% và 0,3%. Giá trứng gia cầm có chút biến động; trong đó, giá trứng gà và trứng vịt giảm lần lượt 0,5% và 0,4%, còn giá trứng gà trắng thì tăng 0,1%. Thị trường tư liệu sản xuất: Giá thép tăng 2,6% so với tuần trước; trong đó, giá thép cuộn, thép tấm thông thường và dây thép tốc độ cao lần lượt tăng 3,1%, 3% và 2,8%. Giá cao su tăng 1,8%, trong đó giá cao su tổng hợp và cao su thiên nhiên lần lượt tăng 2,3% và 1,3%. Giá các nguyên liệu hóa chất cơ bản tăng 1,7%. Trong đó, giá của cao lanh kiềm, metanol, soda thô, benzen tinh khiết và axit sunfuric lần lượt tăng 3%, 2,4%, 2,3%, 1,3% và 0,3%. Giá than tăng 1%, trong đó giá than dùng để phát điện, than không khói và than dùng để luyện cốc lần lượt tăng 1,1%, 1,1% và 0,6%. Giá phân bón tăng 0,3%, trong đó giá urê tăng 0,6%. Giá kali clorua, amoni photphat và phân bón hỗn hợp ba thành phần vẫn ở mức như tuần trước. Giá các loại kim loại màu giảm 1%, trong đó giá nhôm, niken và thiếc lần lượt giảm 4,5%, 3,9% và 1,9%. Ngược lại, giá chì, kẽm và đồng lại tăng lần lượt 5,3%, 0,6% và 0,2%. (Trang web Bộ Thương mại)