Thread Content
01. Quá trình cháy có thể được chia thành cháy có lửa và cháy không lửa. Để quá trình cháy xảy ra và phát triển, cần có ba điều kiện thiết yếu: chất dễ cháy, chất oxi hóa (chất giúp cháy), và nhiệt độ (nguồn kích hoạt cháy). 02、Các nguồn gây cháy phổ biến: lửa trực tiếp, tia lửa điện, tia sét, nhiệt độ cao, các nguồn gây cháy tự phát (phốt pho trắng, axit alkylic nhôm có thể tự bốc cháy trong không khí) ; Các kim loại như kali, natri… sẽ bốc cháy khi tiếp xúc với nước ; Chất dễ cháy, chất có thể bắt lửa khi tiếp xúc với chất oxi hóa, peroxide, v.v.). 03. Điểm cháy càng thấp, mức độ nguy hiểm của hỏa hoạn càng cao; ngược lại thì mức độ nguy hiểm sẽ giảm. Điểm bắt lửa có liên quan đến áp suất hơi bão hòa của chất lỏng dễ cháy; áp suất hơi bão hòa càng cao thì điểm bắt lửa càng thấp. Khi nhiệt độ của chất lỏng cao hơn điểm bốc cháy của nó, chất lỏng có thể bị đốt cháy bởi nguồn lửa hoặc tự bốc cháy. Ngược lại, nếu nhiệt độ của chất lỏng thấp hơn điểm bốc cháy, thì chất lỏng sẽ không bị bốc cháy, chứ đừng nói đến việc bùng cháy. 04. Điểm bốc cháy của xăng là -50℃, còn của dầu hỏa thì nằm trong khoảng 38–74℃. Dựa vào mức điểm bốc cháy này, người ta có thể xác định mức độ nguy cơ cháy nổ tại các nơi sản xuất, chế biến và lưu trữ các chất lỏng dễ cháy. Những nơi có điểm bốc cháy < 28℃ được xếp vào nhóm A ; Những chất có điểm bốc cháy từ ≥28℃ đến <60℃ thuộc nhóm B ; Những chất có điểm bắt lửa ≥ 60℃ thuộc nhóm C. 05. Điểm cháy của các chất lỏng dễ cháy thường cao hơn điểm bốc cháy của chúng từ 1–5°C. Ngược lại, càng có điểm bốc cháy thấp thì khoảng cách này càng nhỏ. Đặc biệt, trong các thùng chứa mở, rất khó để phân biệt được điểm bốc cháy và điểm cháy của chất lỏng đó. Do đó, khi đánh giá mức độ nguy hiểm của các loại chất lỏng trong trường hợp xảy ra hỏa hoạn, người ta thường sử dụng điểm bốc cháy. 06. Điểm cháy càng thấp, nguy cơ xảy ra hỏa hoạn càng lớn. 07. Phương thức đốt cháy khí được chia thành đốt cháy khuếch tán (như dùng khí đốt để nấu ăn, chiếu sáng, hàn kim loại bằng khí đốt, v.v.) và đốt cháy trộn sẵn (như quá trình đốt cháy trong đèn dầu). 08、Đốt cháy của chất lỏng: Cháy bùng (nhiệt độ tối thiểu), trào ra ngoài, bắn tung tóe. 09、Trong trường hợp thông thường, hiện tượng trào sôi xảy ra sớm hơn nhiều so với hiện tượng bắn tung tóe. Thời điểm xảy ra hiện tượng sôi tràn phụ thuộc vào loại dầu thô và hàm lượng nước trong đó. Theo thí nghiệm, dầu mỏ chứa 1% hàm lượng nước sẽ bị sôi trào sau khi được đốt trong khoảng 45–60 phút. Thời điểm xảy ra hiện tượng bắn tung tóe phụ thuộc vào độ dày của lớp dầu, tốc độ di chuyển của sóng nhiệt, cũng như tốc độ cháy của dầu. 10. Đốt cháy rắn: đốt cháy do bay hơi, đốt cháy do phân hủy, đốt cháy bề mặt, đốt cháy kiểu khói (đốt cháy âm ỉ), đốt cháy do năng lượng (nổ). 11. Các sản phẩm của quá trình đốt cháy hoàn toàn là những chất được tạo thành khi C trong chất dễ cháy bị oxy hóa thành CO2 (khí), H bị oxy hóa thành H2O (chất lỏng), còn S thì bị oxy hóa thành SO2 (khí). 12. Các sản phẩm của quá trình đốt cháy không hoàn toàn bao gồm CO, NH3, các loại rượu, aldehyde, ether, v.v. 13. Điểm sôi của các kim loại dễ bay hơi thường thấp hơn điểm nóng chảy của các oxit của chúng (trừ kali). Còn đối với các kim loại không dễ bay hơi, điểm nóng chảy của các oxit lại thấp hơn điểm sôi của chính kim loại đó. 14. Nguy hiểm từ các sản phẩm cháy: Độ độc và khả năng làm giảm độ sáng. Bước sóng của ánh sáng nhìn thấy thông thường nằm trong khoảng 0,4–0,7 μm. Kích thước của các hạt khói trong khói cháy thường nằm trong khoảng vài μm đến vài chục μm. Vì d > 2λ, nên các hạt khói này ngăn cản ánh sáng nhìn thấy đi xuyên qua chúng. 15. Cháy loại A: Cháy vật chất rắn ; Cháy loại B: Cháy do chất lỏng hoặc chất rắn có thể nóng chảy gây ra. Như các vụ hỏa hoạn do xăng, dầu hỏa, dầu thô, metanol, ethanol, nhựa đường, sáp ong gây ra, v.v ; Loại hỏa hoạn C: Hỏa hoạn do khí gây ra ; Cháy loại D: Cháy kim loại ; Cháy loại E: Cháy do điện ; Cháy loại F: Cháy do các chất dùng trong quá trình nấu nướng, như dầu mỡ từ động vật và thực vật. 16. Phân loại theo mức độ thiệt hại do tai nạn hỏa hoạn gây ra: (1) Hỏa hoạn cực kỳ nghiêm trọng: Là những vụ hỏa hoạn gây ra cái chết cho 30 người trở lên, hoặc khiến 100 người trở lên bị thương nặng, hoặc gây thiệt hại về tài sản trực tiếp lên đến 100 triệu nhân dân tệ ; (2) Hỏa hoạn nghiêm trọng: Là những vụ hỏa hoạn gây ra cái chết cho từ 10 đến 30 người, hoặc khiến từ 50 đến 100 người bị thương nặng; đồng thời gây thiệt hại về tài sản trực tiếp từ 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng ; (3) Cháy lớn: Là những vụ cháy gây ra cái chết cho từ 3 đến 10 người, hoặc khiến từ 10 đến 50 người bị thương nặng; hoặc gây thiệt hại về tài sản trực tiếp từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng ; (4) Cháy thông thường: Là những vụ cháy gây ra cái chết cho ít hơn 3 người, hoặc khiến ít hơn 10 người bị thương nặng, hoặc gây thiệt hại trực tiếp dưới 10 triệu nhân dân tệ. Chú thích: “Trên đây” bao gồm con số này; “Dưới đây” không bao gồm con số này. 16. Những nguyên nhân phổ biến gây ra hỏa hoạn: sự cố điện, hút thuốc, sử dụng lửa trong sinh hoạt một cách bất cẩn, sai sót trong quá trình sản xuất, hỏng hóc thiết bị, chơi đùa với lửa, cố ý đốt phá, sét đánh. 18. Có 3 cách truyền nhiệt: dẫn nhiệt, đối lưu nhiệt và bức xạ nhiệt. 19. Các yếu tố tạo ra lực thúc đẩy dòng khí thải bao gồm hiệu ứng ống khói do sự chênh lệch nhiệt độ giữa bên trong và bên ngoài, tác động của gió bên ngoài, cũng như ảnh hưởng từ hệ thống thông gió và điều hòa không khí. 20. Khi đám cháy mới bắt đầu, tốc độ lan truyền của khói theo hướng ngang là 0,3 m/s. Khi đám cháy diễn ra dữ dội hơn, tốc độ lan truyền của khói có thể lên tới 0,5–3,0 m/s ; Tốc độ lan truyền của khói qua các cầu thang hoặc các lỗ dẫn khí theo chiều dọc có thể đạt từ 3,0 đến 4,0 m/s. Tốc độ di chuyển của con người trên mặt phẳng khoảng 1,5–2,0 m/s, còn khi lên cầu thang thì tốc độ này vào khoảng 0,5 m/s. Tốc độ di chuyển lên cầu thang của con người **thấp hơn** tốc độ dòng khí chuyển động theo chiều thẳng đứng. Vì vậy, khi tòa nhà bị cháy, việc chạy lên tầng trên sẽ rất nguy hiểm. 21. Các giai đoạn phát triển của hỏa hoạn trong các tòa nhà: Giai đoạn phát triển ban đầu, giai đoạn phát triển mạnh, giai đoạn suy giảm. 22. Nguyên lý và phương pháp cơ bản để dập lửa: Làm mát, cô lập nguồn lửa, ngăn chặn sự oxy hóa (khi nồng độ oxy dưới 15%, việc duy trì quá trình cháy sẽ không thể xảy ra), và sử dụng chất hóa học để ức chế quá trình cháy (các chất dùng để dập lửa bằng phương pháp hóa học thường gồm bột khô và heptafluoropropane). 23. Để xảy ra vụ nổ do bụi cháy, cần có ba điều kiện: thứ nhất là bụi đó phải có tính chất dễ nổ; thứ hai là bụi phải lơ lửng trong không khí và hòa trộn với không khí ở nồng độ có thể gây nổ; thứ ba là phải có nguồn lửa đủ mạnh để kích hoạt vụ nổ. 24. Các đặc điểm của vụ nổ bụi chủ yếu bao gồm những điểm sau: (1) Đặc điểm nổi bật nhất của vụ nổ bụi là tính liên tục của các vụ nổ. Vụ nổ ban đầu sẽ làm bay lên lớp bụi tồn tại ở dưới mặt đất; từ đó tạo ra thêm các hỗn hợp dễ nổ trong không gian mới, dẫn đến việc xảy ra thêm các vụ nổ nữa ; (2) Năng lượng kích hoạt tối thiểu cần thiết để gây ra vụ nổ bụi khá cao; thường ở mức vài chục milijoule trở lên. Hơn nữa, việc đốt cháy bề mặt nóng cũng rất khó khăn ; (3) So với vụ nổ của khí dễ cháy, áp suất trong vụ nổ do bụi tăng lên một cách chậm rãi; áp suất cao này kéo dài trong thời gian lâu hơn. Năng lượng được giải phóng cũng lớn hơn, khiến sức phá hoại của vụ nổ càng mạnh hơn. 25. Độ ẩm trong không khí càng cao, năng lượng cần thiết để kích hoạt bụi cũng càng lớn ; Khi hàm lượng oxy tăng lên, phạm vi nồng độ gây nổ cũng mở rộng ra ; Khi có khí dễ cháy tồn tại trong môi trường có bụi, nó sẽ **tăng nguy cơ xảy ra vụ nổ do bụi**. 26. Các chất khác nhau có giới hạn nổ khác nhau do sự khác biệt về tính chất vật lý và hóa học của chúng ; Ngay cả với cùng một chất, giới hạn nổ của nó cũng sẽ khác nhau tùy theo các điều kiện bên ngoài. Nếu giới hạn nổ trong oxy rộng hơn so với trong không khí, thì giá trị giới hạn dưới sẽ giảm. 27. Năng lượng của nguồn lửa dùng để đốt cháy hỗn hợp khí càng lớn, thì phạm vi giới hạn nổ của hỗn hợp khí đó càng rộng, và mức độ nguy hiểm khi xảy ra vụ nổ cũng càng cao. 28. Áp suất ban đầu của hỗn hợp khí tăng lên, khiến phạm vi xảy ra vụ nổ mở rộng và mức độ nguy hiểm do vụ nổ cũng tăng lên. Đáng chú ý là, ở trạng thái hỗn hợp giữa khí carbon monoxide khô và không khí, khi áp suất tăng lên, phạm vi ngưỡng nổ của hỗn hợp này sẽ giảm đi. 29. Nhiệt độ ban đầu của hỗn khí càng cao, phạm vi giới hạn nổ của hỗn khí càng rộng, và mức độ nguy hiểm do vụ nổ gây ra cũng càng lớn. 30. Khi thêm khí trơ vào hỗn hợp cháy được, phạm vi giới hạn nổ sẽ bị thu hẹp lại; giới hạn trên thường giảm xuống, còn giới hạn dưới thì có sự thay đổi khá phức tạp. Khi lượng khí trơ được thêm vào vượt quá một mức nhất định, thì dù kết hợp với bao nhiêu phần trăm khí khác đi nữa, cũng không thể tạo ra vụ nổ. 31. Khi nồng độ của khí hoặc hơi cháy trong hỗn hợp dễ nổ tăng lên, lượng nhiệt sinh ra do vụ nổ cũng tăng theo, đồng thời áp suất cũng tăng lên. Khi nồng độ của chất dễ cháy trong hỗn hợp tăng lên, vượt qua một chút so với nồng độ cần thiết theo tỷ lệ hóa học, chất dễ cháy sẽ phản ứng hoàn toàn với oxy trong không khí. Do đó, lượng nhiệt được giải phóng khi xảy ra vụ nổ sẽ rất lớn, và áp suất tạo ra cũng sẽ rất cao. Khi nồng độ chất dễ cháy trong hỗn hợp vượt quá nồng độ theo tỷ lệ hóa học, lượng nhiệt được giải phóng trong vụ nổ và áp suất do vụ nổ tạo ra sẽ giảm dần khi nồng độ chất dễ cháy tăng lên. 32. Các nguồn lửa thường gây ra vụ nổ chủ yếu bao gồm nguồn lửa cơ học, nguồn lửa nhiệt, nguồn lửa điện và nguồn lửa hóa học. 33. Năng lượng kích nổ tối thiểu cần thiết để làm cho ** hoạt động, chính là mức độ nhạy của ** đó. 02. Khí dễ cháy là những khí mà ở nhiệt độ 20℃ và áp suất tiêu chuẩn 101,3 kPa, giới hạn dưới của ngưỡng nổ ≤ 13% (về thể tích), hoặc phạm vi cháy không nhỏ hơn 12 điểm phần trăm (đó là khoảng cách giữa giới hạn trên và giới hạn dưới của nồng độ gây nổ). 34. Các khí dễ cháy được chia thành hai loại. Cấp I: Giới hạn dưới của sự nổ < 10% ; Hoặc, bất kể giá trị ngưỡng nổ thấp nhất là bao nhiêu, thì phạm vi ngưỡng nổ vẫn ≥ 12 điểm phần trăm ; Cấp độ II: 10% ≤ giới hạn dưới của sự nổ < 13%, và khoảng cách giữa các giới hạn nổ < 12 điểm phần trăm. Trong ứng dụng thực tế, các loại khí có giới hạn nổ dưới 10% thường được xếp vào nhóm chất gây cháy loại A, còn các loại khí có giới hạn nổ từ 10% trở lên thì được xếp vào nhóm chất gây cháy loại B. 35. Nhìn chung, các loại khí được tạo thành từ những thành phần đơn giản, như hydro (H2), thì dễ cháy hơn so với các loại khí được tạo thành từ những thành phần phức tạp như metan (CH4), carbon monoxide (CO), v.v. Các loại khí này có tốc độ cháy nhanh, nhiệt độ ngọn lửa cao, và nguy cơ xảy ra cháy nổ cũng lớn hơn. 36. Các khí dễ cháy có liên kết hóa học không bão hòa thì có mức độ nguy hiểm khi xảy ra hỏa hoạn cao hơn so với các khí dễ cháy có liên kết hóa học đã bão hòa. 37. Đối với các khí dễ cháy, khi áp suất không thay đổi, nhiệt độ của khí tỷ lệ thuận với thể tích của nó ; Khi nhiệt độ không thay đổi, thể tích của khí tỷ lệ nghịch với áp suất; tức là áp suất càng lớn thì thể tích càng nhỏ ; Khi thể tích không đổi, nhiệt độ của khí tỷ lệ thuận với áp suất; nghĩa là càng tăng nhiệt độ thì áp suất càng tăng. 38. Trong khí, càng có nhiều tạp chất dạng lỏng hoặc rắn, thì trong hầu hết các trường hợp, lượng điện tích tĩnh điện được tạo ra cũng sẽ càng nhiều ; Tốc độ dòng khí càng nhanh, lượng điện tích tĩnh điện được tạo ra cũng càng nhiều. 39. Sử dụng thép hợp kim có áp suất cao, chứa một lượng nhất định các kim loại quý như crôm, molybdenum để chế tạo vật liệu; đồng thời kiểm tra định kỳ độ bền chịu áp suất của chúng. 40. Các chất lỏng dễ cháy được chia thành ba cấp độ. (1) Cấp độ I. Nhiệt độ sôi ban đầu ≤35℃ ; (2) Loại II. Điểm bắt lửa < 23℃, và điểm sôi ban đầu lớn hơn 35℃ ; (3) Loại III. 23℃ ≤ điểm bốc cháy ≤ 35℃, và điểm sôi ban đầu lớn hơn 35℃ ; Hoặc điểm cháy lớn hơn 35℃ và ≤60℃, điểm sôi ban đầu lớn hơn 35℃ và vẫn tiếp tục cháy. Trong thực tế, các chất lỏng có điểm bốc cháy < 28℃ thường được xếp vào nhóm chất dễ gây cháy loại A. Còn các chất lỏng có điểm bốc cháy từ 28℃ trở lên nhưng dưới 60℃ thì được xếp vào nhóm chất dễ gây cháy loại B