Quy định về việc xác định, xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thầu và nhận thầu công trình xây dựng (Dự thảo để lấy ý kiến) Điều 1: Nhằm quy chuẩn hoạt động giao thầu và nhận thầu trong lĩnh vực xây dựng, đảm bảo chất lượng công trình và an toàn trong quá trình thi công, ngăn chặn hiệu quả các hành vi vi phạm như giao thầu trái phép, chuyển giao thầu trái phép, phân chia thầu trái phép, cũng như các hành vi khác liên quan, từ đó bảo vệ trật tự thị trường xây dựng và quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia vào dự án xây dựng. Các quy định này được ban hành dựa trên các luật pháp như “Luật Xây dựng”, “Luật Đấu thầu”, “Luật Hợp đồng”, cùng với các quy định liên quan đến quản lý chất lượng công trình xây dựng, quản lý an toàn lao động trong xây dựng, và các quy định thi hành Luật Đấu thầu, kết hợp với thực tiễn hoạt động xây dựng. Điều 2: Các công trình xây dựng được đề cập trong quy định này là các công trình xây dựng nhà ở và các công trình cơ sở hạ tầng đô thị. Điều 3: Bộ Xây dựng và Phát triển Đô thị chịu trách nhiệm giám sát và quản lý một cách thống nhất việc xác định, điều tra các hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thầu và nhận thầu các công trình xây dựng trên toàn quốc. (Ghi chú: Nội dung gốc của “Quy định về việc xác định, điều tra và xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực thi công công trình xây dựng như giao thầu trái phép, chuyển giao thầu trái phép, v.v. (thử nghiệm)” – sau đây gọi là “nội dung gốc”) là: “Bộ Xây dựng và Phát triển Đô thị chịu trách nhiệm giám sát và quản lý toàn quốc đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực thi công công trình xây dựng, bao gồm việc giao thầu trái phép, chuyển giao thầu trái phép, v.v.” ”Các cơ quan chuyên trách về xây dựng nhà ở và phát triển đô thị ở các cấp huyện trở lên chịu trách nhiệm cụ thể trong việc xác định và xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến việc giao thầu và nhận thầu các công trình xây dựng trong khu vực mình quản lý. (Ghi chú: Đoạn văn gốc là “Các cơ quan quản lý xây dựng nhà ở và phát triển đô thị thuộc cấp huyện trở lên chịu trách nhiệm xác định và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến việc giao thầu trái phép, chuyển giao công việc thầu trái phép, phân chia công việc thầu trái phép, cũng như các hành vi khác trong lĩnh vực xây dựng trong khu vực mình quản lý.”) ”Các hành vi vi phạm liên quan đến việc giao thầu và nhận thầu được nêu trong phương thức này cụ thể là các hành vi như giao thầu trái pháp luật, chuyển giao thầu trái pháp luật, phân chia thầu trái pháp luật, cũng như việc sử dụng tên người khác để nhận thầu. (Ghi chú: Thêm vào) Điều 4: Hành vi giao thầu trái pháp luật được quy định trong các quy định này là việc chủ đầu tư giao công trình cho những đơn vị hoặc cá nhân không có đủ năng lực thực hiện công việc đó; việc chia nhỏ công trình để giao cho nhiều bên; việc giao thầu trực tiếp một cách trái pháp luật; hoặc việc vi phạm các quy trình giao thầu theo quy định của pháp luật. Điều 5: Trong một trong các trường hợp sau đây, việc giao thầu sẽ được coi là vi phạm pháp luật: (1) Chủ đầu tư giao công trình cho cá nhân ; (II) Đơn vị xây dựng giao công trình cho các đơn vị thi công không có đủ năng lực hoặc chưa có giấy phép hoạt động an toàn trong lĩnh vực xây dựng ; (III) Việc giao thầu trực tiếp một cách trái pháp luật, tức là việc không tuân thủ các thủ tục theo quy định của pháp luật; bao gồm trường hợp không tiến hành đấu thầu nhưng theo quy định lại phải tiến hành đấu thầu; hoặc trường hợp không nộp đơn xin giao thầu trực tiếp mà theo quy định lại phải nộp đơn, hoặc đơn xin đó không được chấp thuận ; (IV) Không thực hiện đúng các thủ tục giao thầu theo quy định của pháp luật, bao gồm việc không công bố thông báo mời thầu theo đúng quy định, không thực hiện các thủ tục phê duyệt cần thiết trước khi giao thầu theo quy định pháp luật, hoặc sử dụng hình thức mời thầu nhưng lại không thực hiện các thủ tục phê duyệt cần thiết ; ((III) (IV)) là những trường hợp không tuân thủ các thủ tục giao thầu theo quy định pháp luật; cụ thể là việc không tiến hành đấu thầu theo đúng quy định, hoặc không nộp đơn xin giao thầu trực tiếp, hoặc nộp đơn nhưng không được chấp thuận ; ”(5) Đơn vị tổ chức thực hiện dự án đặt ra những điều kiện đấu thầu không hợp lý, từ đó hạn chế hoặc loại trừ các nhà tham gia đấu thầu tiềm năng ; (6) Đơn vị xây dựng chia công việc xây dựng một dự án thành nhiều phần khác nhau, sau đó giao chúng cho các đơn vị thầu tổng thể hoặc các đơn vị thầu chuyên ngành khác nhau để thực hiện ; (7) Đơn vị xây dựng vi phạm các điều khoản trong hợp đồng thi công; đồng thời, mà không có sự đồng ý của đơn vị nhận thầu, lại yêu cầu đơn vị nhận thầu chọn những đơn vị phụ trợ do chính họ chỉ định ; (Ghi chú: Đối với nội dung của các mục thứ 6 và 7 trong văn bản gốc: “Đơn vị thi công lại tiếp tục giao các công trình hoặc các hạng mục công việc thuộc phạm vi hợp đồng thi công cho các bên khác.”) ; ”“Đơn vị xây dựng vi phạm các điều khoản trong hợp đồng thi công, bằng nhiều cách khác nhau buộc đơn vị thầu phải chọn những đơn vị phụ trợ do họ chỉ định ; ”(sự sáp nhập) (8) Các hành vi giao thầu trái pháp luật khác theo quy định của pháp luật. Điều 6: Thuật ngữ “chuyển giao công việc” trong quy định này có nghĩa là hành vi mà trong đó, đơn vị thực hiện công trình, sau khi nhận được gói thầu, không thực hiện các nghĩa vụ và trách nhiệm được quy định trong hợp đồng. Thay vào đó, họ chuyển toàn bộ công việc mà mình được giao cho các đơn vị hoặc cá nhân khác để thực hiện, dưới dạng chia nhỏ công việc thành các gói nhỏ. Điều 7: Trong trường hợp có một trong các tình huống sau đây, thì sẽ được coi là hành vi chuyển giao công việc cho bên khác; tuy nhiên, nếu có bằng chứng chứng minh rằng đó là hành vi “đăng ký giả mạo” hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác thì không tính vào trường hợp này: (1) Đơn vị tổng thầu xây dựng hoặc đơn vị thầu chuyên ngành không thành lập cơ quan quản lý dự án tại hiện trường, hoặc không cử người phụ trách dự án, người phụ trách kỹ thuật, người phụ trách quản lý chất lượng, người phụ trách quản lý an toàn và các nhân viên quản lý chủ chốt khác; do đó, họ không thể thực hiện các nghĩa vụ quản lý, cũng như không thể tổ chức và quản lý các hoạt động xây dựng tại dự án đó ; (II) Đơn vị nhận thầu tổng thể hoặc đơn vị nhận thầu chuyên ngành không thực hiện các nghĩa vụ quản lý; họ chỉ thu phí từ đơn vị thi công thực tế. Việc mua sắm các vật liệu xây dựng chính, các bộ phận cấu thành công trình cũng như thiết bị thi công thì do các đơn vị hoặc cá nhân khác đảm nhiệm ; (III) Phạm vi công việc mà nhà thầu lao động đảm nhận chính là toàn bộ công trình mà đơn vị thầu tổng thể hoặc đơn vị thầu chuyên ngành đảm nhận. Nhà thầu lao động sẽ nhận được toàn bộ chi phí liên quan đến công trình, trừ đi khoản “phí quản lý” mà họ phải nộp cho đơn vị thầu tổng thể hoặc đơn vị thầu chuyên ngành ; (IV) Đơn vị thầu tổng thể hoặc đơn vị thầu chuyên ngành, thông qua việc hợp tác, liên doanh, hoặc thuê người khác để thực hiện công việc, mà trực tiếp hoặc gián tiếp chuyển toàn bộ công trình mà mình được giao cho các đơn vị hoặc cá nhân khác để thi công ; (5) Nếu đơn vị giao thầu công trình chuyên môn không phải là đơn vị tổng thầu xây dựng hoặc đơn vị thầu chuyên môn của công trình đó, thì trừ trường hợp đơn vị xây dựng đảm nhận vai trò là đơn vị giao thầu theo thỏa thuận ; (Ghi chú: Thêm vào) (VI) Đơn vị giao việc thầu phụ không phải là đơn vị tổng thầu xây dựng công trình này, cũng không phải là đơn vị thầu chuyên môn hay đơn vị thầu các hạng mục công việc được giao theo hình thức thầu phụ ; (Ghi chú: Thêm vào) (VII) Trong số các người đứng đầu dự án, người phụ trách kỹ thuật, người phụ trách quản lý chất lượng và người phụ trách quản lý an toàn mà đơn vị thi công cử đến hiện trường, có ít nhất một người không ký hợp đồng lao động với đơn vị thi công, hoặc chưa thiết lập mối quan hệ về lương thưởng hay bảo hiểm xã hội với đơn vị này ; (Ghi chú: Thêm vào) (8) Giữa đơn vị thực hiện công việc xây dựng tổng thể hoặc đơn vị thực hiện các hạng mục cụ thể và đơn vị phát đơn hàng không có mối quan hệ thanh toán tiền công trình; hoặc đơn vị được ghi trên giấy tờ thanh toán tiền công trình không trùng khớp với đơn vị được ghi trong hợp đồng xây dựng. Đồng thời, đơn vị đó cũng không thể đưa ra lý do hợp lý nào để giải thích điều này, cũng như không thể cung cấp các tài liệu chứng minh ; (Ghi chú: Thêm vào) (IX) Những vật liệu xây dựng chính, các bộ phận cấu thành công trình, cùng thiết bị thi công mà theo thỏa thuận trong hợp đồng thì phải do đơn vị tổng thầu hoặc đơn vị chuyên trách việc mua sắm hoặc thuê mướn. Tuy nhiên, nếu những vật liệu này được mua sắm hoặc thuê mướn bởi các đơn vị hoặc cá nhân khác, hoặc nếu đơn vị thi công không thể cung cấp các giấy tờ liên quan đến việc mua sắm, thuê mướn cũng như hóa đơn thanh toán, và cũng không thể đưa ra lý do hợp lý kèm theo bằng chứng cần thiết ; (Ghi chú: Thêm vào) (X) Các hành vi chuyển giao công việc khác theo quy định của pháp luật. Khi có hai đơn vị trở lên cùng nhau tham gia vào việc thực hiện một dự án, nếu trong thỏa thuận phân công công việc giữa các bên thành viên trong liên minh này không quy định rõ điều gì, hoặc trong quá trình thực hiện dự án, một bên trong liên minh không tiến hành các công việc xây dựng cũng không tổ chức quản lý các hoạt động xây dựng, đồng thời lại yêu cầu các bên khác trong liên minh trả phí quản lý hoặc các khoản phí tương tự, thì coi như bên đó đã chuyển giao công việc được giao cho các bên khác trong liên minh. (Ghi chú: Đã thêm vào.) (Ghi chú: Mục này đã loại bỏ các mục con thứ nhất và thứ hai trong văn bản gốc, cụ thể là mục “(I) Nhà thầu chuyển toàn bộ công việc mà mình được giao cho các đơn vị hoặc cá nhân khác để thực hiện.”) ; ”“(II) Đơn vị thầu tổng thể hoặc đơn vị thầu chuyên ngành chia nhỏ toàn bộ công trình mà mình được giao, sau đó chuyển giao các phần công việc đó cho các đơn vị hoặc cá nhân khác để thực hiện dưới hình thức thầu phụ ; ”Điều 8: Hành vi chia nhỏ gói thầu trái pháp luật được quy định trong các quy định này, là hành vi mà bên nhận thầu vi phạm các quy định của pháp luật, bằng cách chuyển giao một phần công trình hoặc từng hạng mục công trình cho các đơn vị hoặc cá nhân khác để thực hiện công việc xây dựng. (Ghi chú: Phần “hoặc các quy định trong hợp đồng thi công về việc phân chia công việc” trong văn bản gốc đã được loại bỏ.) Điều 9: Trong trường hợp có một trong các tình huống sau, thì việc phân chia công việc đó được coi là vi phạm quy định: (1) Nhà thầu chuyển giao công việc đòi hỏi phải có chứng chỉ chuyên môn cho các đơn vị hoặc cá nhân không có đủ chứng chỉ hoặc giấy phép an toàn lao động cần thiết ; (II) Nếu đơn vị nhận thầu tổng thể việc xây dựng chuyển giao việc thi công các phần cấu trúc chính của công trình nằm trong phạm vi hợp đồng thầu tổng thể cho các đơn vị khác, thì công việc liên quan đến kết cấu bằng thép sẽ không được tính vào số này ; (Ghi chú: Thay “công trình xây dựng nhà ở” trong văn bản gốc bằng “các công việc nằm trong phạm vi hợp đồng thầu tổng thể”). (III) Nhà thầu phụ chuyên trách các công việc kỹ thuật sẽ tiếp tục chia nhỏ các công việc không liên quan đến lao động trong phạm vi công việc mà mình được giao để thuê người khác thực hiện ; (Ghi chú: Thay “đơn vị phụ trách việc chia nhỏ công việc theo chuyên môn” trong văn bản gốc thành “nhà thầu phụ trách việc chia nhỏ các công trình theo chuyên môn”). (IV) Nhà thầu phụ trách việc cung ứng lao động lại tiếp tục chia nhỏ công việc mà mình được giao ; (Ghi chú: Thay “đơn vị phụ trách việc chia nhỏ công việc lao động” trong văn bản gốc thành “người nhận thầu công việc lao động”). (V) Ngoài việc thu phí cho công việc lao động mà mình thực hiện, người nhận thầu công việc lao động còn được hưởng khoản tiền tương ứng với chi phí của các vật liệu xây dựng chính và chi phí sử dụng các thiết bị máy móc xây dựng cỡ lớn ; (Ghi chú: Thuật ngữ “đơn vị phân công việc lao động” trong văn bản gốc được giữ nguyên; mục “chi phí cho vật tư dùng trong quá trình thi công” đã bị loại bỏ.) (VI) Các hành vi phân công việc trái pháp luật khác theo quy định của pháp luật. Điều 10: Thuật ngữ “đứng tên thay” được sử dụng trong quy định này có nghĩa là hành vi mà trong đó, một tổ chức hoặc cá nhân nhận thầu các công trình dưới danh nghĩa của một đơn vị xây dựng có đủ năng lực. Các hoạt động được đề cập trong khoản trên bao gồm việc tham gia đấu thầu, ký kết hợp đồng, thực hiện các thủ tục liên quan đến việc xây dựng, cũng như các công việc liên quan đến việc thi công. Điều 11: Trong trường hợp có một trong các tình huống sau, thì đó được coi là hành vi “lợi dụng danh nghĩa của người khác”: (1) Các đơn vị hoặc cá nhân không có đủ năng lực kỹ thuật lại mượn danh nghĩa của các đơn vị xây dựng khác để nhận thầu công trình ; (II) Các đơn vị xây dựng có đủ năng lực nhưng lại mượn chứng chỉ năng lực của nhau để tham gia các dự án xây dựng. Điều này bao gồm trường hợp đơn vị có mức độ năng lực thấp mượn chứng chỉ của đơn vị có mức độ năng lực cao, hoặc ngược lại; cũng có trường hợp các đơn vị có cùng mức độ năng lực mượn chứng chỉ lẫn nhau ; (III) Trong các trường hợp được quy định tại khoản 1, điều 7 của luật này, từ mục (i) đến mục (ix), nếu có bằng chứng chứng minh rằng đó là trường hợp ký gửi dịch vụ ; (IV) Các hành vi liên quan đến việc ký gửi khác được quy định bởi pháp luật. (Ghi chú: Đoạn văn này đã xóa các mục số 3, 4, 5, 6, 7 trong bản văn gốc. Cụ thể là mục “(III) Trong trường hợp đơn vị giao thầu phần việc chuyên môn không phải là đơn vị tổng thầu xây dựng hay đơn vị chuyên thầu công trình đó, thì ngoại trừ trường hợp đơn vị xây dựng đảm nhận vai trò đơn vị giao thầu theo thỏa thuận.)” ; ”“(IV) Đơn vị giao việc thực hiện các công việc phụ không phải là đơn vị tổng thầu xây dựng công trình này, cũng không phải là đơn vị thầu chuyên môn hay đơn vị thực hiện các công việc phụ ; ”“(5) Trong số các người được đơn vị thi công cử đến hiện trường công trình để giữ các chức vụ như trưởng dự án, trưởng bộ phận kỹ thuật, người chịu trách nhiệm về quản lý chất lượng, người chịu trách nhiệm về quản lý an toàn, thì có ít nhất một người không ký hợp đồng lao động với đơn vị thi công, hoặc chưa thiết lập mối quan hệ về lương công việc hay bảo hiểm xã hội với đơn vị này ; ”“(6) Giữa đơn vị thực hiện công việc xây dựng tổng thể hoặc đơn vị thực hiện các hạng mục cụ thể và đơn vị phát đơn hàng không có mối quan hệ nào liên quan đến việc thanh toán tiền công trình; hoặc thông tin về đơn vị nhận tiền trên giấy tờ thanh toán không trùng khớp với thông tin về đơn vị được chỉ định trong hợp đồng xây dựng. Đồng thời, đơn vị đó cũng không thể đưa ra lý do hợp lý hay chứng cứ để giải thích tình huống này ; ”“(7) Trong hợp đồng có quy định rằng đơn vị thầu chính hoặc đơn vị thầu chuyên ngành phải chịu trách nhiệm mua sắm hoặc thuê các vật liệu xây dựng chính, các bộ phận cấu thành công trình, cùng các thiết bị cần thiết cho việc xây dựng. Tuy nhiên, nếu những vật liệu này được mua sắm hoặc thuê bởi các đơn vị hay cá nhân khác, hoặc nếu đơn vị thầu không thể cung cấp các giấy tờ liên quan đến việc mua sắm, thuê mướn, cũng như hóa đơn thanh toán, thì họ cũng không thể đưa ra lý do hợp lý và chứng cứ cần thiết để chứng minh điều đó ; ”Điều 12: Bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào phát hiện ra các hành vi vi phạm pháp luật như giao thầu trái phép, chuyển giao thầu trái phép, phân chia thầu trái phép, hoặc các hình thức lợi dụng danh nghĩa người khác để thực hiện công việc thầu, đều có thể báo cáo với cơ quan quản lý nhà ở và xây dựng thuộc cấp huyện trở lên tại nơi diễn ra dự án. (Ghi chú: Cụm từ “đơn vị xây dựng và đơn vị giám sát” trong văn bản gốc đã được thay thế bằng “bất kỳ đơn vị hay cá nhân nào”). (Ghi chú: Phần nội dung “Khi đơn vị xây dựng và đơn vị giám sát phát hiện ra rằng đơn vị thi công có hành vi chuyển giao công việc cho người khác, phân chia công việc một cách trái phép, hoặc lợi dụng tên của người khác để thực hiện công việc xây dựng, thì họ cần phải báo cáo ngay cho cơ quan quản lý nhà ở và xây dựng thuộc cấp huyện trở lên tại nơi diễn ra dự án.” đã bị xóa bỏ.) ” “Đơn vị tổng thầu xây dựng hoặc đơn vị thầu chuyên ngành, khi phát hiện rằng các đơn vị thầu phụ có hành vi chia nhỏ gói thầu một cách trái phép hoặc lợi dụng tên của đơn vị khác để thực hiện công việc, thì cần phải báo cáo kịp thời cho đơn vị chủ đầu tư và cơ quan quản lý nhà ở và xây dựng thuộc cấp huyện trở lên tại nơi thi công dự án ; Nếu phát hiện đơn vị thi công có hành vi giao thầu trái pháp luật, cần phải báo cáo ngay cho cơ quan quản lý nhà ở và xây dựng thuộc cấp huyện trở lên tại nơi thực hiện dự án. ” “Các đơn vị và cá nhân khác phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật như giao thầu trái phép, chuyển giao thầu trái phép, phân chia thầu trái phép, hoặc hành vi lợi dụng tên người khác để tham gia thầu, đều có thể báo cáo cho cơ quan quản lý nhà ở và xây dựng thuộc cấp huyện trở lên tại nơi diễn ra dự án, đồng thời cung cấp các bằng chứng hoặc manh mối liên quan. ”Cơ quan chức năng phụ trách lĩnh vực nhà ở và xây dựng, sau khi nhận được đơn tố cáo, phải tiếp nhận, điều tra, xác minh và xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Trừ những trường hợp không thể thông báo cho người tố cáo, cơ quan này cần phải thông báo kết quả điều tra cho người tố cáo một cách kịp thời. Điều 13: Các cơ quan quản lý nhà ở và xây dựng thuộc chính quyền địa phương ở cấp huyện trở lên, vốn chịu trách nhiệm cụ thể trong việc xác định và xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến việc giao thầu và nhận thầu các công trình xây dựng trong khu vực mình quản lý, khi tiến hành công tác xử lý, nếu nhận được những manh mối hoặc bằng chứng liên quan đến các vụ án từ các cơ quan tòa án, trọng tài, thanh tra… thì phải tiếp nhận và kiểm tra các thông tin đó theo đúng quy định của pháp luật. Sau đó, cần xử lý các vụ việc một cách nghiêm túc dựa trên những sự thật đã được xác định, và báo cáo kết quả xử lý cho cơ quan đã chuyển giao thông tin về vụ án đó. (Được bổ sung) Điều 14: Các cơ quan chuyên trách về xây dựng và nhà ở ở cấp huyện trở lên phải tiến hành điều tra các hành vi vi phạm pháp luật như giao thầu trái phép, chuyển giao công việc thầu trái phép, phân chia công việc thầu trái phép, hoặc sử dụng tên người khác để tham gia vào các dự án xây dựng. Những hành vi này được phát hiện trong quá trình giám sát thị trường xây dựng và các công trường xây dựng. Các cơ quan này phải xác định rõ các hành vi vi phạm đó theo quy định của pháp luật, và áp dụng các biện pháp xử phạt tương ứng. (1) Đối với các đơn vị xây dựng chuyển giao công trình cho các đơn vị thi công không có đủ năng lực theo quy định, sẽ bị xử phạt theo Điều 65 của “Luật Xây dựng” và Điều 54 của “Quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng”. Đối với các đơn vị xây dựng có hành vi chia nhỏ công trình xây dựng để giao cho nhiều bên thực hiện, sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 65 của “Luật Xây dựng” và Điều 55 của “Quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng”. (Ghi chú: Điều 65 của Luật Xây dựng quy định rằng nếu bên giao thầu giao công trình cho các đơn vị nhận thầu không có đủ điều kiện cần thiết, hoặc vi phạm quy định của luật này bằng cách chia nhỏ công trình để giao cho nhiều đơn vị khác nhau, thì sẽ bị yêu cầu khắc phục sai phạm và bị phạt tiền.) Những đơn vị nhận thầu các dự án vượt quá mức độ chuyên môn được phép theo quy định, sẽ bị yêu cầu ngừng hành vi vi phạm này, bị phạt tiền; đồng thời có thể bị yêu cầu tạm ngừng hoạt động để kiểm soát lại, hoặc bị hạ mức độ chuyên môn ; Trong trường hợp nghiêm trọng, sẽ thu hồi giấy chứng nhận năng lực ; Nếu có hành vi vi phạm pháp luật, thì tài sản đó sẽ bị tịch thu. Những đơn vị nhận thầu công trình mà chưa có giấy chứng nhận năng lực sẽ bị đình chỉ hoạt động và phải chịu khoản phạt tiền ; Nếu có hành vi vi phạm pháp luật, thì tài sản đó sẽ bị tịch thu. Những người lấy được chứng chỉ năng lực bằng cách lừa đảo sẽ bị tước bỏ chứng chỉ đó và phải chịu khoản phạt tiền ; Nếu hành vi đó cấu thành tội phạm, thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật. Theo Điều 54 và Điều 55 của “Quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng”, nếu đơn vị thi công vi phạm các quy định này bằng cách giao công trình cho các đơn vị tư vấn, thiết kế hoặc thi công không có đủ năng lực phù hợp, hoặc giao công trình cho các đơn vị giám sát công trình cũng không có đủ năng lực phù hợp, thì sẽ bị yêu cầu khắc phục sai phạm, đồng thời bị phạt tiền từ 500.000 đến 1.000.000 nhân dân tệ. Điều 55: Nếu đơn vị xây dựng vi phạm các quy định của quy chế này bằng cách chia nhỏ công trình để giao cho nhiều bên khác nhau thực hiện, thì sẽ bị yêu cầu khắc phục hậu quả. Đồng thời, họ sẽ bị phạt một khoản tiền từ 0,5% đến 1% giá trị hợp đồng xây dựng ; Đối với các dự án sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn nhà nước, có thể tạm ngừng việc thực hiện dự án hoặc tạm ngừng việc cấp vốn. ) (II) Đối với các đơn vị xây dựng bị xác định có hành vi chuyển giao công việc cho người khác hoặc phân chia công việc một cách trái pháp luật, sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 67 của “Luật Xây dựng” và Điều 62 của “Quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng”. (Theo Điều 67 của Luật Xây dựng và Điều 62 của Quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng: Điều 67: Nếu đơn vị nhận thầu chuyển giao công việc đã nhận thầu cho người khác, hoặc tiến hành phân thầu trái với quy định của luật này, thì sẽ bị yêu cầu khắc phục sai phạm; số tiền kiếm được từ hành vi vi phạm sẽ bị tịch thu, đồng thời bị phạt tiền. Ngoài ra, đơn vị đó còn có thể bị yêu cầu tạm ngừng hoạt động để điều chỉnh lại, hoặc bị hạ cấp độ chất lượng trong hoạt động kinh doanh.) ; Trong trường hợp nghiêm trọng, sẽ thu hồi giấy chứng nhận năng lực. Nếu đơn vị nhận thầu có những hành vi vi phạm quy định nêu trên, thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường cùng với đơn vị nhận thầu lại hoặc đơn vị được giao việc thầu phụ về những thiệt hại xảy ra do chất lượng công trình không đáp ứng các tiêu chuẩn quy định. Điều 62: Nếu đơn vị nhận thầu vi phạm các quy định của quy chế này, bằng cách chuyển giao công trình đã nhận thầu cho người khác hoặc chia nhỏ công trình một cách trái pháp luật, thì sẽ bị yêu cầu khắc phục hậu quả; số tiền kiếm được một cách trái pháp luật sẽ bị tịch thu. Đối với các đơn vị tư vấn khảo sát và thiết kế, họ sẽ bị phạt từ 25% đến 50% tổng chi phí khảo sát và thiết kế theo quy định trong hợp đồng ; Phạt đơn vị thi công một khoản tiền từ 0,5% đến 1% giá trị hợp đồng xây dựng ; Có thể yêu cầu ngừng hoạt động để kiểm tra, đồng thời hạ cấp độ chất lượng của họ ; Trong trường hợp nghiêm trọng, sẽ thu hồi giấy chứng nhận năng lực. Nếu đơn vị giám sát công trình chuyển giao nghiệp vụ giám sát công trình cho người khác, họ sẽ bị yêu cầu phải khắc phục sai phạm; số tiền kiếm được một cách bất hợp pháp sẽ bị tịch thu. Ngoài ra, họ còn bị phạt từ 25% đến 50% tổng chi phí giám sát được quy định trong hợp đồng ; Có thể yêu cầu ngừng hoạt động để kiểm tra, đồng thời hạ cấp độ chất lượng của họ ; Trong trường hợp nghiêm trọng, sẽ thu hồi giấy chứng nhận năng lực. ) (III) Đối với các đơn vị xây dựng hoặc cá nhân bị xác định có hành vi gắn mác giả mạo, sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 65 của “Luật Xây dựng” và Điều 60 của “Quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng”. (Ghi chú: Điều 60 của “Quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng” quy định rằng: Những đơn vị thực hiện công tác khảo sát, thiết kế, xây dựng hoặc giám sát công trình mà vi phạm các quy định của quy định này, và nhận thầu các công trình vượt quá phạm vi năng lực được phép của mình, thì sẽ bị yêu cầu ngừng hành vi vi phạm. Đồng thời, các đơn vị này sẽ bị phạt từ 1 đến 2 lần mức phí khảo sát, phí thiết kế hoặc phí giám sát theo quy định trong hợp đồng.) ; Áp đặt mức phạt từ 2% đến 4% trên tổng giá trị hợp đồng xây dựng đối với đơn vị thực hiện công trình; có thể yêu cầu họ tạm ngừng hoạt động để kiểm soát lại, đồng thời hạ cấp độ chuyên môn của họ xuống ; Trong trường hợp nghiêm trọng, sẽ thu hồi giấy chứng nhận năng lực ; Nếu có hành vi vi phạm pháp luật, thì tài sản đó sẽ bị tịch thu. Những đơn vị không có giấy chứng nhận năng lực mà vẫn nhận thầu công trình sẽ bị đình chỉ hoạt động; đồng thời sẽ bị phạt theo quy định tại khoản trên ; Nếu có hành vi vi phạm pháp luật, thì tài sản đó sẽ bị tịch thu. Những ai lợi dụng thủ đoạn gian lận để có được giấy chứng nhận năng lực và nhận thầu các công trình, sẽ bị tước giấy chứng nhận đó. Ngoài ra, họ còn bị phạt tiền theo quy định tại khoản 1 của điều này ; Nếu có hành vi vi phạm pháp luật, thì tài sản đó sẽ bị tịch thu. ) (IV) Đối với các đơn vị xây dựng bị xác định là đã chuyển nhượng, cho mượn giấy chứng nhận năng lực, hoặc cho phép người khác thực hiện các công trình dưới tên của đơn vị mình, sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 66 của “Luật Xây dựng” và Điều 61 của “Quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng”. (Ghi chú: Điều 66 của Luật Xây dựng quy định rằng nếu các doanh nghiệp xây dựng chuyển nhượng, cho mượn giấy chứng nhận năng lực kinh doanh, hoặc cho phép người khác sử dụng tên của mình để thực hiện các công trình xây dựng, thì họ sẽ bị yêu cầu khắc phục sai phạm, tài sản bất hợp pháp sẽ bị tịch thu, và họ còn bị phạt tiền. Ngoài ra, họ cũng có thể bị yêu cầu tạm ngừng hoạt động kinh doanh để điều chỉnh lại, hoặc bị hạ cấp độ năng lực kinh doanh của mình.) ; Trong trường hợp nghiêm trọng, sẽ thu hồi giấy chứng nhận năng lực. Đối với những thiệt hại xảy ra do công trình được thực hiện không đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng quy định, doanh nghiệp xây dựng cùng với các đơn vị hoặc cá nhân sử dụng tên của doanh nghiệp này phải chịu trách nhiệm bồi thường chung. Điều 61 của “Quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng”: Nếu các đơn vị thực hiện công tác khảo sát, thiết kế, xây dựng hoặc giám sát công trình vi phạm các quy định của quy định này, bằng cách cho phép các đơn vị hoặc cá nhân khác nhận thầu công trình dưới tên của mình, thì họ sẽ bị yêu cầu khắc phục sai phạm. Những khoản tiền bất hợp pháp thu được sẽ bị tịch thu. Các đơn vị khảo sát, thiết kế và giám sát công trình sẽ bị phạt từ 1 đến 2 lần mức phí khảo sát, phí thiết kế và phí giám sát theo quy định trong hợp đồng ; Phạt đơn vị thi công một khoản tiền từ 2% đến 4% trên tổng giá trị hợp đồng xây dựng ; Có thể yêu cầu ngừng hoạt động để kiểm tra, đồng thời hạ cấp độ chất lượng của họ ; Trong trường hợp nghiêm trọng, sẽ thu hồi giấy chứng nhận năng lực. ) (V) Đối với các đơn vị thi công và xây dựng, nếu họ bị phạt tiền, thì theo Điều 73 của “Quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng”, những người chịu trách nhiệm trực tiếp trong đơn vị đó cùng các cá nhân có trách nhiệm trực tiếp khác cũng sẽ bị xử phạt. (Ghi chú: Điều 73 của “Quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng” quy định rằng: Trong trường hợp áp dụng hình thức phạt tiền đối với một đơn vị theo quy định của điều luật này, thì những người chịu trách nhiệm trực tiếp trong đơn vị đó và các cá nhân có trách nhiệm trực tiếp khác sẽ bị phạt từ 5% đến 10% số tiền phạt dành cho đơn vị đó.) ) (VI) Đối với những người hành nghề đã đăng ký mà không tuân thủ các quy định của pháp luật, sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 58 của “Quy định về quản lý an toàn lao động trong lĩnh vực xây dựng”. Đối với những người hành nghề đã đăng ký mà vi phạm các quy định của pháp luật, gây ra các sự cố về chất lượng do sai sót của mình, thì sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 72 của “Quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng”. (Ghi chú: Điều 58 của “Quy định về quản lý an toàn lao động trong lĩnh vực xây dựng” quy định rằng: Những người hành nghề có giấy phép mà không tuân thủ các quy định của pháp luật, các quy chuẩn bắt buộc trong lĩnh vực xây dựng thì sẽ bị yêu cầu tạm ngừng hành nghề trong thời gian từ 3 tháng trở lên đến 1 năm.) ; Trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng, giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề sẽ bị tước bỏ, và người đó sẽ không được cấp giấy phép hành nghề trong vòng 5 năm ; Những người gây ra các tai nạn an toàn nghiêm trọng sẽ bị cấm đăng ký suốt đời ; Nếu hành vi đó cấu thành tội phạm, thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các quy định của luật hình sự. Điều 72 của “Quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng” quy định rằng: Những kiến trúc sư có chứng chỉ hành nghề, kỹ sư cấu trúc có chứng chỉ hành nghề, kỹ sư giám sát và các chuyên gia có chứng chỉ hành nghề khác, nếu vi phạm các quy định của quy định này và gây ra các sự cố về chất lượng do lỗi của mình, thì sẽ bị buộc phải ngừng hành nghề trong vòng 1 năm ; Nếu gây ra các tai nạn về chất lượng nghiêm trọng, giấy chứng nhận năng lực hành nghề sẽ bị tước bỏ, và người đó sẽ không được cấp giấy phép hành nghề trong vòng 5 năm ; Trong trường hợp hành vi cực kỳ nghiêm trọng, sẽ bị cấm đăng ký suốt đời. Điều 15: Các cơ quan chuyên trách về xây dựng nhà ở và phát triển đô thị ở cấp huyện trở lên, đối với các đơn vị và cá nhân có hành vi giao thầu trái pháp luật, chuyển giao công việc thầu trái pháp luật, phân chia công việc thầu một cách trái pháp luật, hoặc sử dụng tên người khác để tham gia các gói thầu, ngoài việc áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 14 của quy định này, còn có thể áp dụng các biện pháp quản lý hành chính sau: (1) Nếu đơn vị thực hiện dự án giao thầu trái pháp luật, từ chối khắc phục sai phạm, hoặc sau khi khắc phục vẫn không đáp ứng được yêu cầu, thì sẽ bị từ chối cấp các giấy phép liên quan đến giám sát chất lượng và thi công công trình theo quy định của pháp luật. Đối với các dự án sử dụng toàn bộ hoặc một phần ngân sách nhà nước, cần báo cáo hành vi giao thầu trái pháp luật của đơn vị thi công cho cơ quan quản lý cấp trên và các cơ quan kiểm tra kỷ luật. Đồng thời, nên đề xuất áp dụng các hình thức xử lý hành chính đối với những người chịu trách nhiệm trực tiếp trong đơn vị thi công và các cá nhân có liên quan khác. (II) Đối với các đơn vị xây dựng bị xác định có hành vi chuyển giao công trình, phân chia công trình một cách trái pháp luật, sử dụng giấy phép kinh doanh của người khác để thực hiện công việc xây dựng, hoặc cho phép người khác thực hiện công việc xây dựng dưới tên của đơn vị mình, thì theo quy định của pháp luật, họ sẽ bị cấm tham gia các hoạt động đấu thầu tại nơi xảy ra hành vi vi phạm trong vòng 3 tháng. Ngoài ra, còn phải kiểm tra xem liệu chất lượng của đơn vị này có đáp ứng các tiêu chuẩn yêu cầu hay không. Nếu không đáp ứng được các tiêu chuẩn đó, cơ quan có thẩm quyền sẽ thu hồi giấy phép kinh doanh của họ. Đối với các đơn vị xây dựng mà trong vòng 2 năm có 2 lần thực hiện hành vi chuyển giao công trình cho người khác, phân chia công trình trái pháp luật, sử dụng giấy phép kinh doanh của người khác để thực hiện công việc xây dựng, hoặc cho phép người khác sử dụng tên đơn vị mình để nhận thầu công trình, thì sẽ bị yêu cầu tạm ngừng hoạt động để kiểm tra lại trong thời gian ít nhất 6 tháng. Trong thời gian này, họ không được nhận thầu bất kỳ công trình nào khác. Đối với các đơn vị xây dựng mà trong vòng 2 năm có hơn 3 lần vi phạm các quy định về chuyển giao công trình, phân chia công trình trái phép, sử dụng giấy phép kinh doanh của người khác để thực hiện công việc xây dựng, hoặc cho phép người khác sử dụng tên đơn vị mình để nhận thầu công trình, cơ quan có thẩm quyền sẽ hạ cấp độ chất lượng của đơn vị đó. (III) Những người có chứng chỉ hành nghề đã đăng ký mà không tuân thủ các quy định pháp luật, và lại đảm nhận vai trò người phụ trách dự án của đơn vị thi công trong những dự án bị xác định là có hành vi chuyển giao công việc cho người khác, thì sẽ bị tước bỏ chứng chỉ hành nghề. Họ cũng sẽ không được phép đăng ký lại trong vòng 5 năm, và cũng không được tiếp tục đảm nhận vai trò người phụ trách dự án của đơn vị thi công nữa. Những cá nhân bị xác định có hành vi gắn mác giả mạo sẽ không được tiếp tục đảm nhiệm vai trò người phụ trách dự án của đơn vị thi công đó nữa ; Những người có chứng chỉ hành nghề bị tước bỏ chứng chỉ đó; trong vòng 5 năm tiếp theo, họ sẽ không được cấp giấy phép hành nghề ; Những người gây ra các tai nạn an toàn chất lượng nghiêm trọng sẽ bị tước giấy chứng nhận hành nghề, và không được cấp giấy phép hành nghề suốt đời. Điều 16: Các cơ quan chuyên trách về xây dựng và nhà ở ở cấp huyện trở lên phải ghi lại các hành vi vi phạm như giao thầu trái phép, chuyển giao công việc thầu trái phép, phân chia công việc thầu trái phép, v.v., cùng với kết quả xử phạt vào hồ sơ tín dụng của đơn vị hoặc cá nhân liên quan. Đồng thời, thông tin này cũng cần được công bố ra công chúng, và được báo cáo lên Bộ Xây dựng và Nhà ở theo từng cấp bậc. Thông tin này sau đó sẽ được công bố trên nền tảng quản lý thị trường xây dựng và cung cấp thông tin về uy tín trên toàn quốc. Điều 17: Các công trình chuyên ngành khác ngoài các công trình xây dựng nhà ở và cơ sở hạ tầng đô thị cũng được áp dụng theo quy định của phương thức này. Cơ quan chức năng phụ trách lĩnh vực nhà ở và xây dựng cấp tỉnh có thể, dựa trên tình hình thực tế tại địa phương, ban hành các quy định chi tiết phù hợp với những nguyên tắc này. Điều 18: Bộ Xây dựng và Phát triển Đô thị là cơ quan chịu trách nhiệm giải thích các quy định trong phương thức này. Điều 19: Các quy định trong phương thức này có hiệu lực kể từ ngày tháng năm nào đó. “Quy định về việc xác định, điều tra và xử lý các hành vi vi phạm như chuyển giao công trình xây dựng cho bên thứ ba một cách trái phép, phân chia công việc xây dựng một cách trái phép, v.v. (thử nghiệm)” do Bộ Xây dựng và Phát triển Đô thị – Nông thôn ban hành vào ngày 1 tháng 10 năm 2014 cũng bị hủy bỏ cùng lúc đó. Nguồn thông tin: Trang web chính thức của Bộ Nhà ở và Phát triển Đô thị – Nông thôn