Thread Content
Nhiều doanh nghiệp coi chất lượng là sự sống còn của doanh nghiệp. Các nhà quản lý của doanh nghiệp cũng rất coi trọng chất lượng. Nhưng họ thà đầu tư nhiều nhân viên bán hàng hơn để quảng bá sản phẩm, nhiều kỹ sư hơn để thiết kế và phát triển sản phẩm, nhiều nhân viên sản xuất hơn để chế tạo ra sản phẩm. Thậm chí, họ còn đầu tư nhiều nhân viên tài chính hơn để tính toán chính xác chi phí sản xuất, giá mua nguyên vật liệu và lợi nhuận từ việc bán sản phẩm. Điều duy nhất bị bỏ qua chính là việc đầu tư vào chất lượng. Một doanh nghiệp hóa chất với hơn 300 nhân viên, nhưng chỉ có hai người chuyên phụ trách công tác kiểm soát chất lượng. Một người chịu trách nhiệm kiểm tra, một người chịu trách nhiệm về hệ thống đồng thời quản lý dự án. Một doanh nghiệp sản xuất hộp số tại đại lục, số nhân viên thuộc bộ phận dịch vụ sau bán hàng cao hơn nhiều so với số nhân viên trong bộ phận kiểm soát chất lượng. Ở những doanh nghiệp có chất lượng kém, tình trạng số nhân viên phục vụ sau bán hàng nhiều hơn số nhân viên thuộc bộ phận kiểm soát chất lượng là điều khá phổ biến. Các nhà quản lý doanh nghiệp thường lo lắng hơn về việc xử lý các vấn đề phát sinh từ phía khách hàng, vì vậy họ liên tục tăng cường số lượng nhân viên dịch vụ sau bán hàng. Và không biết nhân viên kiểm soát chất lượng thực sự làm gì; hoặc là cần tăng thêm số lượng nhân viên kiểm tra. Những người phụ trách hệ thống thì thường chỉ chờ đến lúc có cuộc kiểm toán, rồi yêu cầu các bộ phận chuẩn bị các tài liệu cần thiết để duy trì chứng chỉ ISO. Một số doanh nghiệp thậm chí còn giảm bớt cả nhân viên trong bộ phận quản lý hệ thống; hoặc bắt nhân viên đảm nhận nhiều vai trò cùng lúc, hoặc thuê người từ bên ngoài một cách tạm thời để đối phó với các cuộc kiểm toán ISO. Khi nhân viên trong doanh nghiệp có những hành vi lười biếng hoặc không làm tốt công việc, hoặc vì tuổi tác cao mà không thể sắp xếp công việc phù hợp, nhưng lại khó có thể sa thải họ, thì họ sẽ bị giao cho bộ phận kiểm soát chất lượng. Khi doanh nghiệp gặp khủng hoảng và cần sa thải nhân viên, thường những người đầu tiên bị sa thải chính là nhân viên thuộc bộ phận kiểm soát chất lượng. Các nhà quản lý doanh nghiệp thường cho rằng bộ phận kiểm soát chất lượng là thứ không cần thiết, vì nó không mang lại hiệu quả gì cả, cũng chẳng tạo ra kết quả nào đáng kể. Đơn hàng do nhân viên bán hàng xử lý, bản vẽ do kỹ sư thiết kế, vật liệu do bộ phận mua sắm mua vào, sản phẩm do nhân viên sản xuất, dịch vụ thì do nhân viên chăm sóc khách hàng cung cấp. Vậy thì nhân viên kiểm soát chất lượng có tác dụng gì chứ? Vì vậy, trong các doanh nghiệp tư nhân ở Trung Quốc, người đứng đầu bộ phận kiểm soát chất lượng là vị trí khó giữ nhất, và cũng là vị trí thường xuyên có sự thay đổi nhân sự nhất. Có một doanh nghiệp thậm chí đã thay đổi 4 giám đốc chất lượng trong vòng 1 năm. Còn ở Quảng Châu, có một doanh nghiệp đã hoạt động được hơn mười năm, nhưng người quản lý chất lượng giữ chức vụ này lâu nhất cũng chỉ có 8 tháng mà thôi. Nhưng hai công ty này nhanh chóng phá sản. Ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại châu Âu và Mỹ, những vị trí thường xuyên thay đổi người đảm nhiệm là trưởng bộ phận nhân sự, trưởng bộ phận mua sắm và trưởng bộ phận tài chính. Trong khi đó, người đứng đầu bộ phận kiểm soát chất lượng thì ít khi thay đổi. Lần trước, có người nói trên mạng rằng anh ta đã làm quản lý chất lượng tại một doanh nghiệp nước ngoài trong 16 năm; nhiều người cảm thấy điều này khó tin. Tình hình của bộ phận chịu trách nhiệm đảm bảo chất lượng – yếu tố then chốt quyết định sự sống còn của doanh nghiệp – cũng ảnh hưởng rất lớn đến tình hình phát triển của doanh nghiệp. Tuổi thọ trung bình của các doanh nghiệp tư nhân ở Trung Quốc chỉ khoảng 11 năm, và phần lớn các doanh nghiệp phá sản là do chất lượng quản lý kém. Quản lý doanh nghiệp gồm ba khía cạnh chính. Thứ nhất là con người, thứ hai là tiền bạc, thứ ba là sản phẩm (bao gồm dịch vụ). Bộ phận nhân sự quản lý con người trong doanh nghiệp, còn bộ phận tài chính thì quản lý tiền bạc của doanh nghiệp. Vậy sản phẩm của doanh nghiệp thì nên do bộ phận nào quản lý? Khi sản phẩm của nhiều doanh nghiệp gặp vấn đề, điều đầu tiên mọi người nghĩ đến là bộ phận kiểm soát chất lượng đã quản lý như thế nào? Điều này cũng chứng minh rằng sản phẩm là thứ mà bộ phận kiểm soát chất lượng cần phải quản lý tốt. Nhưng với tất cả những hiện tượng nêu trên, bộ phận kiểm soát chất lượng sẽ quản lý sản phẩm như thế nào đây? Bộ phận nhân sự nắm giữ số phận của từng người trong doanh nghiệp, còn bộ phận tài chính thì kiểm soát dòng tiền. Hai bộ phận này thường là những nơi mà các nhà quản lý quan tâm và dựa vào. Trong doanh nghiệp, không ai dám làm điều gì khiến họ tức giận. Nhưng bộ phận kiểm soát chất lượng của doanh nghiệp thì có thể làm gì được? Nếu người quản lý không hỗ trợ, có lẽ bộ phận này sẽ trở thành nơi mà các bộ phận khác dùng để đổ lỗi. Bộ phận kiểm soát chất lượng sẽ trở thành kẻ bị đổ lỗi một cách dễ dàng. Điều này rất phổ biến ở nhiều doanh nghiệp Trung Quốc. Làm thế nào để nâng cao vai trò và vị thế của bộ phận kiểm soát chất lượng, nhằm tránh việc bộ phận này trở thành nạn nhân, đã trở thành vấn đề sống còn đối với sự tồn tại của doanh nghiệp. Điều này chắc chắn khiến các nhà quản lý doanh nghiệp Trung Quốc phải chú trọng. Điều này cũng liên quan đến vấn đề mà doanh nghiệp dành nguồn lực cho bộ phận kiểm soát chất lượng. Có một chủ doanh nghiệp tư nhân, người hiểu rằng chất lượng là yếu tố vô cùng quan trọng. Trong quá trình phát triển nhanh chóng, ông lo sợ doanh nghiệp sẽ gặp thất bại, vì vậy ông đã cung cấp đủ nhân sự cho bộ phận kiểm soát chất lượng, cũng như trang thiết bị cần thiết. Thậm chí, nhân viên kiểm soát chất lượng còn vượt trội hơn cả các kỹ sư. Các bản vẽ, công nghệ và tiêu chuẩn sản xuất của sản phẩm Đức rất rõ ràng; điều quan trọng là việc thực hiện chúng một cách nghiêm túc. Vì vậy, mặc dù bộ phận nghiên cứu và phát triển chưa có được nhiều thành tựu trong thời gian ngắn, nhưng bộ phận kiểm soát chất lượng lại rất hiệu quả trong công việc của mình. Nhờ đó, chất lượng sản phẩm của công ty có thể vượt trội hơn so với các đối thủ cạnh tranh một cách nhanh chóng. Số lượng sản phẩm của doanh nghiệp đã nhanh chóng giúp họ vươn lên vị trí thứ 11 trên thế giới trong ngành, còn về chất lượng thì họ đứng ở vị trí thứ 2 tại Trung Quốc. Trong khi đó, một doanh nghiệp tư nhân muốn phá vỡ các rào cản trong quá trình phát triển thì lại có một diện mạo hoàn toàn khác. Trong vòng 15 năm qua, đã có 13 người giữ chức trưởng bộ phận kiểm soát chất lượng. Các dự án sản phẩm mới do công ty phát triển đang thiếu kỹ sư kiểm soát chất lượng dự án; còn kỹ sư kiểm soát chất lượng từ phía nhà cung cấp thì hoàn toàn không có. Chưa kể đến kỹ sư kiểm soát chất lượng trong quá trình nghiên cứu và phát triển, cũng như kỹ sư chăm sóc chất lượng dịch vụ dành cho khách hàng nữa. Vì vậy, các dự án nghiên cứu và phát triển luôn có trường hợp này xảy ra: một dự án thất bại thì một dự án khác được tiếp tục. Các sản phẩm mới vốn đã chứa đựng rất nhiều vấn đề; ngay sau khi được tung ra thị trường, khách hàng đã nhanh chóng mất đi sự tin tưởng vào chúng. Kết quả là doanh nghiệp mãi không thể thoát khỏi tình trạng khó khăn. Dù đã đầu tư hàng chục triệu vào nghiên cứu và phát triển, vẫn không mang lại hiệu quả lớn. Nhưng nếu đầu tư thêm một chút vào nhân viên chuyên nghiệp và thiết bị kiểm tra chuyên dụng, thực ra không cần đến 2 triệu đô la đầu tư nữa, kết quả sẽ hoàn toàn khác biệt. Nhiều doanh nghiệp Trung Quốc vẫn tiếp tục áp dụng mô hình nghiên cứu và phát triển sản phẩm truyền thống; khi thấy các doanh nghiệp khác có những sản phẩm bán chạy, họ cũng bắt đầu muốn sản xuất ra những sản phẩm tương tự. Vì vậy, họ tìm vài nhân viên thiết kế, lấy các bản vẽ thiết kế, sau đó chỉnh sửa chúng một chút rồi giao cho bộ phận mua sắm để mua các linh kiện cần thiết. Những người phụ trách mua sắm, với kiến thức hạn chế, đã mua về những linh kiện mà chính họ cũng không hiểu rõ. Sau đó, họ lại giao những linh kiện này cho nhân viên kiểm tra chất lượng, những người cũng chẳng biết gì về chúng. Sau đó, giao cho nhân viên sản xuất – những người có vẻ chỉ hiểu sơ sài – để lắp ráp. Sau khi lắp ráp xong, tiến hành kiểm tra sơ bộ rồi đưa ra thị trường để bán. Rất nhiều vấn đề ở giai đoạn trung gian chưa được phân tích kỹ lưỡng và ngăn chặn một cách hiệu quả; các nhà thiết kế thường cố tình giấu đi nhiều vấn đề do áp lực về tiến độ dự án. Kết quả là, khi những sản phẩm này ra thị trường, họ đã coi khách hàng như những con chuột thí nghiệm. Với mô hình phát triển sản phẩm như vậy, tỷ lệ thành công của các dự án chỉ ở mức khoảng 20% thì đã là rất tốt rồi. Nếu có một bộ phận tham gia vào quá trình phát triển sản phẩm từ sớm, luôn xem xét các vấn đề từ góc độ của khách hàng, và phân tích các sản phẩm mới được phát triển từ góc độ chuyên môn về chất lượng, thì điều đó sẽ **giúp rút ngắn thời gian phát triển sản phẩm mới**, đồng thời cũng sẽ **nâng cao tỷ lệ thành công của các dự án phát triển sản phẩm mới**. Vì vậy, tỷ lệ thành công trong việc phát triển các sản phẩm mới của một số công ty đa quốc gia có thể lên tới 80%. Tỷ lệ rõ ràng như vậy giúp các nhà quản lý doanh nghiệp nhận thức được giá trị của việc đầu tư vào chất lượng. Sản phẩm của doanh nghiệp cần được quản lý một cách chuyên nghiệp bởi bộ phận kiểm soát chất lượng. Toàn bộ quy trình sản xuất sản phẩm đều cần sự giám sát và tối ưu hóa liên tục từ các chuyên gia về chất lượng, nhằm nâng cao hiệu suất công việc cũng như chất lượng sản phẩm. Đầu tư vào chất lượng chủ yếu bao gồm hai khía cạnh: nhân sự và thiết bị. Vậy tỷ lệ nhân sự chuyên về chất lượng trong doanh nghiệp nên chiếm bao nhiêu là phù hợp? Một doanh nghiệp chuyên sản xuất máy móc xây dựng tại tỉnh Thiểm Tây có khoảng 1.000 nhân viên; trong đó, bộ phận kiểm soát chất lượng gồm hơn 50 người, chiếm 5% tổng số nhân viên. Một công ty sản xuất đồ gia dụng nổi tiếng của Trung Quốc có 1500 nhân viên; trong đó, bộ phận kiểm soát chất lượng có hơn 200 người, chiếm gần 13% tổng số nhân viên. Thực tế, số lượng nhân viên thuộc bộ phận kiểm soát chất lượng trong nhiều doanh nghiệp chiếm khoảng 5% đến 10% tổng số nhân viên của công ty. Tỷ lệ tối thiểu là 5%, và tối đa là 10%. Nếu tỷ lệ nhân viên có trình độ chuyên môn cao chiếm dưới 5%, thì điều đó sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp. Trên 10% cũng có thể khiến chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp trở nên quá cao. Tình hình cụ thể vẫn cần được xem xét dựa trên đặc điểm của sản phẩm doanh nghiệp và mức độ chuyên nghiệp trong quản lý. Đối với các chuyên gia về chất lượng, bao gồm nhân viên kiểm tra cơ bản, nhân viên thống kê và phân tích chất lượng, các kỹ sư chuyên xây dựng tiêu chuẩn chất lượng, những người quan tâm đến các yêu cầu đặc biệt của khách hàng và giải quyết các vấn đề thực tế, nhân viên quản lý tài liệu, kỹ sư hệ thống, kỹ sư chất lượng của nhà cung cấp, kỹ sư chất lượng trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển, kỹ sư chất lượng phục vụ khách hàng, kỹ sư công nghệ kiểm tra, kỹ sư cải tiến chất lượng, cùng các nhân viên quản lý chất lượng khác. Điều mà các doanh nghiệp lo sợ nhất chính là sự thiếu hụt tính hệ thống trong quản lý. Và điểm yếu của các doanh nghiệp Trung Quốc chính là ở chỗ tính hệ thống trong quản lý, tính hệ thống trong việc sản xuất sản phẩm, cũng như tính hệ thống trong các quy trình hoạt động. Đây đều là những điểm mạnh của bộ phận kiểm soát chất lượng. Bộ phận hiệu quả nhất để kết nối các đơn vị kinh doanh rời rạc, biệt lập với nhau chính là bộ phận kiểm soát chất lượng. Nhìn vào việc tiêu chuẩn ISO là những tiêu chuẩn quản lý hệ thống và tiêu chuẩn sản phẩm, chúng ta sẽ hiểu được giá trị mà bộ phận kiểm soát chất lượng có thể mang lại. Tương tự, đối với các linh kiện mà công ty mua vào và các sản phẩm được sản xuất ra, không thể chỉ dựa vào việc kiểm tra bằng mắt thường. Việc đầu tư vào các thiết bị kiểm tra chuyên dụng cần thiết cũng là yếu tố quan trọng để đảm bảo chất lượng và việc kiểm tra chuyên sâu về chất lượng sản phẩm. Không thể tưởng tượng nổi rằng có thể nhận biết được các tính chất vật lý của nguyên vật liệu chỉ bằng cách quan sát bằng mắt thường, bao gồm khả năng bị ăn mòn, độ bền, độ cứng và độ nhớt. Cũng không thể tưởng tượng nổi rằng có thể nhìn bằng mắt thường để phát hiện trọng lượng, nhiễu điện từ, kích thước phối hợp ba chiều, độ cong của bề mặt, v.v. Nếu một công ty không chú trọng đến việc đầu tư vào các thiết bị đo lường chuyên nghiệp, thì việc đảm bảo chất lượng sản phẩm chỉ là những lời hứa suông mà thôi. Có gieo trồng thì mới có thu hoạch! Một phần đầu tư, một phần báo cáo. Vì biết rằng chất lượng chính là “sự sống còn” của doanh nghiệp, vậy thì các nhà quản lý doanh nghiệp nên làm gì để đầu tư vào chất lượng, tức là đầu tư vào “sự sống còn” của doanh nghiệp. Nguồn: Mạng internet