Sản xuất khí carbon disulfide
Thread Content
Xin hỏi, **có những quy định nào liên quan đến việc nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất khí carbon disulfide không? Số điện thoại liên hệ là 13832517508. Các quy định này bao gồm các yếu tố về an toàn, môi trường, quy mô sản xuất, v.v.****I. Bố trí ngành công nghiệp**
1. Các nhà máy sản xuất khí carbon disulfide mới được xây dựng hoặc được mở rộng phải nằm trong các khu công nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật (bao gồm các khu công nghiệp hóa chất, khu công nghiệp thông thường, v.v.). Các dự án này phải phù hợp với kế hoạch tổng thể của khu công nghiệp và kế hoạch phát triển ngành công nghiệp. Ngoài ra, khu vực đó cần có nguồn nguyên liệu tốt, khả năng chứa đựng môi trường tốt, và điều kiện giao thông thuận lợi. (II) Cấm tuyệt đối việc xây dựng các nhà máy sản xuất khí disulfide carbon trong các khu danh lam thắng cảnh, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn di sản văn hóa, khu bảo vệ nguồn nước uống, và các khu vực cần được bảo vệ đặc biệt khác, theo quy định của pháp luật. Đối với các nhà máy sản xuất khí carbon disulfide đã bắt đầu xây dựng hoặc đi vào hoạt động trong các khu vực nêu trên, chính quyền địa phương **cần tuân theo các yêu cầu quy hoạch của khu vực đó, và buộc các doanh nghiệp phải ngừng hoạt động trong thời hạn quy định, thông qua các biện pháp như đóng cửa, di dời hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác. II. Quy mô, công nghệ, thiết bị và chất lượng
Để đáp ứng các yêu cầu về tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên và đảm bảo an toàn trong sản xuất, quy mô, công nghệ, thiết bị và chất lượng cần phải đạt các tiêu chuẩn sau:
(a) Đối với các nhà máy sản xuất khí carbon disulfide được xây dựng mới hoặc được mở rộng, quy mô mỗi nhà máy không được thấp hơn 20.000 tấn/năm; tổng quy mô của các nhà máy này không được thấp hơn 50.000 tấn/năm. (II) Loại bỏ các thiết bị sản xuất khí carbon disulfide bằng phương pháp sử dụng than củi, vì phương pháp này gây ô nhiễm nghiêm trọng và công nghệ sử dụng trong quy trình sản xuất đã lạc hậu. Trong vòng hai năm kể từ khi các điều kiện nhập khẩu này có hiệu lực, các nhà máy sản xuất khí carbon disulfide bằng phương pháp sử dụng than cốc làm nguyên liệu sẽ bị loại bỏ. Các thiết bị sản xuất khí carbon disulfide bằng phương pháp cốc gián đoạn hiện có mà không đáp ứng các yêu cầu về an toàn và bảo vệ môi trường thì cần phải được sửa chữa ngay lập tức. Chỉ sau khi được các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra và chấp thuận thì mới có thể tiếp tục sản xuất. (III) Khi xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng các nhà máy sản xuất khí carbon disulfide, cần phải sử dụng các quy trình sản xuất và thiết bị tiên tiến có tính liên tục. Ở những khu vực tuân thủ các chính sách liên quan đến việc sử dụng khí tự nhiên và có nguồn cung cấp khí tự nhiên ổn định, nên áp dụng các công nghệ sản xuất carbon disulfide hiện đại trên phạm vi quốc tế. Hỗ trợ nghiên cứu và phát triển các quy trình mới, thiết bị mới nhằm sản xuất khí carbon disulfide; sau khi được các cơ quan có thẩm quyền ở cấp tỉnh trở lên đánh giá về mặt kỹ thuật, chúng sẽ được áp dụng vào thực tế một cách kịp thời. (IV) Các công đoạn chính trong quy trình sản xuất khí carbon disulfide, cùng các thiết bị then chốt, phải được kiểm soát tự động và giám sát qua video. Đồng thời, cần có các thiết bị xử lý khí thải hiệu quả, đáng tin cậy. Nên khuyến khích việc phát triển và ứng dụng các công nghệ tiên tiến nhằm tận dụng tối đa năng lượng nhiệt từ khí carbon disulfide và khí thải phát sinh. (V) Chất lượng sản phẩm khí disulfur carbon phải đáp ứng các yêu cầu của **tiêu chuẩn 《Khí disulfur carbon dùng trong công nghiệp》 GB/T 1615-2008**. III. Tiêu thụ năng lượng
(a) Các doanh nghiệp sản xuất khí carbon disulfide cần có hệ thống quản lý năng lượng hiệu quả. Họ phải trang bị các thiết bị đo lường năng lượng, và nên thành lập các trung tâm quản lý năng lượng trong doanh nghiệp của mình. (II) Mức tiêu thụ năng lượng trên mỗi đơn vị sản phẩm của các thiết bị sản xuất khí carbon disulfide phải tuân thủ các giá trị quy định sau: Đối với quy trình sản xuất sử dụng than cốc làm nguyên liệu, mức tiêu thụ năng lượng tổng thể trên mỗi tấn sản phẩm không được vượt quá 1120 kg than đá tiêu chuẩn (bao gồm cả chi phí sử dụng nguyên liệu). Đối với quy trình sản xuất sử dụng khí tự nhiên làm nguyên liệu, mức tiêu thụ năng lượng tổng thể trên mỗi tấn sản phẩm không được vượt quá 640 kg than đá tiêu chuẩn (bao gồm cả chi phí sử dụng nguyên liệu). Các dự án xây dựng mới, cải tạo và mở rộng đều phải tiến hành đánh giá và kiểm tra về hiệu quả tiết kiệm năng lượng. (III) Các doanh nghiệp sản xuất khí carbon disulfide hiện có cần thực hiện định kỳ các hoạt động đánh giá và nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng. Những doanh nghiệp chưa đạt được các tiêu chuẩn yêu cầu thì phải khắc phục những thiếu sót đó trước cuối năm 2014. IV. Bảo vệ môi trường
(a) Các thiết bị sản xuất khí carbon disulfide hiện có, cũng như các thiết bị được xây dựng mới hoặc được nâng cấp, phải đáp ứng các tiêu chuẩn về mức độ phát thải chất ô nhiễm theo quy định của nhà nước hoặc của địa phương. Đồng thời, các thiết bị này cũng phải tuân thủ các yêu cầu liên quan đến đánh giá tác động môi trường và kiểm soát tổng lượng chất ô nhiễm được thải ra. Rác thải rắn công nghiệp và rác thải nguy hại cần được xử lý một cách an toàn theo quy định của pháp luật. (II) Khi xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng các nhà máy sản xuất khí carbon disulfide, cần phải thuê các đơn vị có chuyên môn để thực hiện việc đánh giá tác động môi trường của dự án, theo các quy định trong Luật Đánh giá Tác động Môi trường và các luật lệ liên quan khác. “Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm như xử lý “ba loại chất thải” cần được thiết kế, thi công và đưa vào sử dụng cùng lúc với công trình chính. Đồng thời, cần tuân thủ nghiêm ngặt quy định về việc nghiệm thu các cơ sở bảo vệ môi trường sau khi hoàn thành xây dựng. Đối với các thiết bị sản xuất khí carbon disulfide được xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng, không được đưa vào hoạt động nếu chưa qua kiểm tra về mặt môi trường. (III) Các doanh nghiệp sản xuất khí carbon disulfide hiện có cần phải tiến hành kiểm toán về quy trình sản xuất sạch theo quy định. Những trường hợp không vượt qua được kiểm duyệt sẽ được xử lý theo **các quy định pháp luật liên quan**. (IV) Các doanh nghiệp sản xuất khí carbon disulfide phải nộp đơn xin cấp giấy phép quản lý môi trường đối với các chất nguy hiểm theo đúng quy định của pháp luật. V. An toàn, phòng cháy chữa cháy và vệ sinh nghề nghiệp
(1) Doanh nghiệp cần tuân thủ các quy định của Luật An toàn lao động, Luật Phòng cháy chữa cháy, Luật Phòng ngừa và kiểm soát bệnh nghề nghiệp và các quy định pháp luật khác. Doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống quản lý an toàn, đồng thời thiết lập cơ chế trách nhiệm rõ ràng trong việc đảm bảo an toàn lao động. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần đáp ứng các điều kiện về an toàn lao động và vệ sinh nghề nghiệp theo quy định của các luật, quy định pháp luật và tiêu chuẩn liên quan. (II) Các doanh nghiệp cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định trong “Quy chế giám sát và quản lý an toàn đối với các dự án xây dựng liên quan đến hóa chất nguy hiểm”. Các doanh nghiệp phải tiến hành kỹ lưỡng công tác kiểm tra các điều kiện an toàn của dự án, kiểm tra thiết kế các thiết bị an toàn, đăng ký việc sản xuất thử nghiệm và hoàn thành công tác nghiệm thu sau khi xây dựng xong. Đồng thời, các doanh nghiệp phải có giấy phép hoạt động an toàn theo quy định của pháp luật. Họ cũng cần quản lý chặt chẽ các nguồn nguy hiểm lớn. Ngoài ra, các doanh nghiệp cần nỗ lực đạt được tiêu chuẩn về an toàn sản xuất đối với hóa chất nguy hiểm, tức là đạt mức tiêu chuẩn cấp ba trở lên. (III) Các thiết bị an toàn và thiết bị bảo vệ sức khỏe nghề nghiệp trong các dự án xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng phải được thiết kế, xây dựng và đưa vào sử dụng cùng lúc với công trình chính. Đồng thời, cần phải nộp đơn xin cấp giấy phép, kiểm tra và nghiệm thu các thiết bị này cho cơ quan quản lý an toàn lao động theo quy định của pháp luật. Các doanh nghiệp cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh nghề nghiệp, định kỳ kiểm tra và đánh giá các yếu tố gây hại cho sức khỏe nghề nghiệp tại nơi làm việc, đồng thời tiến hành công tác theo dõi sức khỏe nghề nghiệp theo đúng quy định của pháp luật. Khu vực chứa khí carbon disulfide hoặc các nơi khác có nguy cơ gây rò rỉ khí độc hại cần được trang bị các biển cảnh báo về nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp và thiết bị phun nước khẩn cấp. Sản phẩm chứa khí carbon disulfide cần được gắn nhãn an toàn lên bao bì. (IV) Các doanh nghiệp sản xuất, lưu trữ, vận chuyển, kinh doanh và sử dụng khí carbon disulfide phải tuân thủ các quy định liên quan trong “Quy định về quản lý an toàn đối với hóa chất nguy hiểm”. (V) Các doanh nghiệp sản xuất khí carbon disulfide cần xây dựng kế hoạch ứng phó với các sự cố an toàn trong quá trình sản xuất, đồng thời phải bổ nhiệm những nhân viên chuyên trách về an toàn, môi trường và phòng cháy chữa cháy. VI. Giám sát và quản lý
(a) Các hoạt động như đầu tư, cung cấp đất đai, đánh giá môi trường, giám sát an toàn lao động, đánh giá hiệu quả tiết kiệm năng lượng, tài trợ tín dụng… đều phải tuân theo các điều kiện tiên quyết này. (II) Trước khi dự án đi vào hoạt động và trong quá trình vận hành, các cơ quan quản lý công nghiệp và thông tin truyền thông của các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là các cơ quan quản lý công nghiệp và thông tin truyền thông cấp tỉnh) cần tăng cường giám sát việc các doanh nghiệp sản xuất khí carbon disulfide tuân thủ các điều kiện tiên quyết được đặt ra. (III) Các hiệp hội ngành nghề liên quan cần tích cực tuyên truyền, thực hiện các chính sách ngành; đồng thời nâng cao mức độ tự kiểm soát trong nội bộ ngành, và hỗ trợ các cơ quan chức năng trong việc giám sát, quản lý ngành. VII. Quản lý các thông báo
(a) Các doanh nghiệp có nhà máy sản xuất khí carbon disulfide cần nộp đơn xin cấp giấy phép tại cơ quan quản lý ngành công nghiệp và công nghệ thông tin thuộc tỉnh nơi nhà máy đó tọa lạc (thông tin chi tiết xem phụ lục). Cơ quan quản lý công nghiệp và công nghệ thông tin cấp tỉnh chịu trách nhiệm xem xét ban đầu các đơn đăng ký cho phép các doanh nghiệp sản xuất khí disulfur carbon hoạt động trong khu vực mình quản lý, đồng thời thực hiện công tác giám sát và kiểm tra. Bộ Công nghiệp và Công nghệ thông tin chịu trách nhiệm xem xét, kiểm tra các hồ sơ đăng ký do các cơ quan quản lý công nghiệp và công nghệ thông tin ở cấp tỉnh gửi đến, đồng thời công bố danh sách các đơn vị được chấp thuận. Bộ này cũng thực hiện việc quản lý danh sách này một cách dinamique. (II) Các doanh nghiệp muốn được cấp giấy phép hoạt động cần phải có tư cách pháp nhân độc lập, đáp ứng các điều kiện yêu cầu để được cấp phép, tuân thủ các quy định pháp luật liên quan, không có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Đồng thời, các doanh nghiệp này cần nộp đơn xin cấp giấy phép cho doanh nghiệp sản xuất carbon disulfide theo yêu cầu (xem phụ lục). Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về tính xác thực của các tài liệu nộp đơn. (III) Các cơ quan quản lý ngành công nghiệp và công nghệ thông tin ở cấp tỉnh, phối hợp với các cơ quan liên quan, sẽ tiến hành kiểm tra trực tiếp các doanh nghiệp nộp đơn. Họ chịu trách nhiệm điền vào biểu mẫu đánh giá và đưa ra ý kiến xem xét ban đầu. Đối với những doanh nghiệp có hồ sơ đăng ký chưa đầy đủ hoặc không đáp ứng các yêu cầu quy định, cần thông báo kịp thời cho doanh nghiệp đó để họ bổ sung hoặc hoàn thiện hồ sơ. Đối với những doanh nghiệp đáp ứng được các điều kiện cần thiết để tham gia vào ngành công nghiệp carbon disulfide, hồ sơ đăng ký của họ cùng với ý kiến xem xét ban đầu sẽ được gửi lên Bộ Công nghiệp và Công nghệ thông tin. (IV) Trong vòng ba tháng kể từ khi nhận được các hồ sơ đăng ký và ý kiến xem xét sơ bộ từ các cơ quan quản lý ngành công nghiệp và thông tin trên cấp tỉnh, Bộ Công nghiệp và Thông tin sẽ tiến hành việc xem xét lại và kiểm tra. Đối với những doanh nghiệp đáp ứng được các điều kiện cần thiết để được chấp thuận, thông tin về các doanh nghiệp này sẽ được công bố trên trang web của Bộ Công nghiệp và Thông tin trong vòng 10 ngày làm việc. Những doanh nghiệp không có ý kiến phản đối sau khi được công bố sẽ được chính thức công bố thông qua thông báo chính thức. (V) Các doanh nghiệp sản xuất có tên trong danh sách được công bố phải tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện cần thiết để được hoạt động kinh doanh, đồng thời tự kiểm tra bản thân dựa trên các điều kiện đó. Trước ngày 31 tháng 1 hàng năm, phải nộp báo cáo tự kiểm tra của năm trước cho cơ quan quản lý công nghiệp và thông tin truyền thông cấp tỉnh. Nội dung chính của báo cáo tự kiểm tra bao gồm tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, những thay đổi trong nội dung đơn đăng ký, cũng như tình hình xây dựng và thực hiện các quy định liên quan đến an toàn lao động, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, v.v. (6) Các cơ quan quản lý ngành công nghiệp và công nghệ thông tin ở cấp tỉnh phải kiểm tra việc tuân thủ các điều kiện để doanh nghiệp được hoạt động, đồng thời xem xét các báo cáo tự kiểm tra của các doanh nghiệp đó. Trước ngày 15 tháng 3 hàng năm, cần báo cáo kết quả kiểm tra giám sát của năm trước cho Bộ Công nghiệp và Công nghệ Thông tin. Bộ này sẽ tiến hành các cuộc kiểm tra ngẫu nhiên từ thời điểm đó. (7) Bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào phát hiện ra rằng có doanh nghiệp đang trong quá trình xin được công bố thông tin, hoặc đã được công bố thông tin nhưng lại không tuân thủ các quy định, đều có thể báo cáo hoặc khiếu nại lên các cơ quan quản lý ngành công nghiệp và thông tin ở các cấp độ khác nhau. (8) Những doanh nghiệp đã được công bố danh sách nhưng không thể duy trì các điều kiện cần thiết để tiếp tục hoạt động; những doanh nghiệp này có hành vi gian lận trong việc nộp các tài liệu liên quan; từ chối chấp nhận việc kiểm tra, giám sát; gây ra các tai nạn nghiêm trọng về an toàn lao động hoặc ô nhiễm môi trường; hoặc có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Các cơ quan quản lý ngành công nghiệp và thông tin ở cấp tỉnh cần yêu cầu các doanh nghiệp này khắc phục những sai sót trong thời hạn quy định. Nếu các doanh nghiệp này vẫn không khắc phục được những sai sót đó, thì cơ quan quản lý sẽ báo cáo lên Bộ Công nghiệp và Thông tin để yêu cầu hủy bỏ tư cách của các doanh nghiệp này. Nếu Bộ Công nghiệp và Công nghệ thông tin dự định hủy bỏ tư cách công bố thông tin, bộ này sẽ thông báo trước cho cơ quan quản lý ngành công nghiệp và công nghệ thông tin cấp tỉnh cùng các doanh nghiệp liên quan, đồng thời lắng nghe ý kiến và lập luận của các doanh nghiệp đó. Các doanh nghiệp bị thu hồi quyền công bố thông tin, chỉ sau một năm kể từ khi hoàn thành việc khắc phục sai phạm thì mới có thể nộp đơn xin được phép công bố thông tin trở lại. VIII. Các quy định khác
(1) Các điều kiện nhập cảnh này áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp có nhà máy sản xuất khí carbon disulfide trên lãnh thổ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. (II) Nếu các quy định pháp luật và **tiêu chuẩn** liên quan đến các điều kiện nhập cảnh này bị sửa đổi, thì sẽ áp dụng những quy định đã được sửa đổi. (III) Các điều kiện nhập cảnh này có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 5 năm 2013. Bộ Công nghiệp và Công nghệ Thông tin sẽ chịu trách nhiệm giải thích các quy định này. Bộ Công nghiệp và Công nghệ Thông tin sẽ điều chỉnh các điều kiện nhập khẩu này vào thời điểm thích hợp, dựa trên tình hình phát triển của ngành carbon disulfide cũng như yêu cầu về phát triển kinh tế – xã hội.