HCBBS Forum (Tiếng Việt)
Submit Chemical Projects / Find Solutions
Amplify Your Requirements on a Broader Chemical Platform *Engineering · Technology · Equipment · Solutions*
Submit Request

Nói về sự đổi mới trong lĩnh vực phân đạm và metanol

2016-07-22View Original

Thread Content

Hãy cùng tìm hiểu về những đổi mới trong lĩnh vực phân bón nitơ và methanol: http://www.chemcp.com. Ngày 22 tháng 7 năm 2016, trang web về sản phẩm hóa chất của Trung Quốc đã đăng tải thông tin này. Vào ngày 6 tháng 7, tại Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây, diễn ra Hội nghị công nghệ phân bón nitơ và methanol năm 2016. Các chuyên gia trong ngành đã tụ họp lại với nhau để thảo luận về các biện pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển đổi mới trong ngành, đồng thời xác định những trọng tâm và hướng đi cho việc đổi mới công nghệ. Mục tiêu là giải quyết dần những vấn đề như mức độ công nghệ thấp, khả năng đổi mới kém, việc phụ thuộc quá nhiều vào nguồn tài nguyên và vốn đầu tư để mở rộng quy mô kinh doanh.   Những vấn đề còn tồn tại: Các thiết bị lạc hậu và thiếu kinh phí cho việc nghiên cứu phát triển. Ông Gu Zongqin, chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp phân đạm Trung Quốc, đã chỉ ra trong bài phát biểu của mình rằng những nguyên nhân khiến ngành công nghiệp phân đạm và methanol ở Trung Quốc còn yếu kém là do các thiết bị lạc hậu, thiếu nhân lực có trình độ, và thiếu kinh phí. Để nâng cao khả năng sáng tạo, trước hết cần nhận thức đúng đắn về các vấn đề này.   Thứ nhất là một số thiết bị có công nghệ lạc hậu, vấn đề thải ba loại chất thải rất nghiêm trọng. Tại cuộc họp, người ta chỉ ra rằng mức độ công nghệ của một số thiết bị hiện có ở nước ta vẫn còn khá lạc hậu. Điều này thể hiện qua ba khía cạnh chính: thứ nhất là quy mô của các doanh nghiệp còn khá nhỏ, khiến việc tận dụng lợi thế từ quy mô sản xuất trở nên khó khăn. Ví dụ, có 226 doanh nghiệp có công suất sản xuất amoniac tổng hợp dưới 300 nghìn tấn/năm; con số này chiếm 68,3% tổng số doanh nghiệp. Công suất sản xuất của các doanh nghiệp này lại chiếm 35,4% tổng công suất sản xuất toàn ngành ; Có tổng cộng 267 doanh nghiệp có công suất sản xuất methanol dưới 300.000 tấn/năm, chiếm 76% tổng số doanh nghiệp. Công suất sản xuất của các doanh nghiệp này là 23,41 triệu tấn/năm, chiếm 31,4% tổng công suất sản xuất toàn ngành. Thứ hai là một số thiết bị có công nghệ lạc hậu, tiêu thụ năng lượng cao và gây ô nhiễm nghiêm trọng. Khoảng một phần ba các nhà máy sản xuất amoniac quy mô vừa và nhỏ vẫn sử dụng phương pháp khử lưu huỳnh bằng dung dịch amoniac từ khí gas nửa ướt, cùng quy trình tẩy rửa bằng đồng. Áp suất trong quá trình tổng hợp amoniac vẫn ở mức khoảng 30 MPa ; Hai phần ba các nhà máy sản xuất urê quy mô vừa và nhỏ chỉ có thiết bị giải hấp, mà không có thiết bị thủy phân ; Hầu hết các tháp nén urê đều có mức phát thải bụi vượt quy định. Thứ ba, một số thiết bị sản xuất thiếu công nghệ phù hợp để xử lý chất thải, hoặc không có ý thức trong việc xử lý chúng; vì vậy chất thải được thải ra một cách tùy tiện. Ví dụ, amoniac, phenol và cyanide được tạo ra trong quá trình làm mát nước dùng để rửa khí đốt trong tháp làm mát, cũng bị thải ra một cách tùy tiện ; Thiết bị thu hồi nhiệt từ khí thổi phát thải lượng lớn khí sulfur dioxide và oxit nitơ vượt mức quy định ; Quá trình tái chế dung môi dùng để loại bỏ carbon trong quy trình khử carbon bằng phương pháp ướt, gây ra sự bay hơi và thải ra môi trường của các chất hữu cơ như metanol, axit propylenic carbonat, v.v ; Việc thải khí carbon dioxide cùng với nồng độ hydro sunfua vượt mức quy định.   Thứ hai là khả năng sáng tạo yếu kém, động lực phát triển không đủ. Các chuyên gia trong ngành phân tích rằng, lý do chính khiến khả năng đổi mới sáng tạo của các ngành phân bón nitơ và methanol yếu kém là do thiếu nhân lực có tài năng trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo, cùng với việc đầu tư vào hoạt động đổi mới sáng tạo chưa đủ. Số lượng nhân tài kỹ thuật hàng đầu trong toàn ngành còn ít; chỉ có 16 trung tâm kỹ thuật cấp ** (hoặc chi nhánh của các trung tâm này). Hầu hết các doanh nghiệp không có cơ quan nghiên cứu và phát triển riêng, và ngân sách dành cho hoạt động nghiên cứu và phát triển cũng rất ít. Các công nghệ và thiết bị then chốt vẫn phải dựa vào việc nhập khẩu, như quy trình tổng hợp metan quy mô lớn, quy trình tách amoniac bằng phương pháp hơi nước, máy nén khí tổng hợp và máy nén khí carbon dioxide, v.v.; quá trình sản xuất trong nước diễn ra rất chậm.   Thứ ba là hiệu quả kinh doanh trong ngành thấp, thiếu vốn cho việc đổi mới. Gu Zongqin cho rằng, nguyên nhân chính khiến hiệu quả kinh doanh trong lĩnh vực phân đạm và methanol không cao là do cấu trúc nguyên liệu và năng lượng chưa hợp lý, dẫn đến chi phí sản xuất ở mức cao. Khoảng 60% công suất sản xuất amoniac tổng hợp và urê bị ảnh hưởng bởi giá nguyên liệu cao. Việc hủy bỏ chính sách giá điện ưu đãi cũng khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ phụ thuộc vào nguồn điện mua ngoài gặp nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh ; Thứ hai là công suất sản xuất amoniac tổng hợp, urê và methanol vượt mức, khiến giá cả trên thị trường ở mức thấp trong thời gian dài ; Thứ ba, phần lớn các doanh nghiệp có cấu trúc sản phẩm đơn giản, chuỗi sản xuất ngắn, nên khả năng chống chịu rủi ro trên thị trường kém. Chính vì hiệu quả kinh doanh của ngành phân bón nitơ và methanol không tốt, việc đầu tư vào công nghệ đổi mới trong ngành cũng rất ít, dẫn đến thiếu động lực phát triển. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của ngành.   Thứ tư là ý thức về phát triển xanh chưa cao, các biện pháp giảm thiểu chất thải công nghiệp còn yếu kém. Một số doanh nghiệp trong ngành phân bón nitơ và methanol thiếu ý thức về phát triển bền vững; họ chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà bỏ qua yếu tố bảo vệ môi trường, đồng thời cũng yếu kém về ý thức trách nhiệm của mình. Các đại biểu tham dự cuộc họp đều đồng ý rằng nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ô nhiễm từ các chất thải trong ngành phân bón nitơ hiện nay là do ý thức bảo vệ môi trường còn yếu kém. Các doanh nghiệp không muốn chi nhiều tiền hơn cho công tác bảo vệ môi trường, vì vậy việc đầu tư vào lĩnh vực này còn rất hạn chế ; Một trường hợp khác là do hiệu quả kinh doanh kém, tình hình tài chính khó khăn, nên các doanh nghiệp không có đủ ngân sách để đầu tư vào các thiết bị bảo vệ môi trường. Điều này khiến các doanh nghiệp không thể vượt qua được các cuộc kiểm tra của cơ quan bảo vệ môi trường; chúng thường phải ngừng hoạt động do không đáp ứng được các tiêu chuẩn về môi trường. Thậm chí, còn có một số doanh nghiệp gian lận bằng cách xả thải trái phép.   Xem xét hướng phát triển, tận dụng các chính sách để thực hiện quá trình chuyển đổi. Ông Gu Zongqin nhấn mạnh rằng, để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trong ngành phân bón nitơ và methanol, trong kỳ “Kế hoạch 5 năm lần thứ 13”, toàn ngành cần tập trung vào việc đầu tư vào công nghệ, thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau.   Thứ nhất là nâng cao tiêu chuẩn, buộc phải loại bỏ các công suất sản xuất lạc hậu. Xây dựng và sửa đổi các tiêu chuẩn về mức tiêu thụ tài nguyên, năng lượng cũng như tiêu chuẩn phát thải chất ô nhiễm phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước. Những tiêu chuẩn này sẽ giúp nâng cao trình độ sản xuất trong các ngành công nghiệp, đồng thời buộc phải loại bỏ những cơ sở sản xuất lạc hậu, không đáp ứng được các tiêu chuẩn về môi trường và mức tiêu thụ năng lượng. Năm 2015, theo ủy thác của Ủy ban Kỹ thuật Tiêu chuẩn hóa Cơ sở Năng lượng và Quản lý toàn quốc cùng Liên đoàn Công nghiệp Dầu khí và Hóa chất Trung Quốc, 6 tiêu chuẩn về mức tiêu thụ năng lượng cho 4 loại sản phẩm (ammoniac tổng hợp, urê, methanol, amoni cacbonat) đã được ban hành. Đơn vị chủ trì việc soạn thảo các tiêu chuẩn này là Hiệp hội Công nghiệp Phân đạm Trung Quốc. Theo ủy thác của các cơ quan có thẩm quyền, Hiệp hội Công nghiệp phân đạm Trung Quốc đang tổ chức xây dựng các tiêu chuẩn về lượng nước sử dụng trong sản xuất amoniac tổng hợp, ure, methanol. Ngoài ra, hiệp hội cũng đang xây dựng các tiêu chuẩn liên quan đến việc xây dựng các doanh nghiệp tiết kiệm nước trong lĩnh vực công nghiệp phân đạm, cũng như các tiêu chuẩn về khí thải từ ngành công nghiệp phân bón hóa học. Những tiêu chuẩn này sẽ tạo cơ sở để **khuyến khích những công nghệ tiên tiến, đồng thời loại bỏ những công nghệ lạc hậu gây tốn nhiều năng lượng và gây ô nhiễm môi trường**.   Thứ hai là xây dựng nhà máy xanh, thúc đẩy sản xuất xanh. “Kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân và xã hội giai đoạn 2016–2020” đề xuất cần thúc đẩy việc hình thành lối sống và phương thức sản xuất xanh. Còn “Chiến lược Sản xuất tại Trung Quốc 2025” thì đề ra mục tiêu xây dựng các nhà máy xanh. Ngành phân bón nitơ và methanol cần tuân theo các nguyên tắc về tính khả thi về mặt kỹ thuật, tính hợp lý về mặt kinh tế, cũng như khả năng chịu đựng của môi trường và xã hội. Các doanh nghiệp trong ngành này cần áp dụng những công nghệ tiên tiến và phù hợp, đồng thời thực hiện việc cải tạo các ngành công nghiệp truyền thống.   ——Thực hiện tốt công tác di dời các doanh nghiệp sản xuất hóa chất nguy hiểm và cải tạo kỹ thuật để đưa chúng ra khỏi khu vực đô thị. Bộ Công nghiệp đã đưa các dự án di dời và cải tạo các doanh nghiệp này vào danh mục các dự án được hỗ trợ bằng quỹ đầu tư đặc biệt. Đồng thời, bộ này cũng đã soạn thảo xong “Kế hoạch hành động nhằm thúc đẩy việc di dời và cải tạo các doanh nghiệp sản xuất hóa chất nguy hiểm tại các khu vực có mật độ dân số cao”. Đến năm 2020, các doanh nghiệp sản xuất hóa chất nguy hiểm tại những khu vực có mật độ dân cư cao trong các thành phố và thị trấn sẽ được yêu cầu phải di dời và cải tạo. Về nguyên tắc, các doanh nghiệp này phải ngừng hoạt động vào năm 2025; các dự án di dời và cải tạo này cũng phải được thực hiện trong những khu công nghiệp có đầy đủ cơ sở vật chất về an toàn và bảo vệ môi trường. Việc di dời và cải tạo các doanh nghiệp sản xuất hóa chất nguy hiểm không phải là việc xây dựng lại doanh nghiệp ở một địa điểm khác một cách đơn giản. Trong quá trình di dời, cần tối ưu hóa cấu trúc nguyên liệu và nguồn năng lượng sử dụng. Thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo, có thể nâng cao mức độ an toàn của doanh nghiệp, từ đó thực hiện việc điều chỉnh sản phẩm, nâng cấp công nghệ và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.   ——Thực hiện các biện pháp tối ưu hóa hệ thống nhằm giảm tiêu thụ năng lượng và phát thải khí thải. Cần tích cực áp dụng các công nghệ như tối ưu hóa hệ thống, sử dụng năng lượng một cách hiệu quả, tái chế nguyên liệu… để giảm mức tiêu thụ năng lượng. Đồng thời, theo yêu cầu của “Kế hoạch hành động về kiểm soát ô nhiễm không khí” và “Kế hoạch hành động về kiểm soát ô nhiễm nước”, cần áp dụng các công nghệ sản xuất sạch, xử lý nước thải và tái sử dụng nước, cũng như xử lý khí thải và tận dụng chúng một cách hiệu quả. Những biện pháp này nhằm giảm lượng khí thải như lưu huỳnh dioxide, các oxit nitơ, bụi và amoniac từ các ngành sản xuất phân bón và metanol.   ——Thực hiện việc cải tạo hệ thống thiết bị nhằm tiết kiệm năng lượng. Theo các yêu cầu trong các chính sách do Bộ Công nghiệp và Thông tin cùng Ủy ban Phát triển và Cải cách đưa ra, như “Danh mục các thiết bị/mặt hàng sử dụng nhiều năng lượng cần loại bỏ”, “Danh mục hướng dẫn điều chỉnh cơ cấu công nghiệp”, “Kế hoạch nâng cao hiệu suất năng lượng của máy móc”, “Kế hoạch nâng cao hiệu suất năng lượng của các biến áp phân phối điện”, “Kế hoạch tổng thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong các lò hơi chạy bằng than đá”, cần loại bỏ những máy móc, biến áp phân phối điện và lò hơi chạy bằng than đá có mức tiêu thụ năng lượng cao trong ngành sản xuất phân đạm và metanol.   ——Triển khai mạnh mẽ các dự án cải tạo theo hướng thông minh. Sử dụng các công nghệ thông tin thế hệ mới như công nghệ Internet công nghiệp, Internet vạn vật, điện toán đám mây, dữ liệu lớn… để thúc đẩy việc ứng dụng sâu rộng các công nghệ này trong ngành sản xuất phân đạm và methanol. Đồng thời, xây dựng các nền tảng quản lý tài nguyên chung cho ngành này, nhằm tối ưu hóa các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý và ra quyết định một cách thông minh.   ——Tối ưu hóa cấu trúc nguyên liệu và cấu trúc năng lượng. Các doanh nghiệp có điều kiện nên chọn những công nghệ khí hóa tiên tiến phù hợp, dựa trên tình hình cung cấp nguyên liệu, nhằm cải tổ quy trình sử dụng nguyên liệu ; Theo các yêu cầu trong “Quy định quản lý sản xuất điện nhiệt tích hợp” mới nhất, cần tiến hành việc cải tạo cơ cấu năng lượng sao cho vừa phù hợp với thực trạng của doanh nghiệp, vừa đáp ứng được các yêu cầu của chính sách. Điều này giúp giảm chi phí sản xuất và nâng cao khả năng tồn tại của doanh nghiệp.   Thứ ba là thúc đẩy sự đổi mới trong ngành, nâng cao khả năng cạnh tranh. Ngành phân bón nitơ và methanol cần củng cố tư duy lấy đổi mới làm động lực, nỗ lực thay đổi tình trạng phải dựa chủ yếu vào việc nhập khẩu các công nghệ then chốt, từ đó rút ngắn khoảng cách về mặt công nghệ giữa trong nước và quốc tế. Cần xây dựng một hệ thống đổi mới công nghệ lấy doanh nghiệp làm trung tâm, hướng tới thị trường và kết hợp giữa sản xuất, nghiên cứu và giảng dạy. Đồng thời, cần xây dựng một số trung tâm công nghệ cấp cao trong các doanh nghiệp, từ đó nuôi dưỡng và phát triển những doanh nghiệp tiên phong có khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế. Tăng cường xây dựng đội ngũ nhân tài sáng tạo, đào tạo ra những người có khả năng sáng tạo mạnh mẽ. Nỗ lực đạt được những bước đột phá quan trọng trong các công nghệ then chốt, đồng thời phát triển một loạt công nghệ và thiết bị mới, vừa đạt tiêu chuẩn quốc tế và trong nước, vừa phù hợp với nhu cầu phát triển của ngành.   Cần chú trọng việc cải tạo nhằm giảm thiểu chi phí năng lượng và khí thải. Ông Gu Zongqin đã chỉ ra rằng toàn bộ ngành công nghiệp cần phải thực hiện tốt các yêu cầu được nêu trong “Kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội giai đoạn 13” cũng như “Chiến lược Sản xuất tại Trung Quốc 2025”. Các doanh nghiệp trong ngành phân bón nitơ và methanol cần tiến hành cải tạo để đạt được mức độ xanh và thông minh hơn trong quy trình sản xuất. Trong tương lai, các doanh nghiệp này cần tập trung vào bốn khía cạnh: phát triển các công nghệ sản xuất tiên tiến, ứng dụng các công nghệ giúp giảm thiểu chi phí năng lượng và khí thải, điều chỉnh cơ cấu sản phẩm, và thực hiện các hoạt động so sánh và đánh giá chất lượng sản phẩm trong ngành.   Gu Zongqin nhấn mạnh rằng, nhiệm vụ chính trong việc đổi mới công nghệ trong ngành phân bón nitơ và methanol chính là phát triển một loạt các công nghệ sản xuất tiên tiến, ngang tầm với các tiêu chuẩn quốc tế. Giải quyết một loạt các công nghệ cốt lõi phụ thuộc vào việc nhập khẩu.   Thứ hai, toàn ngành cần tích cực thúc đẩy việc cải tiến công nghệ nhằm giảm thiểu tiêu hao năng lượng và khí thải. Thứ nhất là cải tạo công nghệ tiết kiệm năng lượng cho hệ thống. Sử dụng các công nghệ như chuyển đổi ở nhiệt độ không đổi, kỹ thuật tổng hợp áp suất thấp quy mô lớn, chất xúc tác hiệu quả, chất xúc tác dùng để khử trước, quy trình tách ure bằng hơi nước, ure tiết kiệm năng lượng loại JX, cùng các thiết bị hiệu quả cao, nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng của các thiết bị ; Tăng cường việc tối ưu hóa và cải tạo hệ thống, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý, nhằm nâng cao hiệu suất truyền chất và truyền nhiệt, từ đó giảm lượng chất lỏng cần vận chuyển ; Sử dụng thiết bị tiết kiệm điện để nâng cao hiệu quả sử dụng điện ; Đẩy nhanh việc cải tạo cấu trúc động lực, giảm mức tiêu thụ điện từ nguồn bên ngoài ; Tăng cường việc sử dụng năng lượng một cách hiệu quả, đồng thời tận dụng tối đa nhiệt và áp suất dư thừa, nhằm giảm mức tiêu thụ năng lượng tổng thể của toàn hệ thống. Thứ hai là cải tạo công nghệ xử lý nước thải với mức phát thải cực thấp. Tiếp tục triển khai các biện pháp cải tạo công nghệ nhằm đạt mục tiêu “không thải nước thải từ quá trình sản xuất phân đạm”. Sử dụng các quy trình sản xuất sạch để giảm thiểu lượng chất gây ô nhiễm ngay từ nguồn. Tận dụng triệt để nước thải có hàm lượng amoniac và COD cao; áp dụng các công nghệ như xử lý nước thải với mức thải cực thấp, tái sử dụng nước thải, kết tinh muối theo từng loại, cũng như công nghệ khí hóa than hiện đại để xử lý nước thải hữu cơ có nồng độ cao và chuyển đổi chất thải rắn thành khí. Nhờ đó, có thể giảm lượng chất gây ô nhiễm như amoniac, nitơ tổng số, COD, v.v. Thứ ba là cải tạo công nghệ nhằm giảm phát thải chất ô nhiễm trong không khí. Tập trung thực hiện cải tạo theo hướng sản xuất sạch đối với khí thải từ quy trình công nghệ, khí thải từ lò hơi và khí thải từ quá trình tạo hạt. Nâng cao trình độ công nghệ tổng hợp sử dụng ba loại chất thải; thu hồi metan từ các chất thải phụ để tạo ra LNG, và sản xuất axit sunfuric từ các khí có tính axit ; Thực hiện việc nâng cấp các thiết bị thu hồi nhiệt từ khí thải; thay thế các thiết bị thu hồi nhiệt loại nhỏ, có áp suất trung bình và thấp bằng các lò hơi có áp suất cao và trung bình. Đồng thời, cũng cần nâng cấp các lò hơi sử dụng than đá, và thúc đẩy việc cải tạo các thiết bị dùng để xử lý bụi phát sinh trong quá trình tạo hạt urê.   Một lần nữa, các doanh nghiệp cần nỗ lực điều chỉnh cơ cấu sản phẩm của mình. Với mục tiêu nâng cao tỷ lệ sử dụng phân đạm, người ta đang nỗ lực điều chỉnh cơ cấu các sản phẩm phân bón một cách triệt để. Tiếp tục thực hiện triệt để “Kế hoạch hành động nhằm giảm thiểu việc sử dụng phân bón đến mức bằng không vào năm 2020”. Mục tiêu là đến năm 2020, tỷ lệ sử dụng phân bón cho các loại cây trồng chính phải đạt trên 40%. Tập trung phát triển một số loại phân bón mới có thể được sản xuất với quy mô lớn và phù hợp để sử dụng cho các loại cây trồng ngoài đồng. Các loại phân bón này chủ yếu bao gồm phân nitơ tăng hiệu quả, dung dịch urê và axit amin, phân hỗn hợp nitrat, phân hòa tan trong nước, phân lỏng hiệu quả cao, canxi axit amin, phân photphat nitrat, v.v.   Với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, cần chủ động điều chỉnh cơ cấu các sản phẩm hóa chất. Cần lấy thị trường làm hướng dẫn, coi công nghệ khí hóa là trọng tâm, sử dụng carbon monoxide, hydro, amoniac tổng hợp, axit nitric, urê, methanol… làm nguyên liệu chính. Đồng thời, cần nỗ lực phát triển các sản phẩm hóa chất có nguyên liệu phù hợp, công nghệ tiên tiến và phù hợp với đặc điểm khu vực, cũng như các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, nhằm tạo ra sự phát triển khác biệt.   Thứ tư, triển khai rộng rãi các hoạt động so sánh và đánh giá chất lượng trong ngành. Tiếp tục triển khai công tác đề cử các doanh nghiệp tiên phong về hiệu suất năng lượng trong lĩnh vực sản xuất amoniac và methanol, nhằm tạo ra những mô hình tiêu biểu về việc tiết kiệm năng lượng ; Tiến hành công tác đề cử và lựa chọn những doanh nghiệp dẫn đầu về hiệu quả sử dụng nước trong sản xuất amoniac tổng hợp và methanol, nhằm tạo ra những mô hình tiêu biểu về việc tiết kiệm nước ; Tiến hành việc xét chọn “Giải thưởng cho những thành tựu công nghệ trong lĩnh vực phân đạm và methanol”, nhằm khuyến khích sự sáng tạo, thúc đẩy việc ứng dụng các thành tựu sáng tạo vào thực tiễn. Đồng thời, ghi nhận kịp thời những thành tựu về mặt công nghệ, từ đó thúc đẩy quá trình chuyển giao các thành tựu này vào sản xuất thương mại ; Tiến hành việc xếp hạng các đơn vị tiên tiến trong lĩnh vực tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải, nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững và tuần hoàn trong ngành sản xuất phân đạm và methanol trong kỳ “13.5” ; Tiến hành đánh giá các công nghệ tiên tiến và hiệu quả trong lĩnh vực tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải, nhằm thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của ngành sản xuất phân đạm và methanol trong kỳ “13 khóa”. (Tiêu Tiểu Mao)
Reply #22016-07-27
Thật tiếc vì không thể tham dự cuộc họp.

Submit a Project

**Looking for Chemical Technology, Equipment & Solutions?** No Registration Required Broader Platform Exposure | Global Chemical Service Provider Connections

Submit Request — Free Consultation

Disclaimer

This is an automated machine translation of the original thread. Some technical terms may have inaccuracies; the original text shall prevail. Click "View Original" at the top right to access the source page, which supports IP-based automatic real-time language translation. Please watch out for contact details and sales inducements to prevent fraud. All content and translations are for reference only, representing solely the poster's personal views. For enquiries, email service@hcbbs.com.