HCBBS Forum (Tiếng Việt)
Submit Chemical Projects / Find Solutions
Amplify Your Requirements on a Broader Chemical Platform *Engineering · Technology · Equipment · Solutions*
Submit Request

Tình hình phát triển ngành luyện than cốc tại Hoa Kỳ

2016-07-30View Original

Thread Content

Bài viết này cuối cùng được edited bởi angryant vào ngày 2016-7-30 lúc 16:58. Hiện tại, công suất sản xuất của ngành luyện than cốc ở Mỹ được dự đoán sẽ phù hợp với nhu cầu sản xuất thép; mặc dù tuổi thọ của nhiều lò luyện than cốc đã vượt quá 40 năm. Xét về cơ cấu năng lực sản xuất, 60% công suất sản xuất thuộc về các doanh nghiệp sản xuất thép. Trong khi đó, 40% công suất còn lại thuộc về các doanh nghiệp chuyên sản xuất than cốc độc lập. Tuy nhiên, ngoại trừ khả năng sản xuất than cốc dùng trong ngành đúc kim loại, thì khả năng sản xuất than cốc dùng trong ngành luyện kim của các doanh nghiệp này ngày càng được hợp tác với các doanh nghiệp sản xuất thép. Ví dụ, công ty AK Steel đã đầu tư vào công ty Sun Coke để xây dựng nhà máy sản xuất than cốc. Phân tích quá trình phát triển của ngành luyện than cốc tại Mỹ cho thấy, ngành này chủ yếu phụ thuộc vào ngành thép. Còn ngành thép ở Mỹ lại liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm: các cơ sở sử dụng năng lượng tái tạo, máy móc và thiết bị, quốc phòng, giao thông, cơ sở hạ tầng, v.v. Có thể nói, ngành thép là một ngành công nghiệp quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế và an ninh của Hoa Kỳ. Hàng năm, ngành thép mang lại giá trị 350 tỷ đô la cho nền kinh tế Mỹ, tạo ra 1 triệu việc làm trực tiếp và gián tiếp cho người dân nước này. Hiện có 100 nhà máy hoạt động trong ngành này, với 130.000 nhân viên làm việc tại đây. Ngoài ra, tỷ lệ tái chế nguyên liệu trong ngành thép của Mỹ cũng cao nhất cả nước; vào năm 2009, tỷ lệ này lên tới 83,3%. Kể từ năm 1990, mức tiêu thụ năng lượng để sản xuất thép đã giảm 30%, còn lượng khí carbon dioxide thải ra thì giảm 35%. Vì vậy, ngành thép là một ngành công nghiệp không thể thiếu trong nền kinh tế Hoa Kỳ. Ngành sản xuất than cốc ở Mỹ phát triển song hành với ngành thép, và khó có thể được thay thế. Kể từ khi bước vào thế kỷ mới, sản lượng thép thô của Mỹ vẫn duy trì ở mức khoảng 90 triệu tấn/năm; còn sản lượng sắt từ lò luyện gang là khoảng 30 triệu tấn/năm. Nhu cầu về than cốc cũng khá ổn định, với mức sản xuất và tiêu thụ khoảng 15 triệu tấn/năm. Lượng than cốc nhập khẩu có tính linh hoạt cao; tỷ lệ than cốc nhập khẩu trong tổng lượng tiêu thụ than cốc của Mỹ cũng thay đổi theo thời gian. Việc nhập khẩu than cốc giúp cân bằng thị trường nội địa, đồng thời bổ sung thêm lượng than cốc chất lượng cao. Khi xu hướng hội nhập kinh tế giữa Mỹ, Canada và Mexico ngày càng phát triển, việc xuất khẩu than cốc gần như chỉ còn là phương thức để điều phối nguồn lực trong khu vực Bắc Mỹ mà thôi. I. Tổng quan về thị trường than cốc của Mỹ 1. Trong 80 năm qua, Mỹ luôn giữ vị trí dẫn đầu thế giới về sản xuất than cốc. Việc sản xuất than cốc ở Hoa Kỳ bắt đầu từ năm 1833; cho đến nay đã có 177 năm lịch sử. Kể từ năm 1875, khi các lò luyện gang ở Hoa Kỳ bắt đầu sử dụng than cốc thay vì than gỗ, sản lượng than cốc cũng tăng lên mạnh theo sự phát triển của ngành công nghiệp thép. Mức sản lượng than cốc cao nhất từng được ghi nhận ở Hoa Kỳ (không bao gồm bụi than) là 68,297,100 tấn vào năm 1955. Lượng than cốc tiêu thụ cũng đạt mức cao nhất vào cùng năm, với con số 69,022,700 tấn. Lượng gang được sản xuất từ các lò luyện gang sử dụng than cốc cũng đạt mức kỷ lục 79,260,000 tấn trong năm đó. Cũng trong năm đó, sản lượng thép thô của Hoa Kỳ lần đầu tiên vượt qua mức 100 triệu tấn, đạt 106 triệu tấn. Ngành sản xuất than cốc của Mỹ tiêu thụ 2% lượng than của nước này. Trong khoảng thời gian từ năm 1890 đến năm 1970, sản lượng sắt thô và than cốc của Mỹ luôn đứng đầu thế giới. Từ năm 1970 đến năm 1991, Liên Xô là quốc gia dẫn đầu về sản lượng sắt thô và than cốc. Từ năm 1992 cho đến nay, Trung Quốc vẫn giữ vị trí số một thế giới về sản lượng sắt thô và than cốc trong gần 20 năm qua. Từ năm 1965 đến năm 1970, sản lượng và mức tiêu thụ than cốc của Hoa Kỳ đều ở mức khoảng 60 triệu tấn. Sau năm 1970, cả hai con số này đều giảm dần theo từng năm. Trong vòng 60 năm kể từ năm 1949 đến nay, mức sản xuất than cốc thấp nhất của Hoa Kỳ là 10,1067 triệu tấn vào năm 2009; mức tiêu thụ cũng ở mức thấp nhất là 9,3603 triệu tấn trong cùng năm đó. Những con số này thấp hơn 85,21% và 86,44% so với mức cao nhất vào năm 1955. Sự giảm sút trong sản xuất và tiêu thụ than cốc của Hoa Kỳ có liên quan trực tiếp đến sự giảm sản lượng sắt thô và thép trong cùng giai đoạn. Năm 2009, sản lượng sắt thô từ các lò luyện gang của Hoa Kỳ là 19,018 triệu tấn, còn sản lượng thép thô là 59,196 triệu tấn – đây là mức thấp nhất trong 60 năm qua. Những con số này thấp hơn 76% và 55,8% so với mức cao nhất trong cùng giai đoạn. Lý do khiến mức giảm sản lượng sắt thô và thép không đồng bộ là do sản lượng thép được sản xuất bằng phương pháp lò điện chiếm tỷ trọng 60%, trong khi sản lượng thép được sản xuất bằng phương pháp lò luyện kim (sử dụng than cốc, quặng sắt – sắt thô – thép) chỉ còn 40%. 2. Năm 2010, sản xuất và tiêu thụ than cốc đều ở mức cao, nhưng lợi nhuận lại giảm sút. Năm 2010, sự phục hồi của ngành thép Mỹ đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành luyện cốc. Trong năm đó, Mỹ đã sản xuất được 26,82 triệu tấn sắt thô và 80,594 triệu tấn thép nguyên chất, tăng lần lượt 41,02% và 38,49% so với năm trước. Thống kê về sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu và tiêu thụ than cốc tại Hoa Kỳ (không bao gồm bột than cốc), cùng sản lượng thép (đơn vị: nghìn tấn). Năm | Sản xuất | Nhập khẩu | Xuất khẩu | Tiêu thụ | Sản lượng sắt thô | Sản lượng thép thô
2007 | 1469,43 | 223,12 | 130,97 | 1566,39 | 3633,7 | 9810,2
2008 | 1419,09 | 326,79 | 177,68 | 1542,44 | 3299,2 | 9135
2009 | 1010,67 | 31,47 | 118,54 | 936,3 | 1901,8 | 5819,6
2010 | 1362,5 | 110,11 | 132,69 | 1346,62 | 2682 | 8059,4
Quý I năm 2011 | 336,32 | 26,21 | 16,42 | 351,01 | 709 | 2124,9
Quý I năm 2010 | 311,37 | 33,11 | 25,85 | 325,43 | 604,2 | 1958,9
Theo báo cáo thường kỳ về năng lượng của Bộ Năng lượng Hoa Kỳ vào tháng 6 năm 2011: Năm 2010, Hoa Kỳ đã sản xuất tổng cộng 1468,25 nghìn tấn than cốc (bao gồm cả bột than cốc), tăng 37,56% so với năm trước. Trong đó, lượng than cốc có kích thước hạt bình thường (theo tiêu chuẩn Mỹ: kích thước hạt > 10mm) là 13,6249 triệu tấn; còn lượng bột than cốc (kích thước hạt từ 0mm đến 10mm) là 1,0576 triệu tấn. Các con số này tăng lần lượt 34,81% và 86,56% so với cùng kỳ năm trước. Xét về phía các doanh nghiệp sản xuất, 60% lượng than cốc được sản xuất bởi các doanh nghiệp thép, còn 40% đến từ các doanh nghiệp chuyên sản xuất than cốc độc lập ; Theo loại: 6% là than cốc dùng để đúc, 94% là than cốc dùng trong quy trình luyện kim trong lò cao. Đến cuối năm 2010, lượng hàng tồn kho than cốc của các doanh nghiệp luyện than ở Mỹ là 775.500 tấn, giảm 22.700 tấn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lượng than cốc có kích thước hạt thông thường là 653.900 tấn, còn lượng bột than là 101.600 tấn. Con số này giảm 49.900 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong khi lượng bột than lại tăng 27.200 tấn. Năm 2010, giá bán than cốc trong nước tại Mỹ giảm, trong khi lượng bán ra lại tăng. Năm 2010, tổng lượng than cốc có kích thước hạt thông thường được bán trong nước Mỹ là 7,599,800 tấn. Giá trung bình của than cốc này là 210,63 đô la/tấn. Con số này tăng 45,45% so với năm trước, trong khi giá lại giảm 31,46% ; Bán được 800.900 tấn bột than, với mức giá trung bình là 54,04 đô la/mét tấn. Con số này tăng 97,12% so với cùng kỳ năm trước, trong khi mức giá lại giảm 0,4%. Năm 2010, ngành luyện than của Hoa Kỳ đã sử dụng 19,1304 triệu tấn than, tăng 39,95% so với năm trước. Trong thời gian dài, mức tiêu thụ than cốc trong ngành công nghiệp của Mỹ chỉ chiếm khoảng 2% tổng lượng than được sử dụng trên toàn quốc. Vào năm 2010, tỷ lệ giữa than và than cốc ở Mỹ là 1,3:1; con số này vẫn duy trì ở mức tương tự kể từ năm 2001. Năm 2010, hàm lượng tro trong than cốc mà ngành công nghiệp chế biến than cốc ở Mỹ sử dụng là 7,94%, còn hàm lượng lưu huỳnh là 1,12%. So với năm trước, hàm lượng tro tăng thêm 0,03%, trong khi hàm lượng lưu huỳnh giảm 0,01%. Năm 2010, giá than cốc mà ngành luyện than của Mỹ phải trả là 139,71 đô la/mét khối, tăng 0,74% so với năm trước. Con số này cao hơn gấp 230,9% so với mức giá vào năm 2001. Đến cuối năm 2010, ngành luyện than của Mỹ có tổng lượng than cốc dự trữ là 1,7459 triệu tấn, chiếm 9,13% tổng lượng tiêu thụ trong cả năm. Nếu tính theo mức sản xuất không ngừng nghỉ trong 365 ngày mỗi năm, thì lượng than cốc dự trữ vào cuối năm sẽ đủ để duy trì hoạt động sản xuất trong 33 ngày. Kể từ năm 2005, mức tồn kho than cốc cuối năm của ngành luyện than tại Mỹ luôn duy trì ở mức tương đương với lượng tiêu thụ trong 30–40 ngày. Ngành luyện than của Hoa Kỳ: Lượng than tiêu thụ, sản lượng than cốc và tỷ lệ than/than cốc
Năm | Lượng than tiêu thụ (nghìn tấn) | Sản lượng than cốc (nghìn tấn) | Tỷ lệ than/than cốc
2007 | 2060.25 | 1579.81 | 1.3
2008 | 2001.75 | 1517.5 | 1.32
2009 | 1390.07 | 1067.36 | 1.3
2010 | 1913.04 | 1468.25 | 1.3

Tỷ lệ lượng than cốc dự trữ so với tổng lượng than tiêu thụ trong năm
Thời điểm | Lượng than dự trữ (nghìn tấn) | Tổng lượng than tiêu thụ trong năm (nghìn tấn) | Tỷ lệ than dự trữ/Tổng lượng than tiêu thụ (%)
31-12-2007 | 172.33 | 2060.25 | 8.36
31-12-2008 | 208.61 | 2001.75 | 10.42
31-12-2009 | 177.49 | 1390.07 | 12.77
31-12-2010 | 174.59 | 1913.04 | 9.13

Giá mua than cốc tại các nhà máy luyện than của Hoa Kỳ
Năm | Giá (đô la/mét khối)
2007 | 86.14
2008 | 107.11
2009 | 129.71
2010 | 139.31

Vào năm 2010, Hoa Kỳ nhập khẩu 110.11 nghìn tấn than cốc, với giá trung bình là 300.85 đô la/mét khối. Con số này tăng lần lượt 248.8% và 23.59% so với các năm trước ; Năm 2010, Hoa Kỳ đã xuất khẩu 1,326,9 triệu tấn than cốc, với mức giá trung bình là 151,69 đô la/tấn (giá FAS – tức giá bán tại cảng, chưa bao gồm chi phí bốc xếp). Con số này tăng lần lượt 11,94% và 61,65% so với năm trước. Năm 2010, lượng than cốc tiêu thụ tại Hoa Kỳ (tổng sản lượng + nhập khẩu – xuất khẩu – sự thay đổi về tồn kho) là 13,4662 triệu tấn, tăng 43,82% so với năm trước. Điều này giúp giảm bớt tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và 2009 đối với ngành công nghiệp chế biến than cốc tại Hoa Kỳ. Năm 2010, ngành sản xuất và tiêu thụ than cốc tại Hoa Kỳ vẫn phát triển tốt, nhưng lợi nhuận của ngành lại giảm sút. Giá mua than cốc trong năm đó tăng 0,74% so với cùng kỳ năm trước; mức tăng này khá khiêm tốn. Trong khi đó, giá than cốc (bao gồm cả bột than) trong nước là 195,7 đô la/mét tấn, giảm mạnh 32,33% so với cùng kỳ. Lượng than cốc được tiêu thụ là 8,4006 triệu tấn, tăng mạnh 49,71% so với cùng kỳ năm trước. Ngành luyện than của Mỹ đã sử dụng chiến lược giảm giá để kích thích doanh số bán hàng, nhằm duy trì mức sản xuất ổn định, nâng tỷ lệ hoạt động của các nhà máy và giảm lượng hàng tồn kho. Năm 2010, sản lượng than cốc tăng 37,56% so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ sử dụng công suất của các nhà máy luyện than là 86,42% (tăng 22,31 điểm phần trăm so với cùng kỳ). Lượng hàng tồn kho giảm 2,92%. Những mục tiêu này đã được đạt được, nhưng hiệu quả kinh doanh của ngành luyện than ở Mỹ trong năm 2010 vẫn giảm sút. 3. Trong quý đầu năm 2011, cả sản xuất lẫn tiêu thụ than cốc đều tăng lên đồng thời. Trong quý đầu năm 2011, sản lượng than cốc tại Mỹ và mức tiêu thụ trong nước đều tăng lên; lượng hàng tồn kho giảm. Chất lượng than cốc cũng xấu đi. Đồng thời, cả lượng than cốc nhập khẩu lẫn xuất khẩu đều giảm, nhưng giá của nó lại tăng. Trong quý đầu năm 2011, Mỹ đã sản xuất được 3,6026 triệu tấn than nguyên chất, tăng 7,80% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng than cốc thông thường là 3,3632 triệu tấn, còn than bụi là 239,4 nghìn tấn; tỷ lệ tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước lần lượt là 8% và 5%. Trong quý đầu năm, lượng hàng tồn kho than cốc tại Mỹ là 663.900 tấn, giảm 12,6% so với cùng kỳ năm trước, và giảm 12,14% so với mức tồn kho vào cuối năm 2010. Trong quý đầu năm, ngành luyện than của Mỹ đã mua than dùng để luyện cốc với hàm lượng tro là 9,02% và hàm lượng lưu huỳnh là 1,17%. Các con số này tăng lần lượt 1,14 điểm phần trăm và 0,06 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. So với quý cuối năm 2010, chúng cũng tăng lần lượt 1,11 điểm phần trăm và 0,04 điểm phần trăm. Trong quý đầu năm 2011, Hoa Kỳ đã xuất khẩu 164.200 tấn than cốc. Giá bán trung bình là 235,33 đô la/mét tấn (theo mức giá FAS – tức là giá khi hàng được giao tại bến tàu, chưa bao gồm chi phí vận chuyển). So với cùng kỳ năm trước, lượng hàng xuất khẩu giảm 36,6%, trong khi giá lại tăng 31,7%. Trong quý đầu tiên, lượng than cốc nhập khẩu là 262.100 tấn. Mức giá trung bình mà hải quan tính toán cho mỗi tấn than cốc là 327,87 đô la Mỹ. So với cùng kỳ năm trước, lượng than cốc nhập khẩu giảm 21%, trong khi giá lại tăng 41,6%. Trong quý đầu năm, Mỹ đã tiêu thụ 3,510,1 triệu tấn than cốc, tăng 7,86% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, sản lượng sắt thô từ các lò luyện gang của Mỹ là 7,09 triệu tấn, còn sản lượng thép thô là 21,249 triệu tấn; mức tăng lần lượt là 17,35% và 8,47%. Mức tăng trong việc tiêu thụ than cốc đi đôi với mức tăng trong sản lượng thép. II. Tình hình của các doanh nghiệp luyện than độc lập và các doanh nghiệp sản xuất thép tại Hoa Kỳ
Tính đến ngày 15 tháng 7 năm 2011, Hoa Kỳ có tổng cộng 18 nhà máy luyện than đang hoạt động, cùng với một nhà máy khác sẽ đi vào hoạt động trước cuối năm 2011. Những nhà máy này thuộc quyền sở hữu của 10 công ty (bao gồm 2 công ty liên doanh). Trong số đó, có 6 công ty là doanh nghiệp luyện than độc lập, với 10 nhà máy luyện than; công suất sản xuất than của các công ty này là 6,005 triệu tấn/năm. Còn có 4 công ty sản xuất thép, với 8 nhà máy luyện than; công suất sản xuất than của các công ty này là 9,76 triệu tấn/năm. Tổng công suất sản xuất than của Hoa Kỳ là 15,765 triệu tấn/năm. Trong đó, các doanh nghiệp sản xuất thép chiếm 62%, còn các doanh nghiệp luyện than độc lập chiếm 38%. Công suất sản xuất than dùng cho mục đích luyện kim chiếm 93%, còn than dùng cho mục đích đúc kim loại chiếm 7%. Năm 2010, tỷ lệ sử dụng công suất sản xuất than cốc của Hoa Kỳ là 86,42%, tăng 22,31 điểm phần trăm so với năm trước. Tổng công suất sản xuất than cốc của bốn công ty lớn nhất về lĩnh vực này tại Mỹ là 12,95 triệu tấn, chiếm 82,14% tổng sản lượng than cốc toàn nước Mỹ. Mức độ tập trung trong ngành này vượt quá 75%, thuộc dạng thị trường độc quyền. Dự kiến trước cuối năm 2011, nhà máy sản xuất than cốc Middleton ở bang Ohio, được xây dựng thông qua sự hợp tác giữa công ty Sun Coke và công ty AK Steel, sẽ đi vào hoạt động. Khi đó, khả năng sản xuất than cốc của Hoa Kỳ sẽ đạt 16,315 triệu tấn. Công ty thép của Mỹ là đơn vị có công suất sản xuất than cốc lớn nhất cả nước. Công suất sản xuất tại Mỹ là 6,5 triệu tấn/năm, còn ở nước ngoài là 3,9 triệu tấn/năm. Tổng công suất sản xuất là 10,4 triệu tấn/năm. Chủ yếu được phân bố tại 6 nhà máy luyện cốc sau: nhà máy luyện cốc Clayton của công ty U.S. Steel tại bang Pennsylvania, với 12 lò luyện cốc; công suất thiết kế là 4,7 triệu tấn/năm ; Nhà máy luyện than của công ty thép Mỹ tại Gary, bang Indiana: 3 lò luyện than, công suất thiết kế là 1,3 triệu tấn/năm ; Nhà máy luyện than Granite của công ty thép Mỹ tại bang Illinois, gồm 2 lò luyện than; công suất thiết kế là 500.000 tấn/năm ; Chi nhánh sản xuất thép của công ty American Steel Company tại Hamilton, tỉnh Ontario, Canada đã đưa vào hoạt động một lò luyện than vào năm 1973. Lò này có 83 buồng luyện than; chiều cao của các buồng này là 5 mét. Khả năng sản xuất của lò này là 700.000 tấn/năm ; Chi nhánh sản xuất thép của công ty American Steel Company tại Lake Erie, Ontario, Canada – gồm 2 lò luyện gang, với công suất thiết kế là 1 triệu tấn/năm ; Chi nhánh sản xuất thép của công ty American Steel Company tại Košice, Slovakia, có hai lò luyện than kiểu Nga. Phòng luyện than của lò số 1 có chiều cao 5 mét (được hoàn thành vào năm 1984), còn phòng luyện than của lò số 2 thì có chiều cao 7 mét (được hoàn thành vào năm 1986). Cả hai lò này được thiết kế để sản xuất 2,2 triệu tấn than mỗi năm. Than cần thiết cho các lò này được nhập khẩu từ Ba Lan, Ukraine và Cộng hòa Séc, thông qua đường sắt. Tổng sản lượng than mà nhà máy này tạo ra hàng năm là 1,87 triệu tấn; do đó, họ vẫn cần phải mua thêm than từ bên ngoài. Năm 2000, sản lượng than cốc của công ty thép Hoa Kỳ là 5,19 triệu tấn; năm 2004 là 8,38 triệu tấn; năm 2007 là 7,35 triệu tấn; còn năm 2008 thì là 8,15 triệu tấn. 2. Công ty Sun Coke là doanh nghiệp sản xuất than cốc độc lập lớn nhất tại Hoa Kỳ. Năng lực sản xuất than cốc trong nước của công ty này là 3,19 triệu tấn mỗi năm, còn ở nước ngoài thì là 1,7 triệu tấn mỗi năm. Tổng cộng 4,89 triệu tấn/năm. Đồng thời, công nghệ lò luyện than có khả năng thu hồi nhiệt cũng được ứng dụng rộng rãi tại 6 nhà máy luyện than sau: Nhà máy luyện than Jewel của công ty Sun Coke tại Vance, bang Virginia. Nhà máy này bắt đầu hoạt động từ năm 1962; hiện tại, có 142 lò luyện than trong nhà máy này sử dụng công nghệ thu hồi nhiệt. Ngoài ra, nhà máy còn được trang bị nhà máy phát điện sử dụng khí từ lò luyện than. Khả năng sản xuất than hàng năm của nhà máy này là 720.000 tấn ; Nhà máy than cốc của công ty Sun Coke tại Indiana Port, East Chicago, Indiana (lò luyện than với hệ thống thu hồi nhiệt). Nhà máy này bắt đầu hoạt động vào năm 1998. Có tổng cộng 268 lò luyện than, với công suất thiết kế là 1,22 triệu tấn/năm ; Nhà máy than cốc Black Ferry của công ty Sun Coke tại bang Ohio (loại lò nung có khả năng thu hồi nhiệt). Năm 2005, lò nung thứ nhất với 100 lỗ được đưa vào hoạt động; năm 2008, lò nung thứ hai cũng được đưa vào hoạt động với 100 lỗ. Tổng công suất thiết kế của cả hai lò nung này là 1,1 triệu tấn/năm ; Nhà máy than cốc Granite của công ty Sun Coke tại bang Illinois; vào năm 2009, nhà máy này đã đưa vào hoạt động 120 lò luyện than, với công suất thiết kế là 650.000 tấn/năm ; Vào nửa sau năm 2011, nhà máy luyện than Middleton tại bang Ohio – được xây dựng thông qua sự hợp tác giữa công ty Sun Coke và công ty AK Steel (loại lò luyện than có khả năng thu hồi nhiệt) – đã bắt đầu hoạt động. Nhà máy này có 100 lò luyện than, với công suất thiết kế là 550.000 tấn/năm ; Nhà máy luyện than của công ty Sun Coke tại Victoria, bang São Espírito Santo, Brazil, có 320 lò luyện than. Công suất thiết kế của nhà máy này là 1,7 triệu tấn/năm; nhà máy bắt đầu hoạt động vào năm 2007. Công ty thép ArcelorMittal có khả năng sản xuất 2,26 triệu tấn than cốc mỗi năm tại Hoa Kỳ. Các nhà máy của công ty này chủ yếu tập trung ở Port Burns, bang Indiana. Tại đây, có hai lò luyện than kiểu Cobb: một lò có 80 lỗ, và một lò có 82 lỗ. Khả năng sản xuất than cốc của các lò này là 1,44 triệu tấn mỗi năm. 820.000 tấn công suất sản xuất còn lại được phân bổ tại các nhà máy luyện cốc thuộc các công ty thép trong nước Mỹ, mà ArcelorMittal đã mua lại. 4. Công ty Sheffield North America Steel là chi nhánh tại Mỹ của tập đoàn thép lớn nhất Nga – tập đoàn Severstal. Vào năm 2008, công ty này đã mua lại công ty PBS Coal của Mỹ (với công suất sản xuất 4,28 triệu tấn mỗi năm; dự kiến sẽ đạt 6,9 triệu tấn vào năm 2014). Năm 2004, công ty này cùng với công ty Wellington Pittsburgh Steel của Mỹ đã thành lập một công ty chuyên sản xuất than cốc tại bang West Virginia. Công suất sản xuất của các lò luyện than cốc này là 1 triệu tấn mỗi năm: 3 lò có kích thước buồng luyện than là 3 mét, và 1 lò có kích thước buồng luyện than là 6 mét. Tập đoàn Severstal nắm giữ 50% cổ phần trong công ty này, do đó có quyền sử dụng 50% lượng than cốc được sản xuất. Công ty PBS Coal của Mỹ cung cấp 50% lượng than cần thiết cho công ty chuyên sản xuất than cốc này. 5. Công ty DTE Energy Services – ban đầu là một công ty chuyên kinh doanh than đá. Sau đó, công ty này đã mua lại hai nhà máy luyện cốc độc lập, với công suất sản xuất cốc hàng năm lên tới 750.000 tấn. Công ty ABC Coke, nằm dưới sự kiểm soát của công ty Drummond Coal Company, có trụ sở tại Tallant, bang Alabama. Công ty này được thành lập vào năm 1980. Hiện tại, công ty có 132 lò luyện than cốc; công suất sản xuất của các lò này là 730.000 tấn than cốc mỗi năm. Trong suốt 30 năm hoạt động, công ty này đã sản xuất và bán ra hơn 50% tổng lượng than cốc trên toàn nước Mỹ. Chất lượng than cốc được sản xuất ra rất tốt: hàm lượng carbon cố định là 92,5%, hàm lượng tro là 7%, hàm lượng chất bay hơi là 0,5%, còn hàm lượng lưu huỳnh là 0,6%. Những khách hàng chính sử dụng loại than cốc này là ngành công nghiệp ô tô, xây dựng, ngành sản xuất thạch cao và ngành sản xuất đường. Công ty này là doanh nghiệp sản xuất than cốc lớn nhất tại Hoa Kỳ. Để đảm bảo hoạt động sản xuất ổn định, công ty này dựa vào nguồn than cốc chất lượng cao từ công ty mẹ của mình – công ty Drummond Coal Company, có trụ sở tại các bang Alabama và Virginia. Công ty Drummond Coal Company được thành lập vào năm 1935; từ năm 1970, công ty này bắt đầu xuất khẩu than. Đến năm 1995, công ty này sở hữu một trong hai mỏ than lớn nhất ở Colombia. 7. Công ty AK Steel: Vào nửa sau năm 2011, công ty này đã hợp tác với công ty Sun Coke để xây dựng nhà máy sản xuất than cốc Midland ở bang Ohio (loại lò sản xuất than cốc có khả năng thu hồi nhiệt). Nhà máy này có 100 lò sản xuất than cốc, với công suất 550.000 tấn mỗi năm. 8. Công ty Walter Coke được thành lập vào năm 1882, có trụ sở tại Birmingham, bang Alabama. Từ năm 1920, công ty bắt đầu sản xuất than cốc dùng trong ngành luyện kim và chế tạo kim loại. Hiện tại, công ty có 120 lò sản xuất than cốc, với công suất thiết kế là 460.000 tấn than cốc mỗi năm. Công ty Illy Coal Company được thành lập vào năm 1833, có trụ sở tại thành phố Illy, bang Pennsylvania. Công ty này đã xây dựng lò luyện than đầu tiên tại Pennsylvania vào năm 1907; đến năm 1925, họ lại xây dựng thêm một lò luyện than nữa. Đó là lò luyện than lớn nhất thế giới vào thời điểm đó, với 37 lỗ luyện than. Hiện nay, công ty này sản xuất được 195.000 tấn than luyện mỗi năm. Kích thước hạt than luyện của công ty này dao động từ 113mm, 90mm, 61mm đến 20mm. Công ty Tonawanda Coke Company nằm tại Tonawanda, bang New York. Nhà máy luyện than đầu tiên của công ty được đưa vào hoạt động vào năm 1917 (đóng cửa vào năm 1972). Nhà máy thứ hai được xây dựng vào năm 1926, nhưng cũng ngừng hoạt động vào năm 1961. Vào năm 1962, một nhà máy luyện than mới có chiều cao 4 mét được xây dựng tại chỗ. Nhà máy này có khả năng sản xuất 180.000 tấn than mỗi năm. Lượng tro và lưu huỳnh trong than này khá thấp; kích thước hạt than dao động từ 137mm, 91mm, 61mm, 30mm đến 7,6mm. Tình hình các lò nung than của các công ty luyện cốc lớn tại Hoa Kỳ
Tên công ty | Loại hình | Khả năng sản xuất | Vị trí
ABC Coke Company (thuộc công ty Drummond Coal Company) | Lò nung độc lập | 730.000 tấn/năm | Tallant, Alabama
Walter Coke Company | Lò nung độc lập | 460.000 tấn/năm | Birmingham, Alabama
Sun Coke Company – Nhà máy ở Indiana Port (sử dụng công nghệ thu hồi nhiệt) | Lò nung độc lập | 1,22 triệu tấn/năm | East Chicago, Indiana
Sun Coke Company – Nhà máy Granite Coke | Lò nung độc lập | 650.000 tấn/năm | Granite City, Illinois
Sun Coke Company – Nhà máy Black Friar Coke (sử dụng công nghệ thu hồi nhiệt) | Lò nung độc lập | 1,1 triệu tấn/năm | Black Friar, Ohio
Sun Coke Company – Nhà máy Jewel Coke (sử dụng công nghệ thu hồi nhiệt) | Lò nung độc lập | 720.000 tấn/năm | Vanceville, Virginia
Sun Coke Company/AK Steel Company – Nhà máy Middleton Coke (đang được xây dựng, sử dụng công nghệ thu hồi nhiệt) | Lò nung độc lập | 550.000 tấn/năm | Middleton, Ohio
DTE Energy Company – Nhà máy luyện cốc | Lò nung độc lập | 400.000 tấn/năm | Ecorse, Michigan

Tình hình nhập khẩu và xuất khẩu cốc của Hoa Kỳ
1. Hoa Kỳ có khả năng nhập khẩu cốc rất cao. Trong gần 60 năm qua, Hoa Kỳ vẫn phải nhập khẩu than cốc. Con số này ít nhất là 90.700 tấn mỗi năm trong giai đoạn từ năm 1955 đến 1965; cao nhất là 6,2583 triệu tấn vào năm 2004. Sự chênh lệch giữa các con số này lên tới 69 lần. Năm 1975, lượng than cốc nhập khẩu vượt mức 1 triệu tấn. Từ năm 1980 đến 1990, lượng nhập khẩu dao động trong khoảng 500.000 – 700.000 tấn mỗi năm. Từ năm 1995 đến 2008, con số này nằm trong khoảng 2 triệu – 3,6 triệu tấn mỗi năm. Năm 2009, lượng nhập khẩu giảm xuống mức thấp nhất trong 35 năm qua, chỉ còn 314.700 tấn, đây cũng là mức giảm lớn nhất trong 60 năm qua. Năm 2010, lượng nhập khẩu lại tăng trở lại, đạt mức 1,1011 triệu tấn, đây cũng là mức tăng cao nhất trong 60 năm qua. Trong gần 20 năm qua, Mỹ chủ yếu nhập khẩu than cốc từ Trung Quốc, Nhật Bản, Ba Lan, Ukraine, Nga, Canada và Colombia. Theo báo cáo thống kê của Bộ Thương mại Hoa Kỳ, trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2008, Mỹ đã nhập khẩu từ 1 triệu tấn đến 3 triệu tấn than cốc từ Trung Quốc mỗi năm; con số này chiếm 34%-65% tổng lượng than cốc mà Mỹ nhập khẩu. Năm 2004 là năm có mức nhập khẩu cao nhất, với 3,6757 triệu tấn, chiếm 58,73% tổng lượng than cốc nhập khẩu trong năm đó. Xét về lượng nhập khẩu, trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, Trung Quốc là quốc gia cung cấp than cốc lớn nhất cho Mỹ. Nhưng sau cuộc khủng hoảng tài chính, cùng với việc Trung Quốc nâng mức thuế xuất khẩu than cốc lên 40%, lượng than cốc mà Mỹ nhập khẩu từ Trung Quốc đã giảm sút. Năm 2009, lượng than cốc nhập khẩu vào Mỹ chỉ còn 20.200 tấn, giảm mạnh 2.128.200 tấn so với năm trước. Con số này chiếm 6,42% tổng lượng than cốc mà Mỹ nhập khẩu. Giá nhập khẩu than cốc vào Mỹ là 203,13 đô la/tấn, tức là mức giá thấp nhất trong số tất cả các loại hàng hóa được nhập khẩu vào Mỹ ; Năm 2010, Mỹ đã nhập khẩu 173.100 tấn than cốc từ Trung Quốc, chiếm 15,72% tổng lượng than cốc mà Mỹ nhập khẩu. Giá nhập khẩu là 398,14 đô la/mét tấn, cao nhất trong số các quốc gia khác. Mức tăng giá so với năm trước lên tới 96% ; Năm 2010, Việt Nam đã nhập khẩu 222.700 tấn than cốc từ Nhật Bản, với mức giá 380,87 đô la Mỹ/tấn. Mức tăng giá so với năm trước là 5,5%. Trong cùng năm đó, giá than cốc nhập khẩu từ Nga thì thấp nhất, ở mức 79,41 đô la Mỹ/tấn; có lẽ đó là than cốc có kích thước hạt dưới 15 mm. Quý I năm 2011 không có việc nhập khẩu than cốc từ Trung Quốc. Năm 2009, Hoa Kỳ là nước nhập khẩu than cốc từ Canada nhiều nhất, với lượng nhập khẩu lên tới 164.400 tấn ; Năm 2010, lượng hàng nhập khẩu từ Nhật Bản nhiều nhất, đạt 222.700 tấn ; Trong quý đầu năm 2011, lượng hàng nhập khẩu từ Nga là cao nhất, với con số 78.900 tấn. Từ năm 2009 đến quý đầu tiên của năm 2011, Nhật Bản, Ba Lan, Ukraine, Nga, Colombia và Canada trở thành những quốc gia cung cấp than cốc chính cho Hoa Kỳ. Trong số đó, mức tăng về lượng than cốc nhập khẩu từ Ba Lan, Nga, Ukraine và Colombia là khá đáng kể. Trong quý đầu năm 2011, lượng than cốc mà Ukraine và Nga xuất khẩu sang Hoa Kỳ tương đương với tổng lượng xuất khẩu trong cả năm 2010. Lợi thế địa lý khi Colombia nằm gần Hoa Kỳ đã giúp tăng lượng than cốc được xuất khẩu sang nước này. Năm 2004, lượng than cốc xuất khẩu sang Hoa Kỳ là 60.500 tấn; năm 2008 là 376.200 tấn; còn năm 2010 thì là 128.900 tấn. Thống kê nhập khẩu than cốc của Hoa Kỳ: Quốc gia/nguồn hàng – Năm 2007, 2008, 2009, 2010, quý I năm 2011
Trung Quốc: 98,5; 121,48; 2,02; 17,31
Nhật Bản: 71,73; 54,74; 4,22; 22,27
Ba Lan: 6,03; 17,02; 4,26
Ukraina: 4,38; 4,31; 3,8
Canada: 15,95; 3,63; 16,44; 7,18; 0,31
Nga: 7,12; 7,89
Úc: …
Liberia: …
Colombia: 17,82; 37,62; 1,12; 12,89; 4,42
Ai Cập: 3,98; 9,59
Malta: …
Brazil: 1,57; 1,51; 3,55; 3,03
Đức: 3,15
Venezuela: 3,23
Ấn Độ: 3,03
Ý: 2,78
Anh: 5,49
Tổng cộng: 223,12; 326,79; 31,47; 110,11; 26,21

Giá (đô la Mỹ/tấn): 176,43; 421,85; 243,41; 300,85; 327,87

Trong 60 năm qua, tỷ lệ than cốc nhập khẩu của Hoa Kỳ trong tổng lượng tiêu thụ than cốc của cả nước dao động từ 0,13% đến 30%. Tỷ lệ nhập khẩu có xu hướng tăng từ năm 1995 đến năm 2008: từ năm 1995 đến năm 2003, tỷ lệ này khoảng 14%, năm 2004 đạt mức cao nhất là 30%. Từ năm 2005 đến năm 2008, tỷ lệ này khoảng 20%. Sau năm 2008, tỷ lệ này giảm mạnh: năm 2009 là 3,36%, năm 2010 trở lại mức 8,17%. Dự kiến năm 2011 tỷ lệ này sẽ vào khoảng 10%. Nếu phân tích một cách hợp lý về việc Mỹ nhập khẩu than cốc, có thể nói rằng Mỹ là một quốc gia công nghiệp phát triển mạnh trong lĩnh vực sản xuất than cốc. Năng lực sản xuất than cốc của Mỹ đủ để đáp ứng nhu cầu sản xuất thép trong nước. Việc nhập khẩu than cốc chỉ nhằm kiềm chế giá than cốc trong nước và cân bằng nhu cầu tiêu thụ than cốc mà thôi. Do đó, bất kỳ quốc gia sản xuất than cốc nào cũng không thể coi Mỹ là nguồn cung cấp than cốc chính cho mình. 2. Xuất khẩu than cốc của Mỹ chỉ giới hạn trong khu vực Bắc Mỹ. Trong gần 60 năm qua, các năm 1950 và 1960 là những năm mà xuất khẩu của Mỹ ở mức thấp nhất. Trong hai năm này, lượng hàng hóa xuất khẩu chỉ đạt 362.800 tấn mỗi năm. Đến năm 1970, lượng than cốc xuất khẩu của Mỹ đạt mức cao nhất trong 60 năm qua, tức 2,2675 triệu tấn. Sau đó, vào năm 1975, con số này giảm xuống còn khoảng 1 triệu tấn. Đến năm 1980, lượng hàng hóa xuất khẩu lại tăng trở lại, đạt gần 2 triệu tấn mỗi năm. Từ năm 1985 đến năm 2003, trong gần 20 năm đó, ngoại trừ các năm 1995 và 2001 khi lượng hàng hóa xuất khẩu vượt quá 1 triệu tấn, thì các năm còn lại đều dưới mức 1 triệu tấn. Từ năm 2003 đến năm 2010, lượng hàng hóa xuất khẩu lại tăng trở lại, vượt quá 1 triệu tấn mỗi năm. Năm 2010, Hoa Kỳ đã xuất khẩu 1,326,9 triệu tấn than cốc, với mức giá trung bình là 151,69 đô la/mét tấn (giá FAS – tức giá bán tại cảng, chưa bao gồm chi phí đóng gói hàng hóa). Con số này tăng lần lượt 11,94% và 61,65% so với năm trước. Các thị trường chính mà Hoa Kỳ xuất khẩu than cốc sang là Canada, Mexico, Brazil và Ấn Độ. Năm 2010, mức giá xuất khẩu sang Algeria cao nhất là 238,35 đô la Mỹ/tấn, còn mức giá thấp nhất là 90,78 đô la Mỹ/tấn khi xuất khẩu sang Brazil. Trong quý đầu năm 2011, Hoa Kỳ đã xuất khẩu 164.200 tấn than cốc. Giá bán trung bình là 235,33 đô la Mỹ mỗi tấn (theo mức giá FAS – tức là giá khi hàng được giao tại bến cảng, chưa bao gồm chi phí đóng gói). So với cùng kỳ năm trước, lượng xuất khẩu giảm 36,6%, trong khi giá bán lại tăng 31,7%. Các thị trường chính để xuất khẩu than cốc của Hoa Kỳ là Canada, Mexico và Brazil. Trong quý đầu năm 2011, mức giá xuất khẩu sang Brazil cao nhất là 253,22 đô la Mỹ/tấn, còn ở Mexico thì thấp nhất là 212,15 đô la Mỹ/tấn. Xét về mặt khu vực thị trường, thị trường xuất khẩu than cốc của Mỹ khá đơn điệu. 50% lượng than cốc được xuất khẩu đi các nước thuộc Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA), tức là Canada và Mexico. Lý do chính là vì một số công ty thép của Mỹ đã đầu tư xây dựng nhà máy thép tại Canada và Mexico; do đó, họ cần có nguồn cung cấp than cốc từ các nhà máy luyện than do công ty mẹ ở Mỹ kiểm soát, để phục vụ cho các chi nhánh sản xuất thép ở nước ngoài. Việc cung cấp than cốc qua biên giới khiến việc phân phối than cốc trong nội bộ tập đoàn chuyển thành hoạt động xuất khẩu. Ví dụ, công ty US Steel có nhà máy sản xuất thép tại thành phố Calgary, tỉnh Alberta, Canada. Ngoài ra, công ty này còn có các công ty con chung với ArcelorMittal tại Hamilton, tỉnh Ontario; mỗi bên nắm giữ 50% cổ phần trong các công ty này. Các công ty này có khả năng sản xuất 280.000 tấn thép mỗi năm. US Steel cũng thành lập một công ty liên doanh với công ty ACERO Prime tại bang San Luis Potosí, Mexico; công ty này có khả năng sản xuất 380.000 tấn thép mỗi năm, trong đó US Steel nắm giữ 40% cổ phần. Thống kê xuất khẩu than cốc của Hoa Kỳ: Các quốc gia đích xuất khẩu/Năm: 2007, 2008, 2009, 2010, Quý I năm 2011
Canada: 54,4; 27,8; 38,0; 13,6; 3,12
Chile: 0
Mexico: 36,28; 59,61; 46,24; 6,23; 5,42
Brazil: 5,5; 12,58; 3,07
Các nước châu Âu khác: 5,8; 8,56; 4,89
Châu Á: 12,7; Ấn Độ: 8,04; 11,67
Các nước châu Phi khác: 11,74; 0,58
Algeria: 5,13; 4,3
Nam Phi: 6,19; 2,94
Tổng cộng: 130,97; 177,68; 118,54; 132,69; 16,42

Giá (đô la Mỹ/ton): 82,3; 197,45; 93,84; 151,69; 235,33

Ghi chú:
1. Nguồn dữ liệu: Bộ Năng lượng Hoa Kỳ, Bộ Thương mại Hoa Kỳ, Hiệp hội Công nghiệp thép quốc tế.
2. Lượng tiêu thụ than cốc = (Sản xuất + Nhập khẩu) – (Xuất khẩu + Thay đổi tồn kho)

Submit a Project

**Looking for Chemical Technology, Equipment & Solutions?** No Registration Required Broader Platform Exposure | Global Chemical Service Provider Connections

Submit Request — Free Consultation

Disclaimer

This is an automated machine translation of the original thread. Some technical terms may have inaccuracies; the original text shall prevail. Click "View Original" at the top right to access the source page, which supports IP-based automatic real-time language translation. Please watch out for contact details and sales inducements to prevent fraud. All content and translations are for reference only, representing solely the poster's personal views. For enquiries, email service@hcbbs.com.