HCBBS Forum (Tiếng Việt)
Submit Chemical Projects / Find Solutions
Amplify Your Requirements on a Broader Chemical Platform *Engineering · Technology · Equipment · Solutions*
Submit Request

Quy định về an toàn lao động của tỉnh Chiết Giang (được sửa đổi năm 2016, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 8 năm 2016)

2016-08-02View Original

Thread Content

Thông báo số 45 của Ủy ban Thường vụ Hội đồng Nhân dân tỉnh Chiết Giang: “Quy định về an toàn lao động tại tỉnh Chiết Giang” đã được sửa đổi và thông qua tại phiên họp lần thứ 31 của Ủy ban Thường vụ Hội đồng Nhân dân tỉnh Chiết Giang khóa XII vào ngày 29 tháng 7 năm 2016. Bản quy định đã được sửa đổi này hiện được công bố, và sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 8 năm 2016. Ủy ban Thường vụ Hội đồng Nhân dân tỉnh Chiết Giang, ngày 29 tháng 7 năm 2016
Quy định về an toàn lao động của tỉnh Chiết Giang (được sửa đổi năm 2016)
(Được thông qua tại phiên họp lần thứ 26 của Ủy ban Thường vụ Hội đồng Nhân dân tỉnh Chiết Giang khóa X vào ngày 28 tháng 7 năm 2006; được sửa đổi tại phiên họp lần thứ 31 của Ủy ban Thường vụ Hội đồng Nhân dân tỉnh Chiết Giang khóa XII vào ngày 29 tháng 7 năm 2016)

Mục lục:
Chương 1: Những quy định chung
Chương 2: Các biện pháp bảo đảm an toàn lao động đối với các đơn vị sản xuất, kinh doanh
Chương 3: Giám sát và quản lý an toàn lao động
Chương 4: Trách nhiệm pháp lý
Chương 5: Các quy định khác

Chương 1: Những quy định chung
Điều 1: Nhằm tăng cường công tác an toàn lao động, ngăn chặn và giảm thiểu các tai nạn lao động, bảo vệ tính mạng và tài sản của người dân, thúc đẩy sự phát triển bền vững về kinh tế – xã hội, duy trì sự ổn định của xã hội, căn cứ vào “Luật An toàn lao động của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” (sau đây gọi là Luật An toàn lao động) cùng các luật, quy định hành chính liên quan, đồng thời kết hợp với điều kiện thực tế của tỉnh này, quy định này được ban hành. Điều 2: Quy định này được áp dụng đối với việc quản lý an toàn lao động và các hoạt động giám sát liên quan đến các đơn vị thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong phạm vi hành chính của tỉnh này (bao gồm cả các cá nhân kinh doanh; từ nay về sau gọi chung là các đơn vị sản xuất, kinh doanh). Trong trường hợp các luật, quy định liên quan có những quy định riêng về an toàn phòng cháy, an toàn giao thông đường bộ, an toàn giao thông đường sắt, an toàn giao thông đường thủy, an toàn hàng không dân dụng, an toàn trong xây dựng công trình, an toàn đường ống dẫn dầu và khí đốt, cũng như an toàn hạt nhân và bức xạ, an toàn thiết bị đặc biệt, thì sẽ áp dụng các quy định đó. Còn trong trường hợp các luật, quy định liên quan không có quy định nào cả, thì sẽ áp dụng các quy định của quy chế này. Điều 3: Các đơn vị sản xuất, kinh doanh phải tăng cường quản lý an toàn lao động, xây dựng và hoàn thiện hệ thống vận hành theo tiêu chuẩn an toàn lao động, nhằm nâng cao mức độ an toàn trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Đơn vị sản xuất kinh doanh là chủ thể chịu trách nhiệm về an toàn lao động trong đơn vị mình. Người đứng đầu đơn vị phải chịu trách nhiệm toàn diện về công tác an toàn lao động; các nhân viên khác thì chịu trách nhiệm về công tác an toàn lao động trong phạm vi trách nhiệm của mình. Điều 4: Các cơ quan nhà nước ở cấp huyện trở lên cần tăng cường sự lãnh đạo trong công tác an toàn lao động. Các cơ quan này phải đưa công tác an toàn lao động vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, xây dựng các kế hoạch an toàn lao động phù hợp với kế hoạch quy hoạch đô thị và nông thôn. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế trách nhiệm trong việc giám sát và quản lý công tác an toàn lao động, đảm bảo có đủ nguồn tài chính để thực hiện công tác này. Ủy ban An toàn sản xuất thuộc cấp huyện trở lên có nhiệm vụ phối hợp và giải quyết các vấn đề quan trọng liên quan đến việc giám sát và quản lý an toàn sản xuất. Theo nguyên tắc “ai chịu trách nhiệm quản lý thì phải chịu trách nhiệm, ai phê duyệt thì phải chịu trách nhiệm”, ủy ban này cần xác định rõ các nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể của các đơn vị thành viên trong công tác an toàn sản xuất. Sau đó, các quyết định này phải được cơ quan nhân dân cùng cấp phê duyệt mới có thể được thực hiện. Các cơ quan được giao nhiệm vụ từ phía người dân ở các xã (thị trấn), cùng với các cơ quan quản lý thuộc các khu phố, khu công nghiệp… sẽ xác định rõ các cơ quan và nhân viên chịu trách nhiệm giám sát an toàn lao động, dựa trên nhu cầu của công tác giám sát và quản lý an toàn lao động. Những cơ quan này sẽ kiểm tra tình hình an toàn lao động tại các đơn vị sản xuất, kinh doanh trong phạm vi quản lý của mình, đồng thời hỗ trợ các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ giám sát an toàn lao động theo đúng pháp luật. Điều 5: Các cơ quan quản lý, giám sát an toàn lao động ở cấp huyện trở lên có trách nhiệm thực hiện công tác quản lý, giám sát tổng thể về an toàn lao động trong phạm vi khu vực hành chính của mình. Các cơ quan này cũng có nhiệm vụ giám sát, hướng dẫn và phối hợp với các cơ quan liên quan cùng cấp trong công tác quản lý, giám sát an toàn lao động. Ngoài ra, các cơ quan này còn chịu trách nhiệm quản lý, giám sát công tác an toàn lao động tại các đơn vị sản xuất, kinh doanh thuộc phạm vi trách nhiệm của mình. Các cơ quan như Công an nhân dân, Giao thông vận tải, Cảng biển, Xây dựng, Giám sát chất lượng và kỹ thuật, Ngư nghiệp, Phát triển và cải cách, Thông tin kinh tế, Bảo vệ môi trường, Thủy lợi, Du lịch ở các cấp huyện trở lên chịu trách nhiệm giám sát và quản lý công tác an toàn lao động trong các lĩnh vực mà mình phụ trách. Các cơ quan chịu trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn lao động, cùng với các cơ quan phụ trách công tác giám sát và quản lý an toàn lao động trong các ngành, lĩnh vực liên quan, được gọi chung là các cơ quan có trách nhiệm về giám sát và quản lý an toàn lao động. Điều 6: Người đứng đầu các cấp chính quyền nhân dân chịu trách nhiệm toàn diện về công tác an toàn lao động trong khu vực hành chính mà mình quản lý ; Người chịu trách nhiệm về công tác an toàn lao động sẽ trực tiếp chỉ đạo các hoạt động liên quan đến an toàn lao động ; Các người phụ trách khác, trong khi thực hiện trách nhiệm lãnh đạo trong lĩnh vực mà mình phụ trách, cũng đồng thời thực hiện trách nhiệm lãnh đạo công tác an toàn lao động. Người đứng đầu các cơ quan chịu trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn lao động phải chịu trách nhiệm toàn diện về công tác an toàn lao động trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của mình ; Người chịu trách nhiệm về công tác an toàn lao động sẽ đảm nhận toàn bộ công việc liên quan đến lĩnh vực này ; Các người phụ trách khác, trong khi thực hiện nhiệm vụ quản lý các lĩnh vực mà mình được giao, cũng chịu trách nhiệm cụ thể về công tác an toàn lao động. Các cơ quan nhân dân ở cấp huyện trở lên cần đưa công tác an toàn lao động vào nội dung đánh giá các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn lao động thuộc cơ quan mình, cũng như các người đứng đầu các cơ quan đó; đồng thời, kết quả đánh giá này cũng cần được coi là cơ sở quan trọng để đánh giá hiệu quả công việc của họ. Kết quả đánh giá cần được công bố cho xã hội. Điều 7: Các cấp chính quyền nhân dân và các cơ quan liên quan cần áp dụng nhiều hình thức khác nhau để phổ biến các luật, quy định về an toàn lao động cũng như kiến thức liên quan đến an toàn lao động. Đồng thời, cần tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục về an toàn lao động. Ủy ban cư dân, ủy ban làng mạc phải hỗ trợ. Tháng Sáu hàng năm là Tháng tuyên truyền an toàn lao động; các cấp chính quyền nhân dân và các cơ quan liên quan cần tổ chức các hoạt động tuyên truyền về an toàn lao động một cách tích cực. Các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, phát thanh, điện ảnh, truyền hình, Internet… cần thực hiện các hoạt động tuyên truyền về an toàn lao động một cách có tính cộng đồng. Đồng thời, cần sáng tạo ra những hình thức giám sát dư luận hiệu quả hơn, nhằm kiểm soát chặt chẽ các hành vi vi phạm quy định về an toàn lao động. Điều 8: Các tổ chức hiệp hội liên quan cần phải, dựa trên đặc điểm của từng ngành nghề, tiến hành các hoạt động tuyên truyền về an toàn lao động, hướng dẫn các doanh nghiệp trong việc thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn lao động. Đồng thời, các tổ chức này cũng cần cung cấp thông tin, dịch vụ đào tạo, tư vấn liên quan đến an toàn lao động, nhằm nâng cao ý thức tự giám sát của các doanh nghiệp và thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường quản lý an toàn lao động. Các tổ chức liên quan có thể, theo đúng pháp luật, đưa ra các đề xuất tới các cơ quan có thẩm quyền nhằm xây dựng hoặc sửa đổi các tiêu chuẩn an toàn lao động ở cấp địa phương. Khuyến khích các đơn vị soạn thảo tiêu chuẩn an toàn lao động mời các hiệp hội liên quan tham gia vào việc xây dựng và sửa đổi tiêu chuẩn. Chương 2: Các biện pháp đảm bảo an toàn lao động tại các đơn vị sản xuất, kinh doanh
Điều 9: Các đơn vị sản xuất, kinh doanh phải đáp ứng các điều kiện về an toàn lao động được quy định trong luật pháp, các quy định khác, cũng như các tiêu chuẩn liên quan, tiêu chuẩn ngành và tiêu chuẩn địa phương ; Không được sử dụng các quy trình, thiết bị, vật liệu và công nghệ bị coi là nguy hiểm đối với an toàn sản xuất, như đã được ** và tỉnh công bố. Điều 10: Người chịu trách nhiệm chính của đơn vị sản xuất, kinh doanh phải thực hiện các nhiệm vụ sau đây: (1) Các nhiệm vụ được quy định trong Luật An toàn lao động và các luật, quy định khác ; (II) Giám sát việc thực hiện các quy định về an toàn lao động và các quy trình hoạt động tại đơn vị mình ; (III) Giám sát việc xử lý các nguy cơ tai nạn trong đơn vị mình ; (IV) Tổ chức hoặc tham gia các cuộc diễn tập ứng phó khẩn cấp trong trường hợp xảy ra tai nạn lao động một cách định kỳ ; (5) Hàng năm, phải báo cáo tình hình an toàn lao động của đơn vị mình cho đại hội nhân viên, hội đồng đại diện nhân viên, hội đồng cổ đông hoặc đại hội cổ đông. Đồng thời, phải chấp nhận sự giám sát của công đoàn, người lao động và cổ đông đối với công tác an toàn lao động. Điều 11: Các đơn vị khai thác mỏ, luyện kim, xây dựng, sửa chữa hoặc tháo dỡ tàu thuyền, các đơn vị vận tải đường bộ; các đơn vị sản xuất, kinh doanh, lưu trữ hàng hóa nguy hiểm; cùng các đơn vị sản xuất mà lượng hóa chất nguy hiểm sử dụng tạo thành nguồn nguy cơ nghiêm trọng, đều phải thành lập cơ quan quản lý an toàn lao động hoặc bổ nhiệm nhân viên chuyên trách về an toàn lao động theo các quy định sau: (1) Đối với các đơn vị có từ 300 nhân viên trở lên, phải thành lập cơ quan quản lý an toàn lao động, và phải bổ nhiệm nhân viên chuyên trách về an toàn lao động với tỷ lệ không dưới 1% tổng số nhân viên ; (II) Đối với các doanh nghiệp có từ 100 nhân viên trở lên nhưng chưa đến 300 nhân viên, cần phải thành lập bộ phận quản lý an toàn lao động, và bổ nhiệm ít nhất ba nhân viên chuyên trách về công tác an toàn lao động ; (III) Đối với các doanh nghiệp có từ 50 nhân viên trở lên nhưng chưa đến 100 nhân viên, cần phải thành lập bộ phận quản lý an toàn lao động, và bổ nhiệm ít nhất hai nhân viên chuyên trách về công tác an toàn lao động ; (IV) Đối với các doanh nghiệp có số lượng nhân viên dưới 50 người, cần phải bổ nhiệm nhân viên chuyên trách về quản lý an toàn lao động. Đối với các đơn vị sản xuất, kinh doanh khác không nằm trong phạm vi quy định tại khoản trên, nếu số lượng nhân viên vượt quá 300 người, thì cần phải thành lập bộ phận quản lý an toàn lao động, và bổ nhiệm ít nhất hai nhân viên chuyên trách về công tác an toàn lao động ; Nếu số lượng nhân viên từ 100 người trở lên nhưng chưa đến 300 người, thì cần phải bổ nhiệm những nhân viên chuyên trách về quản lý an toàn lao động ; Nếu số nhân viên làm việc dưới 100 người, thì cần phải bổ nhiệm những người chuyên trách hoặc phụ trách công tác quản lý an toàn lao động. **Nếu các quy định của cơ quan quản lý ngành liên quan nghiêm ngặt hơn so với quy định trong điều lệ này, thì sẽ áp dụng theo các quy định đó. Điều 12: Các cơ quan quản lý an toàn lao động và những người phụ trách công tác an toàn lao động trong các đơn vị sản xuất, kinh doanh phải thực hiện các nhiệm vụ sau: (1) Các nhiệm vụ được quy định trong Luật An toàn lao động và các luật, quy định khác ; (II) Tham gia vào việc đánh giá rủi ro về mặt an toàn trong quy trình sản xuất và công nghệ của đơn vị, cũng như kiểm tra chất lượng an toàn của các thiết bị ; (III) Giám sát việc thực hiện các biện pháp quản lý an toàn tại những nơi có hoạt động nguy hiểm hoặc dễ gây cháy nổ trong đơn vị mình ; (IV) Thống kê và phân tích các vụ tai nạn lao động xảy ra trong đơn vị mình. Cơ quan quản lý an toàn sản xuất kinh doanh cùng các nhân viên phụ trách công tác an toàn sản xuất cần báo cáo kịp thời về tình hình thực hiện nhiệm vụ của mình cho người chịu trách nhiệm tại đơn vị mình. Điều 13: Các đơn vị khai thác mỏ, luyện kim, xây dựng, vận tải đường bộ; các đơn vị sản xuất, kinh doanh, lưu trữ hàng hóa nguy hiểm; cùng các đơn vị sử dụng số lượng lớn hóa chất nguy hiểm, thì người đứng đầu và nhân viên quản lý an toàn lao động của các đơn vị này phải trải qua kỳ kiểm tra về kiến thức và năng lực quản lý an toàn lao động trong vòng sáu tháng kể từ ngày nhậm chức. Kỳ kiểm tra này do cơ quan có thẩm quyền chuyên trách về giám sát và quản lý an toàn lao động tiến hành. Nếu thời hạn đánh giá được quy định trong các luật, văn bản pháp luật khác ngắn hơn so với thời hạn quy định trong quy chế này, thì sẽ áp dụng theo quy định của các văn bản đó. Việc đánh giá không được thu phí. Các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn lao động khi tổ chức các khóa đào tạo dành cho người đứng đầu các đơn vị sản xuất, kinh doanh và những người phụ trách công tác an toàn lao động thì không được thu phí. Khuyến khích sử dụng các công nghệ thông tin hiện đại để tổ chức các hoạt động đào tạo từ xa. Các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn sản xuất ở cấp tỉnh cần tuân theo nguyên tắc quản lý theo cấp độ và loại hình, từ đó phối hợp các kế hoạch kiểm tra và đào tạo, nhằm tránh việc kiểm tra và đào tạo trùng lặp. Điều 14: Các đơn vị sản xuất, kinh doanh phải tiến hành giáo dục và đào tạo về an toàn lao động cho các nhân viên làm việc tại đó (bao gồm cả những người được cử đi làm việc ở nơi khác). Những người làm việc phải tham gia các khóa đào tạo về an toàn lao động do đơn vị sản xuất, kinh doanh tổ chức. Những người chưa vượt qua các khóa đào tạo này thì không được phép làm việc. Những người lao động đã nghỉ việc hơn sáu tháng hoặc chuyển sang vị trí công việc khác, cần phải được tiếp tục đào tạo và huấn luyện về an toàn lao động trước khi quay trở lại làm việc. Các đơn vị sản xuất, kinh doanh phải lập hồ sơ về việc giáo dục và đào tạo nhân viên về an toàn lao động. Trong hồ sơ này cần ghi chép chi tiết về thời gian, nội dung của các buổi giáo dục và đào tạo, những người tham gia, cũng như kết quả đánh giá. Biên bản giáo dục và đào tạo về an toàn lao động phải được người lao động tự kiểm tra và ký tên. Thời hạn lưu trữ hồ sơ không được ít hơn ba năm. Điều 15: Các đơn vị sản xuất, kinh doanh phải xây dựng và vận hành một hệ thống hiệu quả để phát hiện và khắc phục các nguy cơ gây ra tai nạn lao động. Tình hình kiểm tra và xử lý các nguy cơ tai nạn cần được ghi chép một cách trung thực dưới dạng văn bản, hình ảnh, v.v., đồng thời phải thông báo cho những người làm việc biết. Thời hạn lưu trữ hồ sơ không được ít hơn ba năm. Trong trường hợp có nguy cơ xảy ra tai nạn nghiêm trọng, đơn vị sản xuất kinh doanh phải lập kế hoạch khắc phục, trong đó cần xác định rõ mục tiêu và nhiệm vụ của việc khắc phục, các phương pháp và biện pháp cần áp dụng, nguồn tài chính và thiết bị cần chuẩn bị, cơ quan và cá nhân chịu trách nhiệm thực hiện công tác khắc phục, thời hạn và yêu cầu liên quan đến việc khắc phục, cùng các biện pháp an toàn và kế hoạch ứng phó khẩn cấp cần có. Điều 16: Các đơn vị sản xuất, kinh doanh phải lập hồ sơ ghi chép về các nguồn nguy hiểm nghiêm trọng, đồng thời thực hiện các biện pháp sau: (1) Xây dựng và áp dụng các quy định, quy trình quản lý an toàn đối với các nguồn nguy hiểm nghiêm trọng ; (II) Xây dựng các quy trình vận hành an toàn và các biện pháp ứng phó khẩn cấp, đồng thời tổ chức đào tạo cho những người làm việc trong lĩnh vực này ; (III) Thường xuyên tiến hành xác định rủi ro và đánh giá mức độ an toàn tại các địa điểm liên quan ; (IV) Thực hiện việc giám sát liên tục các nguồn nguy cơ lớn, đồng thời xây dựng cơ chế cảnh báo sớm. Định kỳ kiểm tra, đo lường và bảo trì các thiết bị an toàn cũng như hệ thống giám sát an toàn, nhằm đảm bảo chúng hoạt động ổn định ; (5) Phải đặt các biển cảnh báo an toàn ở những vị trí dễ nhìn thấy tại nơi có nguồn nguy hiểm lớn. Trên các biển cảnh báo này cần ghi rõ thông tin về chất nguy hiểm, khối lượng của chúng, đặc tính nguy hiểm, cũng như các biện pháp ứng phó khẩn cấp. Các đơn vị sản xuất, kinh doanh phải tuân theo các quy định của ** và của tỉnh, đồng thời phải báo cáo về các nguồn nguy cơ lớn trong đơn vị mình, cùng các biện pháp an toàn và biện pháp ứng phó khẩn cấp cho cơ quan quản lý an toàn lao động tại địa phương (huyện, thị xã, quận) và các cơ quan chức năng liên quan để được ghi nhận. Nếu các nguồn nguy hiểm nghiêm trọng đã được ghi nhận lại, nhưng sau khi được đánh giá về mặt an toàn thì không còn được coi là nguồn nguy hiểm nghiêm trọng nữa, thì đơn vị sản xuất kinh doanh phải báo cáo cho cơ quan đã tiến hành việc ghi nhận ban đầu để xin hủy bỏ việc ghi nhận đó. Điều 17: Đối với các dự án khai thác mỏ, luyện kim, cũng như các dự án được xây dựng để sản xuất, lưu trữ hoặc bốc dỡ các chất nguy hiểm, các thiết bị an toàn phải được thi công theo bản thiết kế đã được phê duyệt. Đơn vị xây dựng chịu trách nhiệm kiểm tra và nghiệm thu các thiết bị an toàn này. Các thiết bị an toàn chưa được kiểm tra hoặc kết quả kiểm tra không đạt tiêu chuẩn thì dự án xây dựng không được đưa vào hoạt động sản xuất hay sử dụng. Cơ quan quản lý, giám sát an toàn sản xuất phải thực hiện việc giám sát và kiểm tra các hoạt động kiểm tra chất lượng cũng như kết quả của các cuộc kiểm tra đó một cách nghiêm ngặt, theo đúng quy định của pháp luật. Đối với các dự án xây dựng được quy định tại khoản 1 của điều này, khi chúng bắt đầu hoạt động sản xuất hoặc sử dụng, các đơn vị sản xuất kinh doanh liên quan cần phải có giấy phép hoạt động an toàn theo quy định của pháp luật. Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động an toàn sẽ kiểm tra xem các thiết bị an toàn đã được nghiệm thu có đáp ứng các yêu cầu của các luật, quy định, tiêu chuẩn và quy trình liên quan đến an toàn lao động hay không. Điều 18: Các đơn vị sản xuất, kinh doanh khi tiến hành các công việc như nổ mìn, nâng hạ vật liệu, thực hiện các công việc liên quan đến lửa, làm việc trong không gian hạn chế, cũng như các công việc nguy hiểm khác theo quy định; đồng thời khi thực hiện các công việc gần các đường dây truyền tải điện áp cao, đường ống dẫn dầu (khí), thì phải bố trí nhân viên chuyên trách để quản lý an toàn tại hiện trường. Đồng thời, cần thực hiện các biện pháp sau: (1) Trước khi bắt đầu công việc, cần xác định và phân tích các yếu tố nguy hiểm tại hiện trường, triển khai các biện pháp bảo vệ an toàn, cũng như hoàn tất các thủ tục kiểm tra nội bộ cần thiết ; (II) Kiểm tra xem nhân viên làm việc có đủ trình độ chuyên môn và kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc hay không; đồng thời kiểm tra tình trạng sức khỏe của họ cũng như việc họ có trang bị đầy đủ các thiết bị bảo hộ lao động cần thiết để đảm bảo an toàn trong quá trình làm việc hay không ; (III) Hướng dẫn nhân viên về các yếu tố nguy hiểm, các yêu cầu liên quan đến việc thực hiện công việc một cách an toàn, cũng như các biện pháp ứng phó khẩn cấp ; (IV) Khi phát hiện tình huống khẩn cấp có thể gây nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng con người, cần áp dụng các biện pháp khắc phục khẩn cấp, ngừng công việc và đưa những người làm việc ra khỏi khu vực nguy hiểm ; (5) Thực hiện các quy định liên quan đến các công việc nguy hiểm do cơ quan chức năng và tỉnh ban hành, cũng như các quy định về quản lý các công việc nguy hiểm trong đơn vị mình. Điều 19: Các đơn vị sản xuất, kinh doanh khi sử dụng hoặc tạo ra các chất dễ cháy nổ như bụi, khí, chất lỏng trong quá trình sản xuất kinh doanh, phải đảm bảo rằng các công trình xây dựng, thiết bị điện, cùng các thiết bị an toàn như hệ thống thông gió, chống tĩnh điện, chống nổ… đều tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn liên quan. Đồng thời, các đơn vị này cần thực hiện các biện pháp sau: (1) Áp dụng hệ thống quản lý an toàn cho các khu vực có nguy cơ nổ ; (II) Thực hiện việc kiểm tra và bảo trì định kỳ các thiết bị điện, cùng các thiết bị an toàn như hệ thống thông gió và lọc bụi, hệ thống chống tĩnh điện, hệ thống chống nổ, theo **các tiêu chuẩn và quy định ngành ; (III) Kiểm soát số lượng chất dễ nổ được lưu trữ tại nơi làm việc theo quy định ; (IV) Định kỳ dọn dẹp bụi cháy nổ theo **tiêu chuẩn và tiêu chuẩn ngành** ; (V) Đào tạo nhân viên thực hiện công việc về các quy trình vận hành an toàn và các biện pháp ứng phó khẩn cấp. Điều 20: Các đơn vị sản xuất, kinh doanh sử dụng thiết bị ép cơ khí phải tuân thủ các quy định của ** và của tỉnh, cũng như các tiêu chuẩn liên quan. Họ cần lắp đặt và sử dụng các thiết bị bảo hộ an toàn, đồng thời thực hiện việc bảo trì và kiểm tra định kỳ cho chúng ; Những đơn vị không có khả năng kiểm tra thì cần ủy thác cho các cơ quan kiểm tra để tiến hành kiểm tra. Nhân viên làm việc phát hiện ra rằng thiết bị ép kim loại mà họ đang sử dụng không tuân thủ các quy định nêu trên, thì có quyền ngừng hoạt động và báo cáo cho đơn vị sản xuất kinh doanh. Điều 21: Các đơn vị đã được cấp giấy phép kinh doanh hóa chất nguy hiểm mà không có cơ sở lưu trữ thì không được lưu trữ hóa chất nguy hiểm tại bất kỳ nơi nào khác ngoài các kho chứa, khu vực lưu trữ hoặc phòng lưu trữ được thiết kế riêng, và đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn, thuộc sở hữu của các đơn vị cung cấp hàng hóa hoặc các đơn vị sử dụng hàng hóa đó. Trong cửa hàng hóa chất nguy hiểm, chỉ được lưu trữ những loại hóa chất nguy hiểm có bao bì nhỏ dành cho mục đích sử dụng dân dụng. Điều 22: Các cơ quan nhà nước ở cấp huyện trở lên phải có biện pháp khuyến khích và hướng dẫn các đơn vị sản xuất, kinh doanh hoạt động trong các lĩnh vực có mức độ nguy hiểm cao như khai thác mỏ, xử lý các chất nguy hiểm, xây dựng, giao thông vận tải, hoạt động trên biển, v.v., tham gia mua bảo hiểm trách nhiệm an toàn lao động ; Khuyến khích các đơn vị sản xuất, kinh doanh khác mua bảo hiểm trách nhiệm an toàn lao động. Phí bảo hiểm trách nhiệm an toàn sản xuất được tính vào chi phí của đơn vị sản xuất kinh doanh. Chương 3: Giám sát và quản lý an toàn trong sản xuất
Điều 23: Các cơ quan nhà nước ở cấp huyện trở lên phải, dựa trên tình hình an toàn trong sản xuất tại khu vực mình quản lý, chỉ đạo các cơ quan có liên quan thực hiện việc kiểm tra các đơn vị sản xuất, kinh doanh có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động cao, theo phân công trách nhiệm của mỗi cơ quan. Khi phát hiện những nguy cơ gây ra tai nạn hoặc các hành vi vi phạm quy định về an toàn lao động, các cơ quan có thẩm quyền cần phải xử lý chúng một cách kịp thời và theo đúng pháp luật. Các cơ quan quản lý, giám sát an toàn lao động phải xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát an toàn lao động hàng năm theo yêu cầu về việc quản lý và giám sát theo cấp độ và loại hình khác nhau, đồng thời thực hiện kế hoạch đó. Các cơ quan khác có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn sản xuất cũng sẽ, theo phân công nhiệm vụ của mình, xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát hàng năm và thực hiện kế hoạch đó. Các cơ quan đại diện của nhân dân ở các xã (thị trấn), cùng với các cơ quan quản lý thuộc các khu phố, khu công nghiệp… cần phải xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát an toàn lao động hàng năm trong phạm vi lãnh thổ của mình, dựa trên kế hoạch kiểm tra, giám sát được đề ra bởi các cơ quan chuyên trách về công tác quản lý an toàn lao động. Điều 24: Các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn lao động phải, dựa trên trách nhiệm của mình, tiến hành kiểm tra chặt chẽ các đơn vị kinh doanh và địa điểm hoạt động thuộc các lĩnh vực có mức độ nguy hiểm cao, cụ thể là: (1) các đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực khai thác mỏ, xử lý các chất nguy hiểm, đường ống dẫn dầu và khí đốt, xây dựng, giao thông vận tải, sửa chữa hoặc tháo dỡ tàu thuyền, cũng như các hoạt động trên biển ; (II) Các địa điểm sản xuất kinh doanh có mật độ người cao ; (III) Các cơ sở sản xuất, kinh doanh nằm trong cùng tòa nhà với nơi cư trú ; (IV) Các đơn vị sản xuất, kinh doanh từng xảy ra tai nạn an toàn trong quá trình sản xuất; những đơn vị này từng bị xử phạt hành chính hai lần trở lên trong vòng một năm do vi phạm các quy định về an toàn sản xuất; hoặc có những hồ sơ ghi nhận về tình trạng an toàn sản xuất không tốt ; (5) Các đơn vị sản xuất, kinh doanh bị tố cáo, khiếu nại. Điều 25: Các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn lao động phải yêu cầu khắc phục ngay những nguy cơ tai nạn được phát hiện trong quá trình kiểm tra ; Trong trường hợp không thể đảm bảo an toàn trước khi loại bỏ các nguy cơ gây ra tai nạn nghiêm trọng, hoặc trong quá trình loại bỏ chúng, thì cần yêu cầu đơn vị sản xuất, kinh doanh rút nhân viên ra khỏi khu vực nguy hiểm, đồng thời yêu cầu họ tạm thời ngừng hoạt động kinh doanh hoặc ngừng sử dụng các thiết bị, máy móc liên quan. Sau khi loại bỏ các nguy cơ gây ra tai nạn nghiêm trọng, đơn vị sản xuất kinh doanh sẽ tổ chức các chuyên gia kỹ thuật liên quan để kiểm tra mức độ hoàn thành công tác khắc phục. Hoặc đơn vị này cũng có thể ủy thác cho các cơ quan chuyên về kỹ thuật và quản lý an toàn lao động để tiến hành kiểm tra, từ đó lập báo cáo kiểm tra. Cơ quan yêu cầu tạm thời ngừng sản xuất, kinh doanh hoặc ngừng sử dụng các thiết bị, công trình liên quan phải cử ít nhất hai nhân viên thực thi pháp luật đến kiểm tra tại hiện trường, nhằm xác minh nội dung thực tế của báo cáo kiểm tra. Báo cáo kiểm tra chỉ được chấp thuận sau khi được cơ quan có thẩm quyền giám sát và quản lý an toàn sản xuất xem xét. Chỉ khi đó, đơn vị sản xuất kinh doanh mới có thể tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc sử dụng các thiết bị, công cụ tương ứng. Điều 26: Các cơ quan quản lý an toàn sản xuất của tỉnh phải phối hợp với các cơ quan như công an, giao thông vận tải, cảng biển, bảo vệ môi trường, giám sát chất lượng kỹ thuật, hải quan, kiểm dịch nhập khẩu và xuất khẩu để xây dựng hệ thống quản lý an toàn đối với các chất nguy hiểm. Hệ thống này giúp quản lý toàn bộ quy trình sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, lưu trữ, sử dụng và xử lý các chất nguy hiểm một cách hiệu quả. Các đơn vị sản xuất, kinh doanh phải nhanh chóng nhập thông tin về các chất nguy hiểm vào hệ thống quản lý an toàn chất nguy hiểm, đồng thời đảm bảo rằng thông tin đó có tính chính xác, trung thực và đầy đủ. Các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn sản xuất tại các thành phố được chia thành các quận/huyện (thành phố, quận), hoặc các huyện (thành phố, khu vực), cần phải kiểm tra và cập nhật thông tin về các hóa chất nguy hiểm đã được ghi nhận. Thông tin về các chất nguy hiểm cần được công bố cho các cơ quan liên quan và các đội ngũ ứng phó khẩn cấp chuyên nghiệp, nhằm đảm bảo việc chia sẻ thông tin một cách hiệu quả. Điều 27: Các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn lao động thực hiện các quyền hạn của mình trong việc kiểm tra, giám sát các đơn vị sản xuất, kinh doanh theo đúng quy định của Luật An toàn lao động. Các cơ quan đại diện của nhân dân ở cấp xã (thị trấn), cùng với các cơ quan quản lý thuộc các khu phát triển kinh tế (khu công nghiệp), khi tiến hành việc kiểm tra, giám sát các đơn vị sản xuất, kinh doanh trong phạm vi quản lý của mình theo quy định của pháp luật, thì có quyền thực hiện các nhiệm vụ sau: (1) Đi vào các đơn vị sản xuất, kinh doanh để kiểm tra, xem xét các tài liệu liên quan, và tìm hiểu tình hình từ các đơn vị và cá nhân có liên quan ; (II) Nếu phát hiện các hành vi vi phạm quy định về an toàn lao động trong quá trình kiểm tra, cần yêu cầu người liên quan khắc phục ngay lập tức hoặc đặt ra thời hạn nhất định để sửa chữa ; Trong trường hợp cần phải áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật, khuyến nghị rằng các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn lao động nên tiến hành việc xử phạt hành chính đó ; (III) Nếu phát hiện những nguy cơ gây ra tai nạn trong quá trình kiểm tra, thì phải yêu cầu khắc phục chúng ngay lập tức ; Nếu đơn vị sản xuất kinh doanh từ chối loại bỏ nguy cơ đó, thì phải báo cáo cho cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn lao động ; (IV) Nếu trong quá trình kiểm tra phát hiện ra những nguy cơ gây ra tai nạn nghiêm trọng, thì cần yêu cầu phải loại bỏ ngay những nguy cơ đó. Đồng thời, cần báo cáo về cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn lao động. Cơ quan này sẽ áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định tại Điều 25 của quy chế này. Đối với các đề xuất hoặc báo cáo được nêu trong khoản trên, các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn lao động phải xử lý và trả lời một cách kịp thời. Điều 28: Khoảng cách an toàn giữa các địa điểm sản xuất, lưu trữ hàng hóa nguy hiểm và các khu dân cư (tòa nhà), trường học, bệnh viện, ga tàu, bến cảng, trung tâm mua sắm, chợ… – những nơi có mật độ người cao – phải tuân thủ các quy định của ** và các quy định liên quan của tỉnh. Nếu khoảng cách an toàn không tuân thủ các quy định liên quan của ** và tỉnh, chính quyền nhân dân ở cấp huyện trở lên phải có biện pháp để loại bỏ những nguy cơ gây ra tai nạn. Khi xây dựng hoặc sửa đổi các kế hoạch chi tiết về quản lý đô thị, cũng như các kế hoạch cho các làng và xã, cần phải xác định rõ khoảng cách an toàn theo quy định của ** và tỉnh ; Trong trường hợp kế hoạch chi tiết về việc quản lý và kế hoạch phát triển các làng, xã chưa được xác định rõ, thì cơ quan chức năng phụ trách lĩnh vực quy hoạch đô thị và nông thôn, khi cấp giấy phép liên quan đến các khu vực được quy định ở khoản trên, cần phải tham khảo ý kiến của các cơ quan có trách nhiệm giám sát an toàn sản xuất. Điều 29: Các cơ quan nhà nước ở cấp huyện trở lên phải tổ chức xây dựng kế hoạch phát triển an toàn cho ngành sản xuất các chất nguy hiểm. Cần lập kế hoạch một cách hợp lý để đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngành này. Tại những khu vực có nhiều đơn vị sản xuất, kinh doanh, lưu trữ, sử dụng và vận chuyển các chất nguy hiểm, cần thường xuyên tiến hành việc xác định rủi ro và đánh giá mức độ an toàn, từ đó tối ưu hóa cơ cấu tổ chức hoạt động trong ngành, thực hiện các biện pháp ứng phó với rủi ro, nhằm giảm thiểu nguy cơ đe dọa an ninh công cộng. Do các yếu tố như kế hoạch sử dụng đất tổng thể hoặc kế hoạch phát triển đô thị – nông thôn bị thay đổi, việc điều chỉnh cơ cấu công nghiệp trong khu vực, v.v., mà cần phải sửa đổi kế hoạch phát triển an toàn cho các ngành sản xuất hàng hóa nguy hiểm, thì Ủy ban nhân dân cấp huyện trở lên cần phải tổ chức việc sửa đổi này một cách kịp thời. Điều 30: Những vật phẩm nguy hiểm bị tịch thu theo quy định của pháp luật bởi các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn lao động, phải được lưu trữ trong các kho chứa, khu vực chuyên dụng hoặc phòng chứa đồ đáp ứng các điều kiện an toàn. Các thành phố có quận, các huyện (thành phố) phải thành lập hoặc tận dụng các đơn vị sản xuất kinh doanh, tổ chức xã hội có điều kiện phù hợp, để xác định những kho chứa, khu vực lưu trữ riêng biệt dùng để lưu giữ và xử lý các loại hàng hóa nguy hiểm bị tịch thu theo pháp luật ; Dựa vào những đơn vị sản xuất kinh doanh và các tổ chức xã hội đã được xác định, chính quyền nhân dân của các thành phố có quận, huyện (thành phố) sẽ cấp trợ cấp tương ứng. Điều 31: Đối với các dự án xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng trong khu vực cảng, cơ quan quản lý an toàn lao động sẽ thực hiện việc kiểm tra các điều kiện an toàn và thiết kế các công trình phục vụ mục đích an toàn, đồng thời giám sát việc vận hành các dự án này theo đúng quy định của pháp luật. Các dự án này bao gồm: (i) các dự án sản xuất hóa chất nguy hiểm, cùng với các dự án liên quan đến việc lưu trữ các hóa chất này ; (II) Các dự án xây dựng sử dụng hóa chất nguy hiểm trong quá trình sản xuất, cùng với các dự án xây dựng nhà kho liên quan đến các dự án này ; (III) Các dự án xây dựng sản xuất hóa chất nguy hiểm nằm bên ngoài khu vực cảng, cùng với các dự án xây dựng sử dụng hóa chất nguy hiểm trong quá trình sản xuất; những dự án này được kết nối với nhau thông qua các đường ống, và cũng thuộc phạm vi các dự án lưu trữ được phê duyệt trong tổng thể dự án xây dựng đó ; (IV) Các dự án cải tạo, mở rộng riêng biệt đối với các công trình lưu trữ được quy định trong ba điều khoản trước ; (V) Các trạm xăng hoạt động trong lĩnh vực bán dầu mỏ. Các dự án xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng trong khu cảng, những dự án liên quan đến việc lưu trữ hóa chất nguy hiểm có liên kết với bến cảng, cùng các trạm xăng chuyên cung cấp nhiên liệu cho thiết bị bốc dỡ và phương tiện vận chuyển của các doanh nghiệp tại cảng, đều phải được cơ quan quản lý cảng kiểm tra về các điều kiện an toàn và thiết kế các công trình an toàn theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, hoạt động vận hành các dự án này cũng phải được giám sát chặt chẽ về mặt an toàn lao động. Phạm vi khu vực cảng được quy định trong quy chế này được xác định dựa trên phạm vi khu vực cảng được nêu rõ trong kế hoạch tổng thể của cảng. Nếu kế hoạch tổng thể của cảng không xác định rõ phạm vi khu vực cảng, thì cần sửa đổi kế hoạch tổng thể đó ngay lập tức để xác định rõ phạm vi khu vực cảng ; Trước khi sửa đổi kế hoạch tổng thể của cảng, chính quyền nhân dân của các thành phố có quyền tổ chức các cơ quan liên quan như cơ quan quản lý cảng, cơ quan giám sát an toàn lao động, cơ quan quy hoạch đô thị và nông thôn để xác định phạm vi cần được giám sát và quản lý trong khu vực cảng. **Nếu có quy định riêng về phân công trách nhiệm giám sát, quản lý an toàn lao động trong khu vực cảng giữa các cơ quan liên quan ở cấp huyện trở lên, thì sẽ tuân theo những quy định đó. Điều 32: Cơ quan quản lý cảng tại nơi có cảng, theo các quy định của ** và tỉnh, khi tiến hành kiểm tra, giám sát các hoạt động liên quan đến việc bốc dỡ, chuyển giao, lưu trữ hàng hóa nguy hiểm, hoặc tháo lắp các container chứa hàng hóa nguy hiểm trong khu vực cảng, thì cần chú trọng kiểm tra các khu vực dùng để bốc dỡ và lưu trữ hàng hóa nguy hiểm. Đồng thời, cần kiểm tra tình hình quản lý an toàn lao động của các đơn vị lưu trữ hàng hóa nguy hiểm, bao gồm cách phân loại hàng hóa, việc kiểm tra hàng hóa, các thiết bị an toàn, biện pháp phòng ngừa rủi ro, và việc xử lý các mối nguy hiểm tiềm ẩn ; Khi phát hiện ra những nguy cơ gây tai nạn, cần phải xử lý chúng ngay lập tức. Cơ quan quản lý cảng nơi cảng tọa lạc cần phối hợp với các cơ quan như Hải quan, Cơ quan kiểm dịch nhập khẩu/xuất khẩu, cùng các cơ quan chuyên trách giám sát an toàn lao động để thiết lập cơ chế kiểm tra chung đối với các hàng hóa nguy hiểm tại khu vực bãi chứa container trong cảng. Nếu phát hiện việc giấu giếm, báo cáo sai sự thật về hàng hóa nguy hiểm, hoặc bao bì của hàng hóa nguy hiểm không đạt tiêu chuẩn, thì các cơ quan chức năng sẽ xử lý theo quy định của pháp luật. Điều 33: Các cơ quan nhà nước ở cấp huyện trở lên, cùng các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn lao động, cần thúc đẩy việc xây dựng hệ thống dịch vụ an toàn lao động mang tính xã hội hóa. Đồng thời, các cơ quan này cần hỗ trợ, hướng dẫn và quy định rõ ràng các hoạt động liên quan đến dịch vụ an toàn lao động, như đánh giá, chứng nhận, kiểm tra, tư vấn, đào tạo, quản lý, v.v., sao cho các hoạt động này được thực hiện một cách tuân thủ pháp luật. Điều 34: Các tổ chức thực hiện công việc đánh giá an toàn, chứng nhận, kiểm tra, xét nghiệm, cùng các nhân viên làm việc tại các tổ chức này không được thực hiện các hành vi sau: (1) Đưa ra các báo cáo, giấy tờ giả mạo ; (II) Cung cấp các báo cáo, chứng từ có những sai sót nghiêm trọng ; (III) Tiết lộ bí mật kỹ thuật hoặc bí mật kinh doanh của người ủy thác ; (IV) Tự ý thay đổi, rút gọn các thủ tục hoặc nội dung được quy định trong luật pháp, các quy định pháp lý, hoặc các tiêu chuẩn, quy định ngành ; (5) Tiến hành các hoạt động đánh giá an toàn mà không tiến hành khảo sát tại hiện trường. Điều 35: Các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn lao động phải thiết lập hệ thống báo cáo về các hành vi vi phạm quy định về an toàn lao động. Các cơ quan này cần công bố trên các phương tiện truyền thông thông tin về các hành vi vi phạm nghiêm trọng của các đơn vị sản xuất, kinh doanh cùng những người chịu trách nhiệm cao nhất trong các đơn vị đó, cũng như thông tin về cách xử lý các hành vi vi phạm đó. Đồng thời, các thông tin này cũng cần được ghi vào hồ sơ tín dụng của các đơn vị đó. Các cơ quan chịu trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn lao động cần phối hợp với các cơ quan khác có nhiệm vụ tương tự, cùng với các tổ chức giám sát tài chính và các ngân hàng liên quan, nhằm thúc đẩy việc quản lý thông tin về uy tín trong lĩnh vực an toàn lao động một cách có hệ thống, đồng thời chia sẻ thông tin giữa các bên. Các cơ quan này cũng cần phối hợp với nhau để giám sát và xử lý các hành vi vi phạm quy định về an toàn lao động của các doanh nghiệp. Điều 36: Khi cơ quan quản lý, giám sát an toàn lao động phát hiện rằng các cơ quan khác có trách nhiệm trong việc quản lý, giám sát an toàn lao động không thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình trong lĩnh vực mà họ phụ trách, thì cơ quan này phải báo cáo về Ủy ban An toàn lao động cùng cấp ; Ủy ban An toàn Sản xuất có thể thông báo về việc này, triệu tập người đứng đầu bộ phận đó để trao đổi, đồng thời cũng có thể đưa ra các đề xuất xử lý người đứng đầu bộ phận đó cho các cơ quan có thẩm quyền về việc bổ nhiệm và miễn nhiệm, cũng như các cơ quan giám sát. Điều 37: Các cơ quan nhà nước ở cấp huyện trở lên phải tổ chức các cơ quan liên quan xây dựng kế hoạch ứng phó khẩn cấp trong trường hợp xảy ra tai nạn lao động tại khu vực mình quản lý, đồng thời xây dựng hệ thống ứng phó khẩn cấp. Các cơ quan nhân dân ở cấp huyện trở lên, cùng các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn sản xuất, cần phải thành lập các trung tâm ứng phó khẩn cấp hoặc đội ngũ ứng phó khẩn cấp chuyên nghiệp trong các ngành, lĩnh vực quan trọng như khai thác mỏ, sản xuất hóa chất nguy hiểm, vận hành giao thông đường sắt đô thị. Các trung tâm này có thể được thành lập riêng biệt, hoặc được xây dựng dựa trên sự hỗ trợ của các đơn vị sản xuất kinh doanh hoặc tổ chức xã hội có điều kiện phù hợp. Dựa vào các đơn vị sản xuất kinh doanh và tổ chức xã hội để thành lập; chính quyền nhân dân ở cấp huyện trở lên sẽ cung cấp khoản hỗ trợ tương ứng. Các biện pháp cụ thể liên quan đến việc ứng phó khẩn cấp, điều tra và xử lý các tai nạn trong quá trình sản xuất sẽ được thực hiện theo các quy định của ** và các quy định tương ứng của tỉnh. Điều 38: Nếu cơ quan nhân dân cấp trên phát hiện rằng báo cáo điều tra về vụ tai nạn do cơ quan nhân dân cấp dưới gửi lên không làm rõ nguyên nhân gây ra vụ tai nạn, không xác định được trách nhiệm của các bên liên quan, hoặc có dấu hiệu che giấu, bảo vệ những người chịu trách nhiệm về vụ tai nạn, thì cơ quan cấp trên sẽ yêu cầu họ khắc phục sai sót trong thời hạn quy định ; Nếu vẫn không khắc phục sau thời hạn quy định, thì quyết định phê duyệt báo cáo điều tra vụ tai nạn sẽ bị hủy bỏ; đồng thời yêu cầu cơ quan chức năng cấp dưới phải tổ chức lại nhóm điều tra để tiếp tục điều tra, hoặc tự mình thành lập nhóm điều tra để tiến hành công tác điều tra. Điều 39: Đơn vị xảy ra sự cố phải kịp thời thực hiện các biện pháp phòng ngừa và khắc phục theo báo cáo điều tra sự cố do cơ quan nhân dân cấp huyện trở lên phê duyệt. Đơn vị này cũng cần xử lý những người có trách nhiệm gây ra sự cố. Ngoài ra, đơn vị phải báo cáo tình hình thực hiện các biện pháp này cho cơ quan nhân dân chịu trách nhiệm điều tra sự cố và các cơ quan có trách nhiệm giám sát, quản lý an toàn lao động, theo quy định của pháp luật. Các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn trong sản xuất sẽ kiểm tra việc các đơn vị gây ra tai nạn thực hiện các biện pháp phòng ngừa và khắc phục hậu quả, cũng như xem xét cách xử lý những người chịu trách nhiệm về vụ tai nạn đó. Chương 4: Trách nhiệm pháp lý
Điều 40: Đối với những hành vi vi phạm các quy định của quy chế này, nếu luật pháp hoặc các văn bản quy phạm pháp luật đã quy định rõ trách nhiệm pháp lý, thì sẽ áp dụng theo những quy định đó. Điều 41: Nếu người chịu trách nhiệm chính của đơn vị sản xuất, kinh doanh không thực hiện các nghĩa vụ quản lý an toàn lao động được quy định tại các điểm từ thứ hai đến thứ năm của Điều 10 của quy định này, thì sẽ bị yêu cầu phải khắc phục sai phạm trong thời hạn quy định ; Nếu vẫn không khắc phục sau thời hạn quy định, sẽ bị phạt tiền từ 200.000 đến 500.000 nhân dân tệ; đồng thời, đơn vị sản xuất kinh doanh sẽ bị yêu cầu ngừng hoạt động để tiến hành điều chỉnh. Điều 42: Nếu các đơn vị sản xuất, kinh doanh không thành lập cơ quan quản lý an toàn lao động, không bổ nhiệm nhân viên phụ trách công tác an toàn lao động theo quy định tại Điều 11 của quy chế này; hoặc vi phạm các quy định tại Điều 14 và Điều 15, tức là thời hạn lưu trữ các hồ sơ liên quan đến an toàn lao động chưa đủ ba năm, thì sẽ bị yêu cầu khắc phục sai phạm trong thời hạn quy định. Ngoài ra, có thể bị phạt tiền từ 50.000 đồng trở xuống ; Nếu vẫn không khắc phục sai phạm sau thời hạn quy định, sẽ bị yêu cầu ngừng sản xuất, kinh doanh để tiến hành điều chỉnh. Đồng thời, sẽ bị phạt tiền từ 50.000 đến 100.000 nhân dân tệ. Những người chịu trách nhiệm trực tiếp và các cá nhân có liên quan khác sẽ bị phạt tiền từ 10.000 đến 20.000 nhân dân tệ. Điều 43: Nếu nhân viên quản lý an toàn lao động của các đơn vị sản xuất, kinh doanh không thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ quản lý an toàn lao động được quy định tại các điểm từ thứ hai đến thứ tư của Điều 12 của quy định này, thì họ sẽ bị yêu cầu phải khắc phục sai sót trong thời hạn quy định ; Những đơn vị gây ra tai nạn trong quá trình sản xuất sẽ bị tạm ngừng hoặc hủy bỏ các chứng chỉ liên quan đến an toàn sản xuất của họ. Điều 44: Nếu các đơn vị sản xuất, kinh doanh vi phạm các quy định tại khoản 1, khoản 4, khoản 5 của Điều 18 hoặc khoản 1, khoản 3, khoản 4 của Điều 19 của quy chế này, thì sẽ bị yêu cầu khắc phục sai phạm trong thời hạn quy định; đồng thời có thể bị phạt tiền từ 200.000 đến 1000.000 đồng ; Nếu vẫn không khắc phục sai phạm sau thời hạn quy định, sẽ bị yêu cầu ngừng sản xuất, kinh doanh để tiến hành điều chỉnh. Đồng thời, sẽ bị phạt tiền từ 100.000 đến 200.000 nhân dân tệ. Những người chịu trách nhiệm trực tiếp và các cá nhân có liên quan khác sẽ bị phạt tiền từ 20.000 đến 50.000 nhân dân tệ. Điều 45: Những đơn vị được cấp giấy phép kinh doanh hóa chất nguy hiểm mà không có cơ sở lưu trữ, nếu vi phạm quy định tại Điều 21 của quy chế này trong việc lưu trữ hóa chất nguy hiểm, thì sẽ bị yêu cầu khắc phục sai phạm trong thời hạn quy định; đồng thời bị phạt tiền từ 500.000 đến 1.000.000 đồng ; Nếu vẫn không khắc phục sau thời hạn quy định, sẽ bị yêu cầu tạm ngừng hoạt động để tiến hành điều chỉnh ; Trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng, giấy phép kinh doanh hàng hóa nguy hiểm sẽ bị thu hồi. Điều 46: Những cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện công tác đánh giá an toàn, chứng nhận, kiểm tra, xét nghiệm mà có hành vi vi phạm các quy định từ điểm 2 đến điểm 5 của Điều 34 của Quy định này, sẽ bị yêu cầu khắc phục sai phạm; đồng thời có thể bị phạt tiền từ 10.000 đến 50.000 nhân dân tệ ; Trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng, cơ quan chức năng sẽ yêu cầu đơn vị đó tạm ngừng hoạt động để khắc phục sai phạm, đồng thời áp đặt mức phạt từ 50.000 đến 200.000 nhân dân tệ. Những người chịu trách nhiệm trực tiếp và các cá nhân có liên quan khác sẽ bị phạt từ 10.000 đến 20.000 nhân dân tệ. Điều 47: Nếu các đơn vị sản xuất, kinh doanh sau khi ngừng hoạt động để tiến hành điều chỉnh vẫn không đáp ứng các điều kiện an toàn lao động theo quy định của pháp luật, các quy định liên quan, cũng như các tiêu chuẩn ngành, tiêu chuẩn địa phương, thì cơ quan chuyên trách về giám sát, quản lý an toàn lao động sẽ báo cáo lên cơ quan nhà nước ở cấp huyện trở lên để quyết định đóng cửa đơn vị đó theo thẩm quyền được quy định ; Các cơ quan có thẩm quyền nên thu hồi các giấy phép liên quan theo đúng pháp luật. Điều 48: Các cơ quan nhân dân ở các cấp và các cơ quan có trách nhiệm giám sát, quản lý an toàn lao động cùng các nhân viên của họ, nếu có một trong các hành vi sau, thì người chịu trách nhiệm trực tiếp và các cá nhân có liên quan khác sẽ bị xử lý theo pháp luật: (1) Không ngăn chặn hoặc xử lý kịp thời các hành vi vi phạm quy định về an toàn lao động đã được phát hiện ; (II) Sau khi nhận được báo cáo về tai nạn lao động, nhưng không tổ chức công tác cứu hộ theo quy định ; (III) Cản trở, can thiệp vào việc điều tra, xử lý các vụ tai nạn lao động hoặc việc xác định trách nhiệm của những người liên quan ; (IV) Báo cáo điều tra về tai nạn được gửi lên hoặc được phê duyệt mà trong đó có sự che giấu, bảo vệ những người chịu trách nhiệm về vụ tai nạn ; (5) Có những hành vi lạm dụng quyền hạn, lơ là trách nhiệm, hoặc gian lận vì mục đích cá nhân. Điều 49: Các hình phạt hành chính được quy định trong các quy định này sẽ do cơ quan quản lý an toàn lao động và các cơ quan khác có trách nhiệm giám sát an toàn lao động quyết định, dựa trên phân công trách nhiệm của mỗi cơ quan. Cơ quan quản lý, giám sát an toàn lao động có thể ủy quyền cho các tổ chức quản lý, giám sát an toàn lao động đáp ứng các điều kiện quy định tại “Luật Xử phạt hành chính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” để thực hiện các biện pháp xử phạt hành chính. Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép an toàn lao động ở cấp tỉnh có thể ủy quyền cho các sở, ban, ngành có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn lao động tại các thành phố thuộc tỉnh, huyện (thành phố, quận) để thực hiện các hình phạt hành chính theo quy định của Nghị định của Chính phủ về giấy phép an toàn lao động. Tuy nhiên, việc thu hồi giấy phép an toàn lao động thì không được ủy quyền. Chương 5: Các quy định khác
Điều 50: Ý nghĩa của các thuật ngữ được sử dụng trong quy định này như sau: Hàng hóa nguy hiểm là những loại hàng hóa dễ cháy, dễ nổ, chất hóa học nguy hiểm, chất phóng xạ, v.v., những thứ có thể gây nguy hiểm đến tính mạng và tài sản con người. Nguồn nguy hiểm nghiêm trọng là những đơn vị (bao gồm cả các địa điểm và cơ sở) mà tại đó, các chất nguy hiểm được sản xuất, vận chuyển, sử dụng hoặc lưu trữ trong thời gian dài hoặc tạm thời, và lượng chất nguy hiểm tại đó bằng hoặc vượt quá mức ngưỡng cho phép. Nguy cơ tai nạn nghiêm trọng là những nguy cơ gây ra mức độ thiệt hại lớn và khó khắc phục; do đó, cần phải tạm ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh toàn bộ hoặc một phần, và cần có thời gian để khắc phục chúng. Ngoài ra, còn có những nguy cơ xuất phát từ các yếu tố bên ngoài, khiến cho chính đơn vị sản xuất kinh doanh khó có thể tự mình loại bỏ chúng. Điều 51: Quy định này có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 8 năm 2016.
Reply #22016-08-02
Những điểm nổi bật trong việc sửa đổi Quy định về an toàn lao động tại tỉnh Chiết Giang
Vào ngày 1 tháng 8 năm 2016, Quy định về an toàn lao động tại tỉnh Chiết Giang (sau đây gọi là “Quy định”) đã được sửa đổi và có hiệu lực. Quy định này được xây dựng dựa trên Luật An toàn lao động được sửa đổi vào ngày 31 tháng 8 năm 2014. Quy định này cũng tích hợp chặt chẽ với các điều kiện thực tế tại tỉnh Chiết Giang, nhằm tăng cường sự đổi mới trong cơ chế và hệ thống quản lý. Mục tiêu là giải quyết những vấn đề nổi cộm trong lĩnh vực an toàn lao động tại tỉnh Chiết Giang trong giai đoạn “Kế hoạch 5 năm lần thứ 13” và những giai đoạn sau đó. Điều này thể hiện những yêu cầu mới đối với công tác an toàn lao động tại tỉnh chúng ta trong bối cảnh mới. Những điểm chính trong việc sửa đổi “Quy định” như sau: Một, tiếp tục hoàn thiện hệ thống quản lý và giám sát an toàn sản xuất. 《Quy định》 đã nêu rõ trách nhiệm về an toàn sản xuất của ** và các cơ quan liên quan, cũng như những người chịu trách nhiệm trong lĩnh vực này. Thứ nhất, đã mở rộng trách nhiệm phối hợp của Ủy ban An toàn sản xuất. Ủy ban này cần tuân thủ các quy định pháp luật, cũng như nguyên tắc “ai chịu trách nhiệm quản lý thì phải chịu trách nhiệm về an toàn sản xuất”, “ai phê duyệt thì phải chịu trách nhiệm về việc đó”. Ủy ban cần xác định rõ các nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể của các đơn vị thành viên trong công tác an toàn sản xuất, sau đó trình cấp có thẩm quyền phê duyệt trước khi triển khai thực hiện. Thứ hai là làm rõ hơn chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan quản lý an toàn lao động, cũng như chế độ “một chức vụ, hai trách nhiệm” dành cho các thành viên trong ban lãnh đạo. Các quy định này xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu các bộ phận, người chịu trách nhiệm về công tác an toàn lao động, cùng các nhân sự khác có liên quan. Thứ ba là bổ sung nội dung liên quan đến việc giám sát tổng hợp; quy định rõ cơ chế giám sát và xử lý phù hợp khi cơ quan quản lý an toàn lao động phát hiện ra rằng các cơ quan có trách nhiệm giám sát an toàn lao động khác không thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Thứ tư là đã bổ sung trách nhiệm giám sát của cơ quan nhân dân cấp trên trong việc điều tra các vụ tai nạn lao động; đồng thời làm rõ trách nhiệm của cơ quan này trong việc yêu cầu các đơn vị liên quan phải khắc phục sai sót trong thời hạn quy định, hoặc hủy bỏ báo cáo điều tra về vụ tai nạn. (Điều 4, Điều 6, Điều 36, Điều 38) II. Xác định rõ hơn các cơ quan quản lý an toàn lao động và những người chịu trách nhiệm trong doanh nghiệp. Dựa trên tình hình thực tế của tỉnh chúng ta, “Quy định” đã nêu rõ các yêu cầu đối với các đơn vị sản xuất, kinh doanh về việc thành lập cơ quan quản lý an toàn lao động và bổ nhiệm nhân viên phụ trách công tác an toàn lao động. Chủ yếu là để phân biệt giữa các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành có mức độ rủi ro cao như khai thác mỏ, luyện kim, xây dựng, sửa chữa và tháo dỡ tàu thuyền, vận tải đường bộ, sản xuất, kinh doanh và lưu trữ hàng hóa nguy hiểm, với các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực thông thường. Dựa vào số lượng nhân viên làm việc tại các doanh nghiệp này, người ta quy định rõ về việc thành lập cơ quan quản lý an toàn lao động và số lượng nhân viên phụ trách công tác an toàn lao động cần có. Đồng thời, đối với những trường hợp vi phạm các quy định về cơ cấu tổ chức và nhân sự nêu trên, còn có các hình thức xử phạt dành cho đơn vị và cá nhân liên quan, như yêu cầu khắc phục sai phạm trong thời hạn quy định, phạt tiền, yêu cầu tạm ngừng hoạt động để kiểm soát tình hình. (Điều 11, Điều 42) III. Tiếp tục quy định rõ hơn về việc quản lý việc lưu trữ các chất nguy hiểm. Thứ nhất, do giấy phép kinh doanh các chất nguy hiểm được cấp cho các đơn vị kinh doanh này được chia thành hai loại: giấy phép cho phép lưu trữ chất nguy hiểm và giấy phép không cho phép lưu trữ chất nguy hiểm. Trong thực tế, các đơn vị có giấy phép không cho phép lưu trữ chất nguy hiểm thường lưu trữ chúng tại những nơi không đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn, điều này gây ra nhiều nguy cơ tai nạn. 《Quy định》 nêu rõ rằng, các đơn vị được cấp giấy phép kinh doanh hóa chất nguy hiểm mà không có cơ sở lưu trữ thì không được lưu trữ hóa chất nguy hiểm tại bất kỳ địa điểm nào khác ngoài các kho chứa, khu vực lưu trữ dành riêng có đủ điều kiện an toàn do các đơn vị cung cấp hàng hóa và các đơn vị sử dụng hàng hóa chỉ định. Những đơn vị vi phạm quy định này sẽ phải chịu các hình thức xử lý pháp lý tương ứng. Thứ hai, nhằm giải quyết vấn đề lưu trữ các chất nguy hiểm bị tịch thu theo pháp luật, “Quy định” yêu cầu rằng các chất nguy hiểm bị tịch thu bởi các cơ quan có trách nhiệm giám sát an toàn trong quá trình sản xuất phải được lưu trữ tại những kho chứa, khu vực chuyên dụng hoặc phòng lưu trữ đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn. Đồng thời, cũng có những quy định rõ ràng về việc xây dựng các khu lưu trữ chuyên dụng tại các thành phố, huyện (thành phố) và quận. (Điều 21, Điều 30) IV. làm rõ hơn các yêu cầu về kiểm soát khoảng cách an toàn và quản lý trong quá trình lập kế hoạch. Để đảm bảo an toàn trong quá trình sản xuất, cơ quan quản lý quy hoạch đô thị và nông thôn cần coi khoảng cách an toàn giữa các khu vực sản xuất, lưu trữ hàng hóa nguy hiểm và các khu vực có mật độ dân cư cao là yếu tố quan trọng trong việc xem xét các kế hoạch quy hoạch. Theo quy định của “Quy chế”, khoảng cách an toàn giữa các nơi sản xuất, lưu trữ hàng hóa nguy hiểm và các khu dân cư (tòa nhà), trường học, bệnh viện, ga tàu, bến cảng, trung tâm mua sắm, chợ… – những nơi có mật độ người cao – phải tuân thủ các quy định liên quan của ** và tỉnh. Nếu khoảng cách an toàn không tuân thủ các quy định liên quan của ** và tỉnh, chính quyền nhân dân ở cấp huyện trở lên phải có biện pháp để loại bỏ những nguy cơ gây ra tai nạn. Khi xây dựng hoặc sửa đổi các kế hoạch chi tiết về quản lý đô thị, cũng như các kế hoạch cho các làng và xã, cần phải xác định rõ khoảng cách an toàn theo quy định của ** và tỉnh ; Nếu kế hoạch chi tiết về việc kiểm soát và kế hoạch phát triển các làng, xã chưa được quy định rõ ràng, thì cơ quan chức năng phụ trách lĩnh vực quy hoạch đô thị và nông thôn, khi cấp giấy phép liên quan đến các khu vực được quy định ở khoản trên, cần phải tham khảo ý kiến của các cơ quan có trách nhiệm giám sát an toàn sản xuất. (Điều 28) V. Rõ ràng hơn nữa về trách nhiệm giám sát an toàn đối với các chất nguy hiểm trong khu vực cảng. Hiện nay, việc giám sát an toàn đối với các hóa chất nguy hiểm trong khu cảng là một trong những vấn đề được xã hội quan tâm nhiều. Để tránh tình trạng chồng chéo hoặc thiếu vắng trách nhiệm giám sát, theo các quy định liên quan và kết hợp với kinh nghiệm của một số thành phố và huyện ven biển trong tỉnh chúng ta, “Quy định” đã chỉ rõ rằng cơ quan giám sát an toàn chịu trách nhiệm giám sát việc xây dựng và vận hành các dự án sau: các dự án sản xuất hóa chất nguy hiểm trong khu cảng, các dự án sử dụng hóa chất nguy hiểm trong quá trình sản xuất, cũng như các dự án lưu trữ liên quan đến các dự án này ; Các dự án xây dựng sản xuất hóa chất nguy hiểm nằm bên ngoài khu vực cảng, cùng với các dự án sử dụng hóa chất nguy hiểm trong quá trình sản xuất, được kết nối với nhau thông qua các đường ống; đồng thời, chúng cũng được coi là một phần của dự án lưu trữ hóa chất nguy hiểm đó ; Các dự án cải tạo, mở rộng riêng lẻ đối với các công trình lưu trữ được quy định ở trên ; Các trạm xăng hoạt động trong lĩnh vực bán dầu. Cơ quan quản lý cảng chịu trách nhiệm giám sát và quản lý các dự án xây dựng nơi lưu trữ hóa chất nguy hiểm trong khu vực cảng, những nơi có liên kết trực tiếp với bến cảng. Ngoài ra, cơ quan này cũng chịu trách nhiệm quản lý việc xây dựng và vận hành các trạm xăng phục vụ việc cung cấp nhiên liệu cho các thiết bị và phương tiện dùng trong hoạt động bốc dỡ hàng hóa tại cảng. (Điều 31) 6. Tiếp tục hoàn thiện các quy định liên quan đến việc nghiệm thu các thiết bị an toàn trong các dự án xây dựng. Căn cứ vào các quy định trong “Luật An toàn lao động” về việc nghiệm thu các dự án xây dựng, “Quy định này” bổ sung thêm những quy định liên quan. Đối với các dự án khai thác mỏ, luyện kim, cũng như các dự án được sử dụng để sản xuất, lưu trữ, bốc dỡ các chất nguy hiểm, thì các đơn vị sản xuất kinh doanh liên quan cần phải có giấy phép hoạt động an toàn lao động theo quy định của pháp luật. Khi cấp giấy phép này, cơ quan có thẩm quyền sẽ kiểm tra kết quả nghiệm thu các thiết bị an toàn. Đồng thời, cũng đã làm rõ trách nhiệm giám sát và kiểm tra các hoạt động kiểm tra của đơn vị xây dựng cũng như kết quả kiểm tra đó của cơ quan quản lý an toàn. (Điều 17) 7. Tiếp tục làm rõ hơn các quy định liên quan đến việc ứng phó khẩn cấp, điều tra và xử lý các vụ tai nạn trong quá trình sản xuất. Theo “Quy định”, các cơ quan nhân dân ở cấp huyện trở lên phải tổ chức các cơ quan liên quan xây dựng kế hoạch ứng phó khẩn cấp trong trường hợp xảy ra tai nạn lao động tại khu vực mình quản lý, đồng thời xây dựng hệ thống ứng phó khẩn cấp. Các cơ quan nhân dân ở cấp huyện trở lên, cùng các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn sản xuất, cần phải thành lập các trung tâm ứng phó khẩn cấp hoặc đội ngũ ứng phó khẩn cấp chuyên nghiệp trong các ngành, lĩnh vực quan trọng như khai thác mỏ, sản xuất hóa chất nguy hiểm, vận hành giao thông đường sắt đô thị. Các trung tâm này có thể được thành lập riêng biệt, hoặc được xây dựng dựa trên sự hỗ trợ của các đơn vị sản xuất kinh doanh hoặc tổ chức xã hội có điều kiện phù hợp. Về việc điều tra các vụ tai nạn, “Quy định” đã đặt ra các cơ chế khắc phục những tình trạng che giấu sự thật hoặc bảo vệ những người có trách nhiệm trong các báo cáo điều tra; đồng thời quy định rõ các trách nhiệm pháp lý tương ứng. (Điều 37, Điều 48) 8. Tiếp tục phát huy vai trò cơ bản của công tác đào tạo và kiểm tra về an toàn lao động. 《Quy định》 nêu rõ: Thứ nhất, các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn lao động phải tiến hành đào tạo cho người đứng đầu các đơn vị sản xuất, kinh doanh cũng như những người phụ trách công tác an toàn lao động. Thứ hai, các đơn vị sản xuất kinh doanh phải tiến hành giáo dục và đào tạo về an toàn lao động cho những người làm việc tại đó (bao gồm cả những lao động được cử đi làm việc ở nơi khác). Những người làm việc phải tham gia các khóa đào tạo về an toàn lao động do đơn vị sản xuất, kinh doanh tổ chức. Những người chưa vượt qua các khóa đào tạo này thì không được phép làm việc. Những người lao động đã nghỉ việc hơn sáu tháng hoặc chuyển sang vị trí công việc khác, cần phải được tiếp tục đào tạo và huấn luyện về an toàn lao động trước khi quay trở lại làm việc. Thứ ba, các đơn vị khai thác mỏ, luyện kim, xây dựng, vận tải đường bộ; các đơn vị sản xuất, kinh doanh, lưu trữ hàng hóa nguy hiểm; cùng các đơn vị sử dụng số lượng lớn hóa chất nguy hiểm và gây ra nguy cơ nghiêm trọng. Những người giữ chức vụ quản lý chính và nhân viên phụ trách an toàn lao động trong các đơn vị này phải tham gia kỳ kiểm tra về kiến thức an toàn lao động và năng lực quản lý trong vòng sáu tháng kể từ ngày nhậm chức. Thứ tư, thời hạn lưu trữ hồ sơ về việc giáo dục và đào tạo an toàn lao động không được ít hơn ba năm. (Điều 13, Điều 14) 9. Tiếp tục nâng cao mức độ hiện đại hóa trong công tác quản lý an toàn đối với các chất nguy hiểm. Nhằm nâng cao hơn nữa mức độ quản lý thông tin liên quan đến các chất nguy hiểm, từ đó hỗ trợ việc phòng ngừa tai nạn và ứng phó khẩn cấp, “Quy định” yêu cầu cơ quan quản lý an toàn lao động cấp tỉnh phải phối hợp với các cơ quan như công an, giao thông vận tải, cảng biển, bảo vệ môi trường, giám sát chất lượng kỹ thuật, hải quan, kiểm dịch nhập khẩu xuất khẩu để xây dựng hệ thống quản lý thông tin về an toàn các chất nguy hiểm. Hệ thống này sẽ giúp quản lý toàn bộ quy trình sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, lưu trữ, sử dụng và xử lý các chất nguy hiểm một cách hiệu quả. Các đơn vị sản xuất, kinh doanh phải nhanh chóng nhập thông tin về các chất nguy hiểm vào hệ thống quản lý an toàn chất nguy hiểm, đồng thời đảm bảo rằng thông tin đó có tính chính xác, trung thực và đầy đủ. Các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn sản xuất tại các thành phố được chia thành các quận/huyện (thành phố, quận), hoặc các huyện (thành phố, khu vực), cần phải kiểm tra và cập nhật thông tin về các hóa chất nguy hiểm đã được ghi nhận. Thông tin về các chất nguy hiểm cần được công bố cho các cơ quan liên quan và các đội ngũ ứng phó khẩn cấp chuyên nghiệp, nhằm đảm bảo việc chia sẻ thông tin một cách hiệu quả. (Điều 26) 10. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống kiểm tra, phát hiện các nguy cơ gây ra tai nạn lao động. Theo quy định của “Quy chế”, các đơn vị sản xuất, kinh doanh phải xây dựng và vận hành một hệ thống để phát hiện và khắc phục các nguy cơ gây ra tai nạn lao động một cách kịp thời. Tình hình kiểm tra và xử lý các nguy cơ tai nạn cần được ghi chép một cách trung thực dưới dạng văn bản, hình ảnh, v.v., đồng thời phải thông báo cho những người làm việc biết. Thời hạn lưu trữ hồ sơ không được ít hơn ba năm. Các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn lao động phải yêu cầu khắc phục ngay những nguy cơ tai nạn được phát hiện trong quá trình kiểm tra ; Trong trường hợp không thể đảm bảo an toàn trước khi loại bỏ các nguy cơ gây ra tai nạn nghiêm trọng, hoặc trong quá trình loại bỏ chúng, thì cần yêu cầu đơn vị sản xuất, kinh doanh rút nhân viên ra khỏi khu vực nguy hiểm, đồng thời yêu cầu họ tạm thời ngừng hoạt động kinh doanh hoặc ngừng sử dụng các thiết bị, máy móc liên quan. Đồng thời, “Quy định” cũng làm rõ trách nhiệm của các cơ quan được giao nhiệm vụ từ phía chính quyền địa phương, như chính quyền xã (thị trấn), các văn phòng quản lý khu dân cư, các cơ quan quản lý khu phát triển (khu công nghiệp), trong việc kiểm tra các nguy cơ tiềm ẩn gây ra tai nạn. (Điều 15, Điều 25, Điều 27) 11. Quy định liên quan đến các địa điểm và công việc đặc biệt được làm rõ hơn nữa. Theo “Quy định”, các đơn vị sản xuất, kinh doanh khi tiến hành các công việc như nổ mìn, nâng hạ vật liệu, thực hiện các công việc liên quan đến lửa, làm việc trong không gian hạn chế, cũng như các công việc nguy hiểm khác được quy định; đồng thời khi thực hiện các công việc gần các đường dây truyền tải điện áp cao, đường ống dẫn dầu (khí), thì phải bố trí nhân viên chuyên trách để quản lý an toàn tại hiện trường. Ngoài ra, cần thực hiện các biện pháp sau: trước khi bắt đầu công việc, phải xác định và phân tích các yếu tố nguy hiểm tại hiện trường, triển khai các biện pháp bảo vệ an toàn, đồng thời hoàn tất các thủ tục kiểm tra nội bộ cần thiết ; Kiểm tra xem nhân viên làm việc có đủ trình độ chuyên môn và kỹ năng cần thiết hay không; đồng thời đảm bảo rằng tình trạng sức khỏe của họ cùng các thiết bị bảo hộ lao động mà họ sử dụng đều đáp ứng các yêu cầu an toàn trong quá trình làm việc ; Thông báo cho nhân viên về các yếu tố nguy hiểm, các yêu cầu an toàn trong quá trình làm việc và các biện pháp ứng phó khẩn cấp ; Khi phát hiện tình huống khẩn cấp có thể gây nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng con người, cần áp dụng các biện pháp khẩn cấp, ngừng công việc và đưa nhân viên ra khỏi khu vực nguy hiểm ; Thực hiện các quy định liên quan đến các công việc nguy hiểm tại tỉnh này, cũng như các quy định về quản lý các công việc nguy hiểm của đơn vị mình. Các đơn vị sản xuất, kinh doanh khi sử dụng hoặc tạo ra các chất dễ cháy nổ như bụi, khí, chất lỏng trong quá trình sản xuất kinh doanh, phải đảm bảo rằng các công trình xây dựng, thiết bị điện, cùng các thiết bị an toàn như hệ thống thông gió, chống tĩnh điện, chống nổ… đều tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn liên quan. Đồng thời, các đơn vị này cũng cần thực hiện các biện pháp sau: áp dụng hệ thống quản lý an toàn cho các khu vực có nguy cơ cháy nổ ; Theo **tiêu chuẩn và quy định ngành**, cần thường xuyên kiểm tra và bảo trì các thiết bị điện, cùng các hệ thống an toàn như thông gió, loại bỏ bụi, chống tĩnh điện, chống nổ ; Tuân thủ quy định về việc kiểm soát lượng chất dễ nổ được lưu trữ tại nơi làm việc ; Theo **tiêu chuẩn và quy định ngành, thường xuyên dọn dẹp bụi cháy nổ ; Đào tạo nhân viên thực hiện các quy trình vận hành an toàn và các biện pháp ứng phó khẩn cấp. (Điều 18, Điều 19) XII. Tiếp tục tăng cường chức năng của hệ thống đánh giá uy tín trong lĩnh vực an toàn lao động. Theo quy định của “Quy chế”, các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn lao động phải thiết lập hệ thống báo cáo về các hành vi vi phạm an toàn lao động. Các cơ quan này cần công bố trên các phương tiện truyền thông thông tin về các hành vi vi phạm nghiêm trọng của các đơn vị sản xuất kinh doanh cùng những người chịu trách nhiệm trong các đơn vị đó, cũng như thông tin về cách xử lý các hành vi vi phạm đó. Đồng thời, các thông tin này cũng cần được ghi vào hồ sơ tín dụng của các đơn vị đó. Các cơ quan chịu trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn lao động cần phối hợp với các cơ quan khác có nhiệm vụ tương tự, cùng với các tổ chức giám sát tài chính và các ngân hàng liên quan, nhằm thúc đẩy việc quản lý thông tin về uy tín trong lĩnh vực an toàn lao động một cách có hệ thống, đồng thời chia sẻ thông tin giữa các bên. Các cơ quan này cũng cần phối hợp với nhau để giám sát và xử lý các hành vi vi phạm quy định về an toàn lao động của các doanh nghiệp. (Điều 35) Thứ mười ba: Tiếp tục phát huy vai trò của bảo hiểm trách nhiệm an toàn lao động. Bằng cách áp dụng cơ chế bảo hiểm, các doanh nghiệp có thể trở lại với vai trò là chủ thể cốt lõi trong thị trường. Điều này giúp các doanh nghiệp nâng cao công tác quản lý an toàn lao động một cách hiệu quả. Đồng thời, nó cũng góp phần giảm bớt gánh nặng cho các doanh nghiệp, từ đó duy trì sự ổn định của xã hội. Theo quy định của “Quy chế”, các cơ quan nhà nước ở cấp huyện trở lên phải có biện pháp khuyến khích và hướng dẫn các đơn vị hoạt động trong các lĩnh vực có mức độ rủi ro cao như khai thác mỏ, xử lý các chất nguy hiểm, xây dựng, giao thông vận tải, hoạt động trên biển… để chúng mua bảo hiểm trách nhiệm an toàn lao động ; Khuyến khích các đơn vị sản xuất, kinh doanh khác mua bảo hiểm trách nhiệm an toàn lao động. Phí bảo hiểm trách nhiệm an toàn sản xuất được tính vào chi phí của đơn vị sản xuất kinh doanh. (Điều 22) 14. Tiếp tục quy định rõ hơn về hoạt động của các tổ chức trung gian trong lĩnh vực an toàn lao động. Phát huy tối đa vai trò của các tổ chức trung gian có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng một hệ thống an toàn lao động vững chắc, tuy nhiên hành vi của các tổ chức trung gian này vẫn cần được quy định một cách rõ ràng. 《Quy định》 nhằm quản lý các tổ chức thực hiện công việc đánh giá an toàn, cấp chứng nhận, kiểm tra, kiểm định, cùng các nhân viên làm việc tại các tổ chức này. Trên cơ sở ban hành trước đó, quy định này bổ sung thêm những quy định liên quan đến việc lập các báo cáo, giấy tờ chứng minh có những sai sót nghiêm trọng ; Thay đổi, rút gọn trái phép các quy định pháp luật, quy định hoặc các thủ tục, nội dung liên quan được quy định trong **tiêu chuẩn, tiêu chuẩn ngành ; Quy định việc thực hiện các hoạt động đánh giá an toàn mà không tiến hành khảo sát tại hiện trường, đồng thời xác định rõ trách nhiệm tương ứng. (Điều 34)

Submit a Project

**Looking for Chemical Technology, Equipment & Solutions?** No Registration Required Broader Platform Exposure | Global Chemical Service Provider Connections

Submit Request — Free Consultation

Disclaimer

This is an automated machine translation of the original thread. Some technical terms may have inaccuracies; the original text shall prevail. Click "View Original" at the top right to access the source page, which supports IP-based automatic real-time language translation. Please watch out for contact details and sales inducements to prevent fraud. All content and translations are for reference only, representing solely the poster's personal views. For enquiries, email service@hcbbs.com.