Thread Content
Ông Hà bắt đầu làm việc tại mỏ than A vào tháng 3 năm 2008. Sau khi vượt qua các cuộc kiểm tra sức khỏe do mỏ tổ chức, ông được phép tham gia công việc khai thác than và đào hầm dưới lòng đất. Hai bên đã ký hợp đồng lao động bằng văn bản, và ông cũng được tham gia chương trình bảo hiểm tai nạn lao động. Vào ngày 21 tháng 5 năm 2012, ông Hà bị văng thương do đá vụn trong quá trình làm việc dưới mỏ. Vụ tai nạn này được coi là tai nạn lao động, và ông được Ủy ban đánh giá khả năng lao động của thành phố xác định mức độ khuyết tật ở mức 8. Vào tháng 2 năm 2013, ông Hà đã đạt được thỏa thuận hòa giải với mỏ than A: chấm dứt mối quan hệ lao động giữa hai bên. Mỏ than A sẽ trả cho ông Hà tổng số tiền bồi thường liên quan đến chấn thương là 72.700 nhân dân tệ. Vào tháng 4 năm 2013, ông Hà bị các triệu chứng sức khỏe không ổn; sau khi được Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh thành phố kiểm tra, ông được chẩn đoán mắc bệnh phổi do bụi than ở giai đoạn 1. Hà Mỗ đã yêu cầu tiến hành trọng tài, đòi mỏ than A phải chi trả cho mình các khoản trợ cấp theo tiêu chuẩn dành cho những người bị bệnh nghề nghiệp do phơi nhiễm bụi than ở giai đoạn đầu. Vậy, ai sẽ phải chi trả các khoản trợ cấp liên quan đến bệnh nghề nghiệp của ông Hà trong giai đoạn đầu? Liệu yêu cầu của ông ấy có được chấp nhận hay không? Trong quá trình xét xử, ủy ban trọng tài đã có hai quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng: Điều 36 của “Luật Phòng chống bệnh nghề nghiệp” quy định rằng, đối với những người lao động làm việc trong môi trường có nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp, người sử dụng lao động phải tổ chức kiểm tra sức khỏe nghề nghiệp cho họ trước khi bắt đầu làm việc, trong thời gian làm việc và sau khi kết thúc công việc. Kết quả của các cuộc kiểm tra này cần được thông báo một cách trung thực cho người lao động. Mặc dù ông Hà phát hiện mình mắc bệnh nghề nghiệp vào lúc mối quan hệ lao động với mỏ than A đã chấm dứt, nhưng mỏ than A vẫn phải thực hiện các xét nghiệm sức khỏe cho ông trước khi ông rời khỏi nơi làm việc, đồng thời thông báo kết quả xét nghiệm cho ông. Nếu không làm như vậy, thì đó được coi là hành vi vi phạm quyền lợi của người lao động từ phía người sử dụng lao động. Vì vậy, việc người sử dụng lao động có tiến hành kiểm tra sức khỏe cho nhân viên trước khi họ nghỉ việc hay không chính là yếu tố then chốt trong việc xử lý vụ việc này. Nếu mỏ than A tiến hành kiểm tra sức khỏe cho ông Hà trước khi ông nghỉ việc, thì rất có thể ông sẽ được chẩn đoán mắc bệnh nghề nghiệp ngay trước khi kết thúc mối quan hệ lao động. Không thể có chuyện ông mới được chẩn đoán mắc bệnh phổi do bụi than ở giai đoạn 1 sau 2 tháng kết thúc mối quan hệ lao động. Vì ông Hà đã tham gia bảo hiểm lao động, theo quy định tại địa phương, các khoản trợ cấp một lần liên quan đến chấn thương nghề nghiệp và chi phí y tế sẽ do cơ quan quản lý bảo hiểm lao động tại nơi mỏ than A đăng ký bảo hiểm chi trả. Điều này sẽ giúp **giảm bớt rủi ro cho người sử dụng lao động**. Trong vụ việc này, mỏ than A không tiến hành kiểm tra sức khỏe cho ông Hà trước khi ông nghỉ việc. Vì vậy, với tư cách là đơn vị sử dụng lao động cuối cùng của ông Hà, mỏ than A phải chịu trách nhiệm chi trả các khoản trợ cấp liên quan đến bệnh nghề nghiệp của ông. Ở đây, mặc dù mỏ than A và ông Hà đã đạt được thỏa thuận vào tháng 2 năm 2013 về mức độ khuyết tật cấp 8 của ông Hà, từ đó chấm dứt mối quan hệ lao động giữa hai bên, nhưng mỏ than A vẫn phải tuân theo các quy định trong “Quy chế bảo hiểm tai nạn lao động”. Mỏ than A cần phải bồi thường cho ông Hà khoản trợ cấp một lần liên quan đến chấn thương nghề nghiệp; đồng thời phải trả đầy đủ các khoản trợ cấp một lần khác như trợ cấp việc làm và trợ cấp y tế. Trước đó, mỏ than A đã trả đầy đủ số tiền trợ cấp một lần liên quan đến mức độ khuyết tật cấp 8 của ông Hà rồi. Yêu cầu của ông Hà nên được ủy ban trọng tài và tòa án hỗ trợ. Quan điểm thứ hai cho rằng: Khi người lao động đã chấm dứt mối quan hệ lao động với người sử dụng lao động, họ phải chịu trách nhiệm pháp lý theo những gì đã ký kết; họ không nên tiếp tục yêu cầu người sử dụng lao động bồi thường nữa. Theo Điều 62 của “Luật Phòng chống bệnh nghề nghiệp”, những người mắc bệnh nghề nghiệp mà đơn vị sử dụng lao động đã không còn tồn tại hoặc không thể xác định được mối quan hệ lao động với họ, có thể nộp đơn xin trợ giúp y tế và các hỗ trợ khác từ cơ quan dân sự địa phương. Do đó, ông Hà chỉ có thể nộp đơn xin trợ giúp từ cơ quan dân sự tại địa phương mà thôi. Trong vụ việc này, xuất phát từ mục tiêu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động, ủy ban trọng tài đã chấp nhận quan điểm thứ nhất.