Thread Content
Những ai quan tâm có thể xem các bài viết khác của tôi tại đây: http://www.haolin.biz/UserForum/blog/bloghome.html. Bất kỳ ai quan tâm đến xe điện cũng đều biết về cuộc cạnh tranh giữa vật liệu lithium phosphate và vật liệu tứ nguyên trong lĩnh vực này. Thực ra, việc có được phốt phát sắt lithium chất lượng cao không hề dễ dàng. Ngoài việc điều chỉnh và kiểm soát các điều kiện sản xuất, yêu cầu đối với nguyên liệu cũng vô cùng nghiêm ngặt. Thực tế, để tạo ra vật liệu lithium photphat có hiệu suất cao, trước tiên cần phải chế tạo được các chất tiền chất có chất lượng tốt; việc sử dụng lithium photphat để tạo ra các chất tiền chất là một lựa chọn rất hay. Tuy nhiên, hiện vẫn còn những vấn đề như quy trình sản xuất phốt phát sắt chưa hoàn thiện, và chất lượng sản phẩm chưa ổn định. Tính chất vật lý hóa học: FePO4, còn được gọi là photphat sắt(III), có tỷ trọng 2,74. Trong tự nhiên, FePO4 còn được gọi là azurit. Trong FePO4, sắt ở dạng ion sắt(III); phần lớn FePO4 tồn tại dưới dạng muối kết hợp với nước. Ngoài axit sunfuric ra, FePO4 khó hòa tan trong các loại axit khác; gần như không hòa tan trong nước, axit axetic hay rượu. Đó là một loại bột tinh thể dạng lăng trụ, có màu trắng hoặc xám trắng. Đây là muối được tạo thành từ sự phản ứng giữa dung dịch muối sắt và natri photphat; trong đó, sắt ở dạng ion ba giá trị. Có những ưu điểm như không độc hại, chi phí thấp, cấu trúc ổn định. Hình ảnh SEM của phốt phiết sắt được tổng hợp với các tỷ lệ mol sắt/phốt pho khác nhau (lấy từ tài liệu nghiên cứu). Phốt phiết sắt có nhiều cấu trúc khác nhau, chủ yếu bao gồm cấu trúc pyrophosphite, cấu trúc monoklin, cấu trúc thạch anh loại a, cấu trúc orthorhombic, và cấu trúc vô định hình. Phốt phát sắt có cấu trúc tương tự như khoáng vật apatit sắt phốt pho, và đó chính là sản phẩm sau khi loại bỏ lithium khỏi LiFePO4. Cả hai đều có cấu trúc tương tự nhau, thuộc hệ tinh thể trực giao. Cấu trúc tinh thể của khoáng vật pyrit thuộc hệ tinh thể monoclinic, FePO4·2H2O, được tạo thành từ các tứ diện PO4 và các lập phương FeO6; chúng kết hợp với nhau để tạo nên một cấu trúc ba chiều. So với hệ tinh thể trigonal, cấu trúc này khiến cho FePO4·2H2O có độ ổn định nhiệt kém hơn. Nghiên cứu cho thấy tính chất điện hóa của FePO4·2H2O ở dạng tinh thể lăng trụ kém hơn so với dạng tinh thể đơn trục. Trong FePO4·2H2O ở dạng tinh thể lăng trụ, do sự tương tác giữa các liên kết Fe-O-Fe, hợp chất này có tính chất chống từ tính mạnh. Cả tính chất điện hóa lẫn tính chất từ tính của nó đều phụ thuộc vào cấu trúc của nó ( thông tin từ tài liệu nghiên cứu). Lĩnh vực ứng dụng: Việc sử dụng sắt đã diễn ra trong hàng nghìn năm; còn việc tận dụng triệt để các muối sắt thì chỉ bắt đầu sau Cách mạng Công nghiệp. Sau nhiều năm nghiên cứu và ứng dụng, phốt phát sắt đã có những ứng dụng rất rộng rãi, được sử dụng trong các lĩnh vực như chất xúc tác, chất phụ gia, nguyên liệu để tổng hợp vật liệu điện cực, v.v. Là chất xúc tác, phốt phát sắt ở cấp độ nano có thể được sử dụng như chất xúc tác, mang lại hiệu quả cao trong quá trình khử oxy hóa. Nó có khả năng thực hiện quá trình xúc tác oxy hóa có chọn lọc, và đã chứng tỏ tiềm năng ứng dụng trong lĩnh vực tổng hợp hữu cơ. Là chất phụ gia, photphat sắt có thể được dùng làm chất phụ gia cho xi măng, đồng thời cũng có thể được sử dụng như chất tăng cường độ cho sắt. Khi thêm phốt phát sắt vào xi măng magiê, người ta có thể thu được hỗn hợp gồm chất kết dính magiê và xi măng; loại xi măng này có khả năng chống nước rất tốt. Vì sắt có điện tích ba, nên nó khó bị oxy hóa trong không khí. Do đó, có thể thêm FePO4 vào thực phẩm để giúp thực phẩm có thể được lưu trữ trong thời gian dài. Ngoài ra, việc này còn giúp bổ sung chất sắt cho cơ thể, từ đó nâng cao khả năng vận chuyển oxy của hemoglobin, và ngăn ngừa các triệu chứng của bệnh thiếu máu do thiếu sắt. Là vật liệu điện cực và nguyên liệu thô, FePO4 ở dạng ba giá trị điện tích có chi phí khá thấp, nguồn cung cấp dồi dào. Ngoài ra, chất này còn có điện áp phù hợp và dung lượng tỷ lệ cao theo lý thuyết; do đó, đây là vật liệu cathode cho pin lithium-ion rất tiềm năng. Tuy nhiên, FePO4 có nhiều dạng tinh thể khác nhau, và mức độ hoạt tính điện hóa của chúng cũng không giống nhau. Để đạt được dung lượng riêng cao hơn, việc thu nhỏ kích thước hạt là một biện pháp hiệu quả. FePO4 được sử dụng làm vật liệu điện cực, và đó chính là ứng dụng chính của nó trong công nghiệp. Đó là sản phẩm tách lithium từ LiFePO4, vì vậy nó có thể được sử dụng làm nguyên liệu tiền chất để tổng hợp vật liệu này. Là chất màu chống gỉ, phốt phát sắt có thể thay thế các chất được sử dụng phổ biến như đỏ thủy ngân (Pb3O4), phốt phát kẽm, vàng chì crôm (PbCrO4) cùng vàng kẽm crôm (thành phần chính là ZnCrO4). Chất này được ứng dụng rộng rãi trong việc tạo lớp màu chống gỉ cho các sản phẩm bằng thép. Cơ chế chống gỉ của nó có thể được hiểu như sau: Phosphat sắt dihydroxit thông qua quá trình thủy phân tạo ra các ion photphat; các ion này tương tác với các ion sắt ba giá trị trên bề mặt vật liệu thép, từ đó tạo thành lớp màng bảo vệ FePO4. Lớp màng này ngăn không cho không khí và hơi ẩm tiếp xúc trực tiếp với bề mặt vật liệu thép, qua đó đạt được mục đích chống gỉ. Lời giới thiệu của biên tập viên: Các hệ tinh thể được phân loại thành 7 nhóm dựa trên các yếu tố đối xứng mà chúng thể hiện trong hình dạng lý tưởng của chúng hoặc trong các tính chất vật lý vĩ mô. Những nhóm này gồm hệ tinh thể lập phương, lục phương, tam phương, tứ phương, trực giao, đơn trụ và tam trụ. Chúng thuộc về 3 nhóm tinh thể khác nhau. Trong các nhóm tinh thể cao cấp, chỉ có hệ tinh thể khối lập phương mà thôi ; Trong nhóm tinh thể cấp trung gian, có ba hệ tinh thể là hệ lục phương, hệ tứ phương và hệ tam phương ; Trong các nhóm tinh thể cấp thấp, có ba hệ tinh thể là hệ trực giao, hệ đơn trụ và hệ tam trụ. Vật liệu cực dương: Các thành phần chính của pin lithium-ion bao gồm dung môi điện phân, vật liệu cách ly, vật liệu cực dương và cực âm, v.v. Vật liệu cực dương chiếm tỷ trọng khá lớn (tỷ lệ khối lượng giữa vật liệu cực dương và cực âm là 3:1–4:1). Bởi vì chất lượng của vật liệu cực dương ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất của pin lithium-ion; đồng thời, chi phí của vật liệu này cũng quyết định trực tiếp đến giá thành của pin.