Thread Content
Để nâng cao mức độ phổ biến và thúc đẩy sự trao đổi kỹ thuật giữa các thành viên, chúng tôi xin giới thiệu chương trình 【Một câu hỏi mỗi ngày】. Tham gia là có ngay 4 điểm tài sản! Trả lời đúng hoặc thảo luận sâu sắc sẽ nhận được phần thưởng 10 điểm tài sản! :lol Giải thích thuật ngữ: “Giới hạn nổ” là gì? Đáp án: Giới hạn nổ – Là phạm vi nồng độ của khí dễ cháy khi kết hợp với không khí, tạo điều kiện cho sự nổ xảy ra. ====================================== ☛ Cuộc bình chọn “Tôi đang tiết kiệm năng lượng, còn bạn thì sao?” trong khu vực hóa dầu đã bắt đầu. http://bbs.hcbbs.com/thread-1606794-1-1.html (Nguồn: Diễn đàn Hải Xuyên Hóa Chất) ☛ Kết quả cuộc bình chọn các thành viên quản lý xuất sắc nhất của Hải Xuyên trong kỳ đầu tiên sẽ được công bố trong 10 ngày nữa. http://bbs.hcbbs.com/thread-1609050-1-1.html (Nguồn: Diễn đàn Hải Xuyên Hóa Chất) ☛ Thông báo về việc trao giải thưởng cho các chủ diễn đàn, kỹ thuật viên và thành viên xuất sắc nhất trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2016. http://bbs.hcbbs.com/thread-1608031-1-1.html (Nguồn: Diễn đàn Hải Xuyên Hóa Chất)
Giới hạn nổ, nói một cách đơn giản, chính là các điều kiện xác định ngưỡng xảy ra vụ nổ. Lấy khí dễ cháy làm ví dụ, đó chính là nồng độ tối thiểu và tối đa mà ở mức đó, chất dễ cháy có thể bùng nổ trong không khí. Vượt quá phạm vi này thì không thể nổ được. Ngưỡng nổ càng hẹp thì mức độ an toàn càng cao.
Khi hơi của các chất khí dễ cháy, chất lỏng dễ cháy (hoặc bụi dễ cháy) hòa trộn với không khí và đạt đến một nồng độ nhất định, chúng sẽ phát nổ khi tiếp xúc với nguồn lửa. Phạm vi nồng độ mà ở đó chất liệu có thể phát nổ được gọi là giới hạn nổ. Giới hạn này thường được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm thể tích của khí, hơi hoặc bụi dễ cháy trong không khí.
Các chất dễ cháy (khí dễ cháy, hơi và bụi) cần được trộn đều với không khí (hoặc oxy) trong một phạm vi nồng độ nhất định, tạo thành hỗn hợp sẵn sàng cháy. Chỉ khi tiếp xúc với nguồn lửa thì hỗn hợp này mới bùng nổ. Phạm vi nồng độ này được gọi là giới hạn nổ, hay giới hạn nồng độ gây nổ
Các chất dễ cháy (khí dễ cháy, hơi và bụi) cần được trộn đều với không khí (hoặc oxy) trong một phạm vi nồng độ nhất định, tạo thành hỗn hợp sẵn sàng cháy. Chỉ khi tiếp xúc với nguồn lửa thì hỗn hợp này mới bùng nổ. Phạm vi nồng độ này được gọi là giới hạn nổ, hay giới hạn nồng độ gây nổ
Phạm vi tỷ lệ giữa chất dễ cháy và chất xúc tác cháy mà khi kết hợp với nhau có thể gây ra vụ nổ được gọi là giới hạn nổ.
Đáp: Giới hạn nổ chính là phạm vi nồng độ mà ở đó, khí dễ cháy (hoặc hơi của chúng) có thể bốc cháy hoặc nổ trong không khí.
Các chất dễ cháy kết hợp đều với không khí trong một phạm vi nồng độ nhất định, tạo thành hỗn hợp sẵn sàng cháy. Chỉ khi gặp nguồn lửa thì hỗn hợp này mới bùng nổ. Phạm vi nồng độ này được gọi là giới hạn nổ
Một khoảng nồng độ nhất định: dưới giới hạn dưới của khoảng này, chất đó sẽ không bùng nổ; còn khi vượt quá giới hạn trên của khoảng này, chất đó chỉ bị cháy mà thôi.
Phạm vi nồng độ tối thiểu và tối đa mà ở đó, hỗn hợp khí dễ cháy với không khí có thể gây ra vụ nổ
Các chất dễ cháy (khí dễ cháy, hơi và bụi) cần được trộn đều với không khí (hoặc oxy) trong một phạm vi nồng độ nhất định, tạo thành hỗn hợp sẵn sàng cháy. Chỉ khi tiếp xúc với nguồn lửa thì hỗn hợp này mới có thể phát nổ. Phạm vi nồng độ này được gọi là giới hạn nổ, hay giới hạn nồng độ gây nổ.
Các chất dễ cháy (khí dễ cháy, hơi và bụi) cần được trộn đều với không khí (hoặc oxy) trong một phạm vi nồng độ nhất định, tạo thành hỗn hợp sẵn sàng cháy. Chỉ khi tiếp xúc với nguồn lửa thì hỗn hợp này mới có thể phát nổ. Phạm vi nồng độ này được gọi là giới hạn nổ, hay giới hạn nồng độ gây nổ.
Là phạm vi nồng độ mà ở đó, khí dễ cháy kết hợp với không khí sẽ gây ra vụ nổ
Các chất dễ cháy (khí dễ cháy, hơi và bụi) cần được trộn đều với không khí (hoặc oxy) trong một phạm vi nồng độ nhất định, tạo thành hỗn hợp sẵn sàng cháy. Chỉ khi tiếp xúc với nguồn lửa thì hỗn hợp này mới bùng nổ. Phạm vi nồng độ này được gọi là giới hạn nổ, hay giới hạn nồng độ gây nổ
Khả năng chứa chất dễ cháy trong một không gian có thể tích nhất định
Phạm vi tỷ lệ giữa chất dễ cháy và không khí (hoặc oxy) mà ở đó có thể xảy ra vụ nổ được gọi là giới hạn nổ
Các chất dễ cháy (khí dễ cháy, hơi và bụi) cần được trộn đều với không khí (hoặc oxy) trong một phạm vi nồng độ nhất định, tạo thành hỗn hợp sẵn sàng cháy. Chỉ khi tiếp xúc với nguồn lửa thì hỗn hợp này mới có thể phát nổ. Phạm vi nồng độ này được gọi là giới hạn nổ, hay giới hạn nồng độ gây nổ.
Các chất dễ cháy (khí dễ cháy, hơi và bụi) cần được trộn đều với không khí (hoặc oxy) trong một phạm vi nồng độ nhất định, tạo thành hỗn hợp sẵn sàng cháy. Chỉ khi tiếp xúc với nguồn lửa thì hỗn hợp này mới có thể phát nổ. Phạm vi nồng độ này được gọi là giới hạn nổ, hay giới hạn nồng độ gây nổ.
Các chất dễ cháy (khí dễ cháy, hơi và bụi) cần được trộn đều với không khí (hoặc oxy) trong một phạm vi nồng độ nhất định, tạo thành hỗn hợp sẵn sàng cháy. Chỉ khi tiếp xúc với nguồn lửa thì hỗn hợp này mới có thể phát nổ. Phạm vi nồng độ này được gọi là giới hạn nổ, hay giới hạn nồng độ gây nổ.
“Giới hạn nổ” là gì? Các chất dễ cháy (khí dễ cháy, hơi và bụi) cần được trộn đều với không khí (hoặc oxy) trong một phạm vi nồng độ nhất định, tạo thành hỗn hợp sẵn sàng cháy. Chỉ khi tiếp xúc với nguồn lửa thì hỗn hợp này mới có thể phát nổ. Phạm vi nồng độ này được gọi là giới hạn nổ, hay giới hạn nồng độ gây nổ. Ví dụ, giới hạn nổ của hỗn hợp khí carbon monoxide và không khí là 12,5%–74%. Nồng độ tối thiểu và tối đa của hỗn hợp dễ cháy mà vẫn có thể gây ra vụ nổ lần lượt được gọi là giới hạn dưới của sự nổ và giới hạn trên của sự nổ. Hai giá trị này đôi khi cũng được gọi là giới hạn dưới của việc cháy và giới hạn trên của việc cháy. Khi nồng độ thấp hơn ngưỡng nổ, nó sẽ không nổ cũng không bắt lửa ; Khi nồng độ cao hơn giới hạn nổ thì sẽ không xảy ra vụ nổ, nhưng vẫn có thể cháy. Điều này xảy ra do nồng độ chất dễ cháy ở phía trước không đủ, cùng với tác dụng làm mát của lượng không khí dư thừa, khiến ngọn lửa không thể lan rộng ; Còn nguyên nhân thứ hai là do thiếu không khí, khiến ngọn lửa không thể lan rộng. Khi nồng độ của chất dễ cháy gần bằng với nồng độ tương ứng trong phản ứng, lúc đó sức công phá của vụ nổ sẽ lớn nhất (tức là tỷ lệ nồng độ được tính dựa trên phương trình phản ứng cháy hoàn toàn). Kiểm soát nồng độ khí là một yếu tố thiết yếu trong an toàn lao động. Thêm khí trơ hoặc các loại khí không dễ cháy để giảm nồng độ. Trước khi thải khí ra ngoài, có thể sử dụng bộ lọc khí hoặc phương pháp hấp phụ để loại bỏ các khí dễ nổ.
Các chất dễ cháy (khí dễ cháy, hơi và bụi) cần được trộn đều với không khí (hoặc oxy) trong một phạm vi nồng độ nhất định, tạo thành hỗn hợp sẵn sàng cháy. Chỉ khi tiếp xúc với nguồn lửa thì hỗn hợp này mới có thể phát nổ. Phạm vi nồng độ này được gọi là giới hạn nổ, hay giới hạn nồng độ gây nổ.