Thread Content
Sản xuất khí từ than hy vọng tận dụng sự chênh lệch giữa cung và cầu khí tự nhiên Tác giả/Nguồn: Ngày đăng: 24/08/2016 Lượt xem: 11 Hiện nay, tỷ lệ tiêu thụ khí tự nhiên ở nước ta chỉ chiếm 5,8%. Khả năng sản xuất khí từ than hiện tại chỉ đạt 3,105 tỷ mét khối mỗi năm, con số này còn rất thấp so với nhu cầu 200 tỷ mét khối mỗi năm của nước ta. **Phó Cục trưởng Cục Năng lượng, ông Trương Ngọc Thanh, gần đây cho biết, nước ta sẽ tiếp tục tăng tỷ trọng việc sử dụng khí đốt tự nhiên, mở rộng quy mô ứng dụng khí đốt tự nhiên. Mục tiêu là đến năm 2020, tỷ trọng khí đốt tự nhiên trong tổng lượng năng lượng được sử dụng sẽ đạt khoảng 10%, còn đến năm 2030 thì sẽ đạt khoảng 15%. Tuần trước, các phóng viên đã phỏng vấn các chuyên gia trong ngành và được biết rằng sự chênh lệch lớn giữa cung và cầu sẽ mang lại “mùa xuân” cho ngành sản xuất khí tự nhiên từ than đang trong giai đoạn phát triển. Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy sự phát triển. Theo các số liệu, trong nửa đầu năm 2016, sản lượng khí tự nhiên của Trung Quốc đạt 67,5 tỷ mét khối, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước ; Lượng khí đốt tự nhiên nhập khẩu là 35,6 tỷ mét khối, tăng 21,2% ; Lượng tiêu thụ khí tự nhiên là 99,5 tỷ mét khối, tăng 9,8%. Khoảng cách giữa sản lượng và nhu cầu về khí tự nhiên của đất nước chúng ta ngày càng tăng lên. “Độ tương phản càng lớn, chúng ta sẽ có càng nhiều cơ hội. ”Vào ngày 18 tháng 8, ông Lý Quảng Dân, chủ tịch của Công ty Cổ phần Máy móc Hóa chất Yangmei thuộc tỉnh Sơn Tây, đã có những phát biểu trong cuộc phỏng vấn với phóng viên của báo Hóa chất Trung Quốc. “Chúng tôi đang tiến mạnh vào lĩnh vực năng lượng mới, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất thiết bị từ than đá để tạo ra khí tự nhiên, nhằm mở ra một kỷ nguyên mới cho ngành sản xuất thiết bị. ”Là một trong những doanh nghiệp sản xuất máy móc hóa chất lớn nhất cả nước về mặt đầu tư và quy mô, Yangmei Huajī đã chuyển hướng sang thị trường liên quan đến việc chuyển đổi than thành khí tự nhiên. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong ngành công nghiệp này. Ông Lý Quảng Dân cho biết, dựa trên kế hoạch chiến lược “Biến tỉnh Sơn Tây thành vùng sử dụng khí đốt” của tỉnh Sơn Tây, cùng với sự phê duyệt từ Ủy ban Phát triển và Cải cách về kế hoạch phát triển ngành công nghiệp khí đốt của Tập đoàn Năng lượng Mới Quốc gia, công ty sẽ tận dụng cơ hội hợp tác chiến lược với Tập đoàn Năng lượng Mới Quốc gia. Công ty sẽ tập trung vào các dự án liên quan đến việc lắp đặt đường ống dẫn khí trong vòng ba năm tới, cũng như xây dựng các trạm nạp khí CNG và LNG. Đồng thời, công ty cũng sẽ tham gia vào việc sản xuất các thiết bị liên quan, cũng như công tác lắp đặt đường ống, bảo vệ đường ống khỏi sự ăn mòn và cách nhiệt cho chúng. Bao gồm các đường ống vận chuyển khí đốt dài, các bồn chứa LNG có dung tích lớn và bồn chứa có dung tích nhỏ, thiết bị tại các trạm nạp khí LNG và nhà máy lỏng hóa khí, cùng các thiết bị khác liên quan đến trạm nạp khí LNG và nhà máy lỏng hóa khí. Giáo sư Kim Yong, thành viên Viện Kỹ thuật Trung Quốc và giáo sư tại Khoa Kỹ thuật Hóa học, Đại học Thanh Hoa, cho rằng khí tự nhiên là nguồn năng lượng sạch và quan trọng. Để giải quyết vấn đề phát thải khí carbon, nước ta cần nghiên cứu và phát triển các biện pháp sử dụng khí tự nhiên làm nguồn năng lượng, đồng thời phát triển một cách hợp lý việc chuyển đổi than thành khí. Ông cho biết, hiệu suất chuyển đổi than thành khí tự nhiên là 52%–56%. Ngoài ra, lượng nước cần thiết để chuyển đổi than thành khí cũng tương đối ít, chỉ bằng một phần ba lượng nước cần dùng trong quy trình sản xuất các sản phẩm như metanol. So với khí tự nhiên sản xuất trong nước và nhập khẩu, khí từ than có lợi thế về chi phí rõ rệt, đồng thời có điều kiện phát triển tốt. Hiện nay, nhiều thành phố xanh đã lên kế hoạch sử dụng khí tự nhiên. Tính đến tháng 6 năm nay, lượng khí tự nhiên được cung cấp cho toàn thành phố Thượng Hải mỗi năm đã vượt quá 7 tỷ mét khối. Ngoài ra, việc sử dụng khí từ than để thay thế việc sử dụng than trực tiếp sẽ không tạo ra các hạt vật chất có thể lơ lửng trong không khí. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường như sương mù. “Năm 2015, tỷ lệ hộ gia đình sử dụng khí đốt ở tỉnh Sơn Tây đạt 52%. Có 5,5 triệu hộ gia đình ở 104 huyện (thành phố, khu vực) trong tỉnh được sử dụng khí đốt. ”Ông Lương Tạ Hổ, chủ tịch Tập đoàn Phát triển Năng lượng Mới tỉnh Sơn Tây, cho biết với mục tiêu “biến Sơn Tây thành vùng sử dụng năng lượng khí”, Ủy ban Tỉnh và chính quyền tỉnh Sơn Tây đã trao cho công ty này quyền kinh doanh độc quyền 10 tỷ mét khối khí tự nhiên, cùng quyền quản lý 20 tỷ mét khối khí hỗn hợp. “Nước ta nên tận dụng cơ hội trong giai đoạn điều chỉnh chiến lược công nghiệp hóa than truyền thống và giai đoạn xây dựng các mô hình công nghiệp hóa than hiện đại, để phát triển mạnh ngành sản xuất khí từ than. Dựa trên công nghệ chuyển đổi than thành khí tự nhiên đã được hoàn thiện, đồng thời xem xét việc thiết kế các nhà máy chuyển đổi than thành khí tự nhiên hiện đại. Mục tiêu là vừa đảm bảo lợi ích của người dân, vừa xây dựng các dự án chuyển đổi than thành khí tự nhiên mang tính sạch sẽ, thông minh, có quy mô lớn, nhằm đạt được mục tiêu cân bằng giữa kinh tế, tài nguyên và môi trường. ”Ông Lý Đại Thượng, giám đốc Trung tâm Thiết kế Công nghệ Hóa dầu than toàn quốc, đã cho biết trong cuộc phỏng vấn với phóng viên của tờ Báo Hóa chất Trung Quốc vào ngày 17 tháng 8 rằng, xét về mức độ hoàn thiện của công nghệ hiện tại, cũng như khả năng tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải, khí tự nhiên từ than là một loại năng lượng ít carbon rất tốt, có nhiều ưu điểm về mặt kinh tế và công nghệ. Thực hiện các dự án mẫu trước tiên. Trong bối cảnh xã hội và ngành công nghiệp như vậy, nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu phát triển công nghệ chuyển đổi than thành khí tự nhiên. “Dự án sản xuất khí tự nhiên từ than của công ty chúng tôi hiện đang vận hành rất ổn định, với khả năng lỏng hóa 1 triệu mét khối khí tự nhiên mỗi ngày, tạo ra khoảng 700 tấn LNG. ”Ngày 19 tháng 8, ông Cung Xuân Hoài, Phó Bí thư Đảng ủy và Chủ nhiệm Ủy ban Kỷ luật của Công ty TNHH Hóa chất than Jinmei Tianqing, đã trả lời phỏng vấn của phóng viên. Đầu tháng này, Cục Quy hoạch thành phố Yanji, tỉnh Jilin đã đưa việc thúc đẩy xây dựng dự án mô hình tích hợp khai thác than, sản xuất điện và sử dụng nhiệt lượng tại khu vực Xing’an League, Nội Mông vào chương trình công việc quan trọng. Dự án này được đầu tư xây dựng bởi công ty liên doanh giữa Công ty Cổ phần Khai thác Mỏ Nội Mông và Công ty Cổ phần Năng lượng tỉnh Cát Lâm. Dự án đã được đưa vào “Kế hoạch sử dụng khí tự nhiên của tỉnh Cát Lâm”, và cũng là một trong những nguồn cung cấp khí quan trọng trong dự án nhằm mang lại lợi ích cho người dân tỉnh Cát Lâm. Dự án này do Công ty Cổ phần Năng lượng và Hóa chất Xing’an thuộc Tập đoàn Khai thác mỏ Nội Mông thực hiện. Tổng vốn đầu tư dự kiến là 30,2 tỷ nhân dân tệ. Quy mô xây dựng là sản xuất 4 tỷ mét khối khí tự nhiên từ than mỗi năm. Các sản phẩm chính bao gồm khí tự nhiên từ than, than sạch, than nâu, cùng các sản phẩm phụ như nafta. Không chỉ vậy, kể từ đầu năm nay, các dự án như Dự án mẫu về việc sử dụng hiệu quả than nâu ít biến chất tại Đại Đồng, tỉnh Sơn Tây do Tổng công ty Dầu khí Biển Trung Quốc triển khai; Dự án sản xuất khí tự nhiên từ than với công suất 4 tỷ mét khối mỗi năm do Công ty Năng lượng Beikong Jingtai ở Nội Mông triển khai; và Dự án sản xuất khí tự nhiên từ than với công suất 4 tỷ mét khối mỗi năm do Công ty Su New Energy and Feng triển khai cũng lần lượt được phê duyệt về mặt môi trường. Điều này góp phần tăng thêm niềm tin vào sự phát triển của ngành sản xuất khí từ than. “Được phê duyệt đánh giá tác động môi trường, dự án được thúc đẩy nhanh chóng, điều này mang lại lợi ích cho cả tỉnh Sơn Tây và các doanh nghiệp. ”Phó trưởng phòng Công nghiệp thuộc Ủy ban Phát triển và Cải cách tỉnh Sơn Tây, ông Trương Hải Long, cho biết với phóng viên báo Hóa chất Trung Quốc rằng dự án chuyển hóa than thành khí đốt của CNOOC và Tập đoàn Than Đại Đồng đã chính thức được khởi công vào năm 2009. Đây là dự án năng lượng sạch dựa trên nguồn than, được thực hiện thông qua sự hợp tác giữa Tập đoàn CNOOC với thành phố Đại Đồng thuộc tỉnh Sơn Tây và Tập đoàn Mỏ Than Đại Đồng. Dự án bao gồm hai mỏ than với công suất sản xuất 10 triệu tấn mỗi năm, cùng một nhà máy chuyển hóa than thành khí đốt với công suất sản xuất 4 tỷ mét khối khí đốt mỗi năm. Theo thỏa thuận, hai mỏ than này do Tập đoàn Đồng Mỏ nắm quyền kiểm soát, còn CNOOC thì góp vốn vào ; Còn dự án sản xuất khí từ than thì do CNOOC nắm quyền kiểm soát ; Tập đoàn Đồng Mỏ tham gia góp vốn. “Tính đến nay, tại nước ta, có tổng cộng 3 dự án sản xuất khí tự nhiên từ than đã đi vào hoạt động ở giai đoạn một; công suất sản xuất hàng năm của các dự án này là 3,105 tỷ mét khối ; Có 2 dự án đang được xây dựng, với công suất sản xuất hàng năm là 6 tỷ mét khối ; Thực hiện 8 dự án công tác chuẩn bị, với quy mô tổng cộng hàng năm là 72,2 tỷ mét khối. ”Phó trưởng phòng Công nghiệp năng lượng và hóa chất thuộc Viện Quy hoạch ngành Dầu khí và Hóa chất, bà Hàn Hồng Mai, cho biết trong kỳ “13.5”, ngành này cần được phát triển tại các khu vực được quy hoạch để phát triển kinh tế và các khu vực trọng điểm. Ưu tiên nên chọn những khu vực có nguồn tài nguyên nước dồi dào, môi trường sống tốt, đồng thời phải tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường. Các khu vực đã hết khả năng chứa đựng môi trường phải tiến hành các biện pháp để giải phóng khả năng đó trước. Ở các khu vực Bắc Kinh – Thiên Tân – Bắc Kinh, Đồng bằng sông Dương Tử, Đồng bằng sông Châu Giang cũng như các vùng thiếu nước, việc xây dựng các dự án công nghiệp hóa thạch hiện đại mới bị kiểm soát chặt chẽ. Cải thiện quản lý công nghệ: Về cách mà các doanh nghiệp nên phát triển ngành sản xuất khí tự nhiên từ than, Kim Dũng nhấn mạnh rằng điểm then chốt là phải phát triển việc sản xuất trong nước các chất xúc tác quan trọng cùng các vật tư khác, nhằm giảm chi phí vận hành dự án. Ngoài ra, quá trình khí hóa xúc tác từ than đá hiện nay bao gồm phương pháp hai bước, khí hóa xúc tác, khí hóa bằng hydro, v.v. Phản ứng methan hóa theo phương pháp hai bước diễn ra ở nhiệt độ cao, trên 600°C; lượng nhiệt được giải phóng cũng rất lớn. Hiện nay, người ta thường sử dụng phương pháp phản ứng trên giá đỡ cố định với nhiều cấp, kết hợp với việc trao đổi nhiệt giữa các cấp này. Để kiểm soát nhiệt độ phản ứng, người ta sử dụng lượng khí lớn để truyền nhiệt; điều này khiến mức tiêu thụ năng lượng khá cao. Hiện nay, đất nước chúng tôi đang phát triển các thiết bị phản ứng không tuần hoàn. Trong quá trình phản ứng, dòng khí giàu H2 được đưa vào một lần; sau đó, dòng khí giàu carbon monoxide được bổ sung dần vào các giai đoạn phản ứng khác nhau, nhằm kiểm soát lượng chất tham gia phản ứng ở từng giai đoạn và kiểm soát nhiệt độ phản ứng. Đây cũng là một trong những hướng phát triển công nghệ của ngành. Ông Shi Fufu, Phó kỹ sư trưởng kiêm kỹ sư cấp cao hạng giáo sư của công ty China Chemical Saiding Engineering Co., Ltd., đề xuất rằng trong quá trình thiết kế và xây dựng các nhà máy chuyển đổi than thành khí tự nhiên hiện đại, cần chú ý đến bảy vấn đề chính sau: Thứ nhất là phải xây dựng hệ thống cung ứng nguyên liệu than đáng tin cậy, nhằm đảm bảo an toàn cho nguyên liệu sản xuất tại nhà máy ; Thứ hai là kiên trì sử dụng các công nghệ đã được chứng minh là ổn định và đáng tin cậy, nhằm đảm bảo hoạt động ổn định của nhà máy ; Thứ ba là kiên trì sử dụng nhiều dòng thiết bị khác nhau, nhằm giảm nguy cơ ngừng sản xuất ; Thứ tư là việc trang bị thiết bị cần được thực hiện tại chỗ, nhằm đảm bảo khả năng sửa chữa nhanh chóng ; Thứ năm là thực hiện việc lưu trữ khí đốt nhằm điều chỉnh sản lượng phù hợp với nhu cầu thị trường ; Thứ sáu là kiên trì “tiến bộ theo thời đại”, tuân thủ pháp luật để hướng tới sự tiên tiến ; Thứ bảy là kiên trì phát triển các nhà máy và cơ sở sản xuất theo quy mô lớn, nhằm thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn. Lý Đại Thượng cho biết, so với các sản phẩm hóa chất năng lượng được chế tạo từ than, khí tự nhiên từ than có những ưu điểm như quy trình sản xuất đơn giản, công nghệ đã được hoàn thiện và đáng tin cậy, mức tiêu thụ năng lượng thấp, chi phí đầu tư ít, và giá trị nhiệt trên mỗi đơn vị sản phẩm cũng thấp. Hơi nước quá nhiệt được tạo ra từ việc xử lý nhiệt thải của khí tự nhiên hóa học có thể được sử dụng trong các máy tuần hoàn tuabin và máy nén khí của thiết bị này, từ đó mang lại lợi ích kinh tế. Hơn nữa, khí tự nhiên từ than là loại nhiên liệu sạch dùng cho mục đích dân dụng và công nghiệp. Nó có thể được sản xuất cùng với các sản phẩm hóa chất từ khí tổng hợp khác, qua đó nâng cao khả năng thích ứng của các nhà máy với thị trường, đồng thời tăng hiệu quả tổng thể trong quá trình chế biến than. Ngoài ra, thị trường các sản phẩm khí tự nhiên từ than rất lớn. Ở những vùng núi hẻo lánh hoặc các khu vực có trữ lượng than dồi dào ở biên giới, người ta có thể chuyển đổi than ngay tại nơi khai thác, sau đó vận chuyển chúng bằng đường ống. Điều này giúp giảm chi phí vận chuyển và giảm áp lực lên hệ thống giao thông.