HCBBS Forum (Tiếng Việt)
Submit Chemical Projects / Find Solutions
Amplify Your Requirements on a Broader Chemical Platform *Engineering · Technology · Equipment · Solutions*
Submit Request

Chi phí chống nóng giảm nhiệt có thể được coi là chi phí an toàn không?

2016-08-25View Original

Thread Content

Bài viết này cuối cùng được firemale chỉnh sửa vào ngày 25/8/2016 lúc 16:46. Tuần trước, đơn vị thi công đã yêu cầu chúng tôi coi việc bảo vệ người lao động khỏi cái nóng là một chi phí an toàn cần được chi trả. Nhưng việc mua trà mát, đồ uống cho công nhân, hoặc chi trả tiền phụ cấp cho công việc trong môi trường nhiệt độ cao, có thể được coi là chi phí an toàn không? Có cơ sở không? Xin mọi người vui lòng cho biết
Reply #22016-08-25
Các thiết bị phun nước làm mát bồn chứa được tính vào chi phí an toàn; sẽ có cuộc kiểm tra bởi cơ quan giám sát an toàn, dựa trên các quy định về phòng cháy.
Reply #32016-08-25
Tôi đang nói về đồ uống và trà mát mà mọi người mua.
Reply #42016-08-25
Có lẽ không tính; So sánh với các quy định quản lý dưới đây: Theo tôi, điều này chỉ có thể được coi là chi phí phúc lợi mà thôi ; Thông báo về việc ban hành “Quy định quản lý việc thu và sử dụng kinh phí an toàn lao động trong doanh nghiệp” – Văn bản số Tài chính-Kinh doanh 16, Bộ Tài chính, Cục Giám sát An toàn. Ngày 14 tháng 2 năm 2012. Chương 3: Việc sử dụng kinh phí an toàn. Điều 17: Kinh phí an toàn dành cho các doanh nghiệp khai thác than cần được sử dụng trong các mục đích sau: (1) Chi phí để thực hiện các biện pháp phòng ngừa sự cố liên quan đến khí mê-tan và khí độc trong các mỏ than có hàm lượng khí cao; bao gồm chi phí cho việc rút khí mê-tan trước khi khai thác, các biện pháp phòng ngừa sự cố tại các khu vực khai thác, việc dự báo các khu vực có nguy cơ xảy ra sự cố, việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa tại các khu vực đó, việc nâng cấp thiết bị và công trình phòng ngừa sự cố, cũng như việc thành lập các phòng thí nghiệm để nghiên cứu và phòng ngừa sự cố ;   (II) Chi phí để cải tạo điều kiện an toàn trong khai thác than và xử lý các mối nguy hiểm nghiêm trọng, bao gồm việc cải tạo các hệ thống như thông gió, phòng chống khí mê-tan, phòng chống bụi than, phòng chống cháy nổ; các biện pháp phòng chống lũ lụt; hệ thống cung cấp điện, hệ thống vận chuyển… Ngoài ra còn có chi phí để cải tạo các thiết bị liên quan đến việc khai thác than bằng máy móc, cũng như chi phí để xử lý các vấn đề như áp lực từ lòng đất, tình trạng nóng quá mức, xử lý sườn đồi ở các mỏ khai thác ngoài trời, và xử lý các khu vực đã được khai thác xong ;   (III) Chi phí để hoàn thiện “sáu hệ thống an toàn” bao gồm hệ thống giám sát và kiểm soát trong mỏ than, hệ thống xác định vị trí người lao động, hệ thống sơ tán khẩn cấp, hệ thống tự cứu bằng khí nén, hệ thống cung cấp nước để cứu hộ, và hệ thống liên lạc. Ngoài ra còn có chi phí cho các thiết bị kỹ thuật và cơ sở vật chất dùng trong công tác cứu hộ khẩn cấp, chi phí bảo trì và duy tu các thiết bị này, cũng như chi phí để trang bị các thiết bị cần thiết cho việc sơ tán và ứng phó trong trường hợp khẩn cấp ;   (IV) Chi phí dành cho việc đánh giá, giám sát và khắc phục các nguồn nguy cơ nghiêm trọng cũng như các mối nguy tiềm ẩn gây ra tai nạn ;   (5) Chi phí cho việc kiểm tra, đánh giá an toàn trong quá trình sản xuất (không bao gồm chi phí đánh giá an toàn đối với các dự án xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng), chi phí tư vấn, và chi phí liên quan đến việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn hóa ;   (VI) Chi phí trang bị và cập nhật các thiết bị bảo hộ an toàn cho nhân viên làm việc tại hiện trường ;   (7) Chi phí cho công tác tuyên truyền, giáo dục và đào tạo về an toàn lao động ;   (8) Chi phí cho việc ứng dụng các công nghệ mới, tiêu chuẩn mới, quy trình sản xuất mới và thiết bị mới trong lĩnh vực an toàn lao động ;   (IX) Chi phí kiểm tra, đánh giá các thiết bị an toàn và thiết bị chuyên dụng ;   (10) Các khoản chi khác có liên quan trực tiếp đến an toàn lao động.   Điều 18: Chi phí an toàn của các doanh nghiệp khai thác mỏ không phải mỏ than cần được sử dụng trong các mục đích sau: (1) Hoàn thiện, cải tạo và bảo trì các thiết bị bảo vệ an toàn (không bao gồm các chi phí đầu tư ban đầu để xây dựng các thiết bị bảo vệ theo yêu cầu “ba đồng thời”). Các khoản chi này bao gồm chi phí liên quan đến việc kiểm soát bụi, chữa cháy, kiểm soát nước, giám sát khí độc, hệ thống thông gió, các thiết bị hỗ trợ và ngăn chặn sạt lở đất, thiết bị máy móc, hệ thống cung cấp điện, hệ thống vận chuyển, cũng như chi phí liên quan đến việc giám sát áp lực đất, xử lý sườn mỏ, xử lý các khu vực đã khai thác xong ;   (II) Đầu tư vào việc hoàn thiện “sáu hệ thống an toàn” cần thiết, bao gồm hệ thống giám sát và kiểm soát các mỏ khai thác không phải than, hệ thống xác định vị trí của nhân viên, hệ thống sơ tán khẩn cấp, hệ thống tự cứu bằng khí nén, hệ thống cung cấp nước để cứu hộ, và hệ thống liên lạc. Ngoài ra, cũng cần đầu tư vào việc hoàn thiện hệ thống giám sát toàn diện các khu chứa chất thải khoáng sản, cũng như hệ thống theo dõi di chuyển của nhân viên làm việc trong các khu vực khai thác dầu mỏ trên biển. Các khoản chi phí liên quan đến trang thiết bị kỹ thuật dùng cho công tác cứu hộ khẩn cấp, việc bảo trì các thiết bị này, cũng như việc trang bị các thiết bị dùng để thoát hiểm và sơ tán trong trường hợp khẩn cấp cũng cần được chú trọng ;   (III) Chi phí dành cho việc đánh giá, giám sát và khắc phục các nguồn nguy cơ nghiêm trọng cũng như các yếu tố gây ra tai nạn ;   (IV) Chi phí cho việc kiểm tra, đánh giá an toàn trong quá trình sản xuất (không bao gồm chi phí đánh giá an toàn đối với các dự án xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng), chi phí tư vấn, và chi phí liên quan đến việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn hóa ;   (V) Chi phí mua sắm và nâng cấp các thiết bị bảo hộ an toàn dành cho nhân viên làm việc tại hiện trường ;   (VI) Chi phí cho công tác tuyên truyền, giáo dục và đào tạo về an toàn lao động ;   (7) Chi phí cho việc ứng dụng các công nghệ mới, tiêu chuẩn mới, quy trình sản xuất mới và thiết bị mới trong lĩnh vực an toàn lao động ;   (8) Chi phí kiểm tra, đánh giá các thiết bị an toàn và thiết bị chuyên dụng ;   (IX) Chi phí đóng cửa hồ chứa quặng thải và chi phí bảo trì sau khi hồ chứa được đóng cửa ;   (X) Chi phí liên quan đến thực phẩm khẩn cấp, thiết bị dự phòng và thuốc men cần thiết cho các đơn vị thăm dò địa chất khi làm việc ngoài trời ;   (11) Các khoản chi phí khác có liên quan trực tiếp đến an toàn sản xuất.   Điều 19: Chi phí an toàn của các doanh nghiệp xây dựng công trình cần được sử dụng trong các mục đích sau: (1) Chi phí để hoàn thiện, cải tạo và bảo trì các thiết bị bảo hộ an toàn (không bao gồm chi phí đầu tư ban đầu cho các thiết bị bảo hộ theo yêu cầu “ba đồng thời”). Các chi phí này bao gồm chi phí cho hệ thống điện tạm thời tại công trường, các biện pháp bảo vệ tại các khu vực nguy hiểm, máy móc thiết bị, các biện pháp bảo vệ khi làm việc ở độ cao, các biện pháp bảo vệ khi thực hiện các công việc chồng chéo, các biện pháp chống cháy, nổ, bụi, độc tố, sét, bão, các thảm họa địa chất; cũng như chi phí cho việc giám sát khí độc trong các công trình ngầm, hệ thống thông gió, và các biện pháp bảo hộ an toàn tạm thời khác ;   (II) Chi phí cho việc trang bị, bảo trì và duy tu các thiết bị cứu hộ khẩn cấp, cùng với chi phí cho các cuộc diễn tập ứng phó khẩn cấp ;   (III) Chi phí dành cho việc đánh giá, giám sát và khắc phục các nguồn nguy cơ nghiêm trọng cũng như các yếu tố gây ra tai nạn ;   (IV) Chi phí cho việc kiểm tra và đánh giá an toàn trong quá trình sản xuất (không bao gồm chi phí đánh giá an toàn đối với các dự án xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng); chi phí tư vấn và xây dựng hệ thống tiêu chuẩn về an toàn.
(V) Chi phí để trang bị và thay thế các thiết bị bảo hộ an toàn cho người lao động tại hiện trường ;   (VI) Chi phí cho công tác tuyên truyền, giáo dục và đào tạo về an toàn lao động ;   (7) Chi phí cho việc ứng dụng các công nghệ mới, tiêu chuẩn mới, quy trình sản xuất mới và thiết bị mới trong lĩnh vực an toàn lao động ;   (8) Chi phí kiểm tra, đánh giá các thiết bị an toàn và thiết bị chuyên dụng ;   (IX) Các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến an toàn lao động.   Điều 20: Chi phí an toàn của các doanh nghiệp sản xuất và lưu trữ hàng hóa nguy hiểm cần được sử dụng trong các mục đích sau: (1) Chi phí để hoàn thiện, cải tạo và bảo trì các thiết bị bảo vệ an toàn (không bao gồm chi phí đầu tư ban đầu cho các thiết bị bảo vệ theo yêu cầu “ba điều kiện cùng lúc”). Các chi phí này bao gồm chi phí cho các hệ thống giám sát, theo dõi, thông gió, chống nắng, điều chỉnh nhiệt độ, chống cháy, chữa cháy, chống nổ, giảm áp lực, chống độc, khử trùng, trung hòa, chống ẩm, chống sét, chống tĩnh điện, chống ăn mòn, chống rò rỉ, cũng như chi phí xây dựng các bức tường bảo vệ hoặc khu vực cách ly để đảm bảo an toàn trong quá trình vận hành ;   (II) Chi phí cho việc trang bị, bảo trì và duy tu các thiết bị cứu hộ khẩn cấp, cùng với chi phí cho các cuộc diễn tập ứng phó khẩn cấp ;   (III) Chi phí dành cho việc đánh giá, giám sát và khắc phục các nguồn nguy cơ nghiêm trọng cũng như các yếu tố gây ra tai nạn ;   (IV) Chi phí cho việc kiểm tra, đánh giá an toàn trong quá trình sản xuất (không bao gồm chi phí đánh giá an toàn đối với các dự án xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng), cũng như chi phí liên quan đến dịch vụ tư vấn và xây dựng hệ thống tiêu chuẩn ;   (V) Chi phí mua sắm và nâng cấp các thiết bị bảo hộ an toàn dành cho nhân viên làm việc tại hiện trường ;   (VI) Chi phí cho công tác tuyên truyền, giáo dục và đào tạo về an toàn lao động ;   (7) Chi phí cho việc ứng dụng các công nghệ mới, tiêu chuẩn mới, quy trình sản xuất mới và thiết bị mới trong lĩnh vực an toàn lao động ;   (8) Chi phí kiểm tra, đánh giá các thiết bị an toàn và thiết bị chuyên dụng ;   (IX) Các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến an toàn lao động.   Điều 21: Chi phí an toàn của các doanh nghiệp vận tải cần được sử dụng trong các mục đích sau: (1) Chi phí để hoàn thiện, cải tạo và bảo trì các thiết bị bảo vệ an toàn (không bao gồm chi phí đầu tư ban đầu cho các thiết bị bảo vệ an toàn theo yêu cầu “ba điều kiện cùng lúc”). Các chi phí này bao gồm việc kiểm tra và bảo trì tình trạng an toàn của các thiết bị vận tải trên đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường ống, cũng như các thiết bị hỗ trợ việc bốc dỡ hàng hóa; đồng thời còn bao gồm chi phí cho các thiết bị an toàn đi kèm với các thiết bị vận tải và thiết bị hỗ trợ bốc dỡ hàng hóa ;   (II) Các chi phí liên quan đến việc mua sắm, lắp đặt và sử dụng các thiết bị định vị vệ tinh dành cho xe cộ có chức năng ghi lại lịch sử di chuyển, các hệ thống liên lạc, định vị và nhận diện tự động dành cho tàu thuyền, cùng các bản đồ điện tử ;   (III) Chi phí cho việc trang bị, bảo trì và duy tu các thiết bị cứu hộ khẩn cấp, cùng với chi phí cho các cuộc diễn tập ứng phó khẩn cấp ;   (IV) Chi phí dành cho việc đánh giá, giám sát và khắc phục các nguồn nguy cơ nghiêm trọng cũng như các mối nguy tiềm ẩn gây ra tai nạn ;   (V) Chi phí cho việc kiểm tra, đánh giá an toàn trong quá trình sản xuất (không bao gồm chi phí đánh giá an toàn đối với các dự án xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng), cũng như chi phí liên quan đến dịch vụ tư vấn và xây dựng hệ thống tiêu chuẩn ;   (VI) Chi phí trang bị và cập nhật các thiết bị bảo hộ an toàn cho nhân viên làm việc tại hiện trường ;   (7) Chi phí cho công tác tuyên truyền, giáo dục và đào tạo về an toàn lao động ;   (8) Chi phí cho việc ứng dụng các công nghệ mới, tiêu chuẩn mới, quy trình sản xuất mới và thiết bị mới trong lĩnh vực an toàn lao động ;   (IX) Chi phí kiểm tra, đánh giá các thiết bị an toàn và thiết bị chuyên dụng ;   (10) Các khoản chi khác có liên quan trực tiếp đến an toàn lao động.   Điều 22: Chi phí an toàn của các doanh nghiệp luyện kim cần được sử dụng trong các mục đích sau: (1) Chi phí để hoàn thiện, cải tạo và bảo trì các thiết bị bảo vệ an toàn (không bao gồm chi phí đầu tư vào các thiết bị bảo vệ an toàn theo yêu cầu “ba điều kiện cùng lúc”). Các chi phí này bao gồm chi phí cho các thiết bị giám sát, kiểm soát, chống cháy, chống nổ, chống ngã, chống bụi, chống độc, chống tiếng ồn và rung động, chống bức xạ, cũng như các thiết bị dùng để tách biệt các khu vực làm việc ;   (II) Chi phí cho việc trang bị, bảo trì và duy tu các thiết bị cứu hộ khẩn cấp, cùng với chi phí cho các cuộc diễn tập ứng phó khẩn cấp ;   (III) Chi phí dành cho việc đánh giá, giám sát và khắc phục các nguồn nguy cơ nghiêm trọng cũng như các yếu tố gây ra tai nạn ;   (IV) Chi phí cho việc kiểm tra, đánh giá an toàn trong quá trình sản xuất (không bao gồm việc đánh giá mức độ an toàn của các dự án xây dựng mới, cải tạo hay mở rộng), cũng như chi phí liên quan đến dịch vụ tư vấn và công tác xây dựng các tiêu chuẩn an toàn ;   (V) Chi phí cho công tác tuyên truyền, giáo dục và đào tạo về an toàn lao động ;   (VI) Chi phí trang bị và cập nhật các thiết bị bảo hộ an toàn cho nhân viên làm việc tại hiện trường ;   (7) Chi phí cho việc ứng dụng các công nghệ mới, tiêu chuẩn mới, quy trình sản xuất mới và thiết bị mới trong lĩnh vực an toàn lao động ;   (8) Chi phí kiểm tra, đánh giá các thiết bị an toàn và thiết bị chuyên dụng ;   (IX) Các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến an toàn lao động.   Điều 23: Chi phí an toàn của các doanh nghiệp chế tạo máy móc cần được sử dụng trong các mục đích sau: (1) Chi phí để hoàn thiện, cải tạo và bảo trì các thiết bị bảo vệ an toàn (không bao gồm chi phí đầu tư vào các thiết bị bảo vệ an toàn theo yêu cầu “ba điều kiện cùng lúc”). Các chi phí này bao gồm chi phí cho các thiết bị nhằm ngăn chặn cháy nổ, ngăn ngừa tai nạn do rơi tự do, bảo vệ khỏi chất độc, chống tĩnh điện, chống ăn mòn, chống bụi, giảm tiếng ồn và rung động, chống bức xạ, hoặc các thiết bị dùng để tách biệt khu vực sản xuất. Ngoài ra còn có chi phí để lắp đặt hệ thống giám sát an toàn cho các máy móc nâng hạ có kích thước lớn ;   (II) Chi phí cho việc trang bị, bảo trì và duy tu các thiết bị cứu hộ khẩn cấp, cùng với chi phí cho các cuộc diễn tập ứng phó khẩn cấp ;   (III) Chi phí dành cho việc đánh giá, giám sát và khắc phục các nguồn nguy cơ nghiêm trọng cũng như các yếu tố gây ra tai nạn ;   (IV) Chi phí cho việc kiểm tra, đánh giá an toàn trong quá trình sản xuất (không bao gồm chi phí đánh giá an toàn đối với các dự án xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng), cũng như chi phí liên quan đến dịch vụ tư vấn và xây dựng hệ thống tiêu chuẩn ;   (V) Chi phí cho công tác tuyên truyền, giáo dục và đào tạo về an toàn lao động ;   (VI) Chi phí trang bị và cập nhật các thiết bị bảo hộ an toàn cho nhân viên làm việc tại hiện trường ;   (7) Việc phổ biến và ứng dụng các công nghệ mới, tiêu chuẩn mới, quy trình sản xuất mới cũng như thiết bị mới trong lĩnh vực an toàn lao động ;   (8) Chi phí kiểm tra, đánh giá các thiết bị an toàn và thiết bị chuyên dụng ;   (IX) Các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến an toàn lao động.   Điều 24: Chi phí an toàn của các doanh nghiệp sản xuất pháo hoa, chất nổ cần được sử dụng trong các mục đích sau: (1) Chi phí để nâng cấp, cải tạo và bảo trì các thiết bị, công trình liên quan đến an toàn (không bao gồm chi phí đầu tư vào các thiết bị an toàn theo yêu cầu “ba yếu tố đồng thời”) ;   (II) Chi phí để trang bị, bảo trì và duy tu các thiết bị điện máy chống nổ ;   (III) Chi phí cho việc trang bị, bảo trì và duy tu các thiết bị cứu hộ khẩn cấp, cùng với chi phí cho các cuộc diễn tập ứng phó khẩn cấp ;   (IV) Chi phí dành cho việc đánh giá, giám sát và khắc phục các nguồn nguy cơ nghiêm trọng cũng như các mối nguy tiềm ẩn gây ra tai nạn ;   (V) Chi phí cho việc kiểm tra, đánh giá an toàn trong quá trình sản xuất (không bao gồm chi phí đánh giá an toàn đối với các dự án xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng), cũng như chi phí liên quan đến dịch vụ tư vấn và xây dựng hệ thống tiêu chuẩn ;   (VI) Chi phí cho công tác tuyên truyền, giáo dục và đào tạo về an toàn lao động ;   (7) Chi phí mua sắm và nâng cấp các thiết bị bảo hộ an toàn dành cho nhân viên làm việc tại hiện trường ;   (8) Chi phí cho việc ứng dụng các công nghệ mới, tiêu chuẩn mới, quy trình sản xuất mới và thiết bị mới trong lĩnh vực an toàn lao động ;   (IX) Chi phí kiểm tra, đánh giá các thiết bị an toàn và thiết bị chuyên dụng ;   (10) Các khoản chi khác có liên quan trực tiếp đến an toàn lao động.   Điều 25: Chi phí an toàn dành cho các doanh nghiệp nghiên cứu, sản xuất và thử nghiệm vũ khí, trang bị quân sự cần được sử dụng trong các mục đích sau: (1) Chi phí để hoàn thiện, cải tạo và bảo trì các thiết bị bảo vệ an toàn (không bao gồm chi phí đầu tư vào các thiết bị bảo vệ an toàn theo yêu cầu “ba yếu tố đồng thời”). Các chi phí này bao gồm chi phí cho việc lắp đặt các thiết bị giám sát, theo dõi, chống điện giật, chống ngã, chống nổ, xả áp lực, chống cháy, chữa cháy, thông gió, chống nắng, điều chỉnh nhiệt độ, chống độc, chống sét, chống tĩnh điện, chống ăn mòn, chống bụi, chống tiếng ồn và rung động, chống bức xạ, cũng như chi phí xây dựng các rào chắn bảo vệ hoặc khu vực cách ly để đảm bảo an toàn trong quá trình hoạt động ;   (II) Chi phí cho việc trang bị, bảo trì và duy tu các thiết bị, dụng cụ bảo hộ cá nhân dùng trong tình huống khẩn cấp, chi phí liên quan đến các biện pháp ứng phó khẩn cấp, cũng như chi phí tổ chức các cuộc diễn tập ứng phó khẩn cấp ;   (III) Chi phí dành cho việc đánh giá, giám sát và khắc phục các nguồn nguy cơ nghiêm trọng cũng như các yếu tố gây ra tai nạn ;   (IV) Chi phí liên quan đến việc đánh giá mức độ an toàn của các công nghệ cao và thiết bị chuyên dụng, kiểm tra chất lượng an toàn của chúng, cũng như chi phí đào tạo nhân viên vận hành các thiết bị này ;   (V) Chi phí cho việc kiểm tra, đánh giá an toàn trong quá trình sản xuất (không bao gồm chi phí đánh giá an toàn đối với các dự án xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng), cũng như chi phí liên quan đến dịch vụ tư vấn và xây dựng hệ thống tiêu chuẩn ;   (VI) Chi phí cho công tác tuyên truyền, giáo dục và đào tạo về an toàn lao động ;   (7) Chi phí cho các thiết bị nhằm ngăn chặn sự rò rỉ và bức xạ từ các cơ sở hạt nhân dùng trong lĩnh vực quân sự (bao gồm cả chất thải hạt nhân) ;   (8) Chi phí cải tạo các biện pháp kỹ thuật nhằm đảm bảo an toàn trong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất, lưu trữ, vận chuyển, tiêu hủy và bảo trì các chất nguy hiểm trong ngành công nghiệp quân sự, các chất phóng xạ và vũ khí trang bị; cùng với chi phí bảo vệ an toàn (không bao gồm chi phí mua đồ bảo hộ lao động) ;   (IX) Chi phí đào tạo cho các nhân viên làm việc trong các công việc đặc biệt liên quan đến việc chế tạo, lắp đặt và điều chỉnh các loại vũ khí, trang thiết bị phức tạp có kích thước lớn ;   (X) Các công việc đánh giá an toàn trong các cuộc thử nghiệm vũ khí và trang thiết bị quy mô lớn, cùng chi phí dành cho các biện pháp bảo vệ an toàn ;   (11) Việc giám sát các chất độc hại trong quá trình sản xuất các linh kiện điện tử dùng cho mục đích quân sự, cũng như chi phí liên quan đến việc bảo vệ con người khỏi những chất độc hại này ;   (12) Chi phí cho việc ứng dụng các công nghệ mới, tiêu chuẩn mới, quy trình mới và thiết bị mới trong lĩnh vực an toàn lao động ;   (Thirteen) Các khoản chi phí khác có liên quan trực tiếp đến việc sản xuất an toàn vũ khí và trang thiết bị quân sự.   Điều 26: Trong phạm vi sử dụng được quy định tại các quy định này, doanh nghiệp cần ưu tiên sử dụng các khoản chi phí liên quan đến an toàn lao động để thực hiện các biện pháp khắc phục do cơ quan quản lý an toàn lao động, cơ quan giám sát an toàn trong ngành khai thác than và các cơ quan chức năng liên quan yêu cầu; đồng thời, những khoản chi phí này cũng được dùng để đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn lao động.   Điều 27: Khoản chi phí dành cho mục đích an toàn mà doanh nghiệp rút ra cần được ghi nhận trong tài khoản riêng biệt. Những khoản tiền này phải được sử dụng trong phạm vi quy định; không được chiếm dụng hay sử dụng sai mục đích. Số dư cuối năm sẽ được chuyển sang năm sau để sử dụng. Nếu số tiền dành cho các chi phí an toàn trong năm đó chưa đủ, phần thiếu hụt sẽ được tính vào các chi phí thông thường khác.   Các tập đoàn có trách nhiệm quản lý an toàn, sau khi thực hiện các thủ tục ra quyết định nội bộ, có thể tập trung quản lý khoản chi phí dành cho mục đích an toàn mà các doanh nghiệp thuộc sở hữu của họ phải chi trả, và sử dụng những khoản tiền này một cách có kế hoạch.   Điều 28: Các doanh nghiệp sản xuất than và các doanh nghiệp khai thác khoáng sản không phải là than, những doanh nghiệp đã dành một khoản tiền để chi trả cho việc duy trì hoạt động sản xuất cơ bản, thì vẫn phải tiếp tục dành khoản tiền đó cho mục đích này. Tuy nhiên, khoản tiền này sẽ không được sử dụng cho các mục đích liên quan đến an toàn lao động nữa.   Điều 29: Khi các doanh nghiệp khai thác mỏ chuyển sang lĩnh vực kinh doanh khác, ngừng hoạt động hoặc giải thể, họ phải chuyển số tiền dự trữ dành cho an toàn sang Quỹ bảo đảm an toàn khi mỏ ngừng hoạt động. Số tiền này sẽ được sử dụng để xử lý các mối nguy hiểm có thể xảy ra sau khi mỏ ngừng hoạt động, cũng như để bồi thường các thiệt hại phát sinh.   Khi các doanh nghiệp sản xuất và lưu trữ hàng hóa nguy hiểm chuyển sang sản xuất loại hàng hóa khác, ngừng sản xuất, ngừng hoạt động hoặc giải thể, thì số tiền dự phòng dành cho an toàn cần được sử dụng để xử lý các thiết bị dùng trong việc sản xuất và lưu trữ hàng hóa nguy hiểm, các sản phẩm tồn kho cũng như nguyên vật liệu sản xuất trước khi doanh nghiệp chuyển đổi hoạt động, ngừng sản xuất, ngừng hoạt động hoặc giải thể.   Khi doanh nghiệp thay đổi cơ cấu vốn hoặc hình thức tổ chức do việc chuyển nhượng quyền sở hữu, tái cơ cấu theo mô hình công ty, thì các khoản chi phí dành cho mục đích bảo mật vẫn phải được quản lý và sử dụng theo các quy định trong phương thức này.   Khi doanh nghiệp điều chỉnh hoạt động kinh doanh, ngừng hoạt động hoặc tiến hành thanh lý theo quy định của pháp luật, số tiền dự phòng an toàn còn lại cần được chuyển vào lợi nhuận của kỳ hiện tại hoặc lợi nhuận từ việc thanh lý.   Điều 30: Đối với các doanh nghiệp nằm ngoài phạm vi quy định tại Điều 2 của quy chế này, chi phí cần thiết để đáp ứng các điều kiện an toàn lao động sẽ được chi trả thông qua các nguồn tài chính ban đầu.
Reply #52016-08-25
Không thể sử dụng được. Đồ uống mát lạnh thuộc phạm vi bảo hộ lao động, do cơ quan an ninh quản lý. Tuy nhiên, có chi phí chuyển khoản cần được ghi nhận trong ngân sách; nếu không thì sẽ rất khó xử lý.
Reply #62016-08-25
Tại đơn vị chúng tôi, từ tháng 5 đến tháng 10, mỗi người nhận được khoảng 70 nhân dân tệ mỗi tháng; mức lương được chia thành ba cấp độ khác nhau. Ngoài ra, nếu nhiệt độ vượt quá 35 độ C, nhân viên sẽ nhận thêm 12 nhân dân tệ tiền trợ cấp. Đầu năm, lập ngân sách dựa trên các chi phí nêu trên. Chỉ như vậy mới đảm bảo được việc chi trả tiền.
Reply #72016-08-25
Chúng tôi trả tiền trợ cấp nhiệt độ một lần, khoảng hơn 4000 thôi
Reply #82016-08-25
Không thể coi đó là chi phí an toàn lao động; đây chỉ có thể là chi phí phúc lợi, chi phí công đoàn mà thôi
Reply #92018-08-02
Nếu là nhân viên của đơn vị mình, chi phí chống nóng giảm nhiệt nên được tính vào; Nếu là chi phí của đơn vị nhận thầu thi công thì không cần nói. Đây là quan điểm cá nhân, mong được trao đổi.

Submit a Project

**Looking for Chemical Technology, Equipment & Solutions?** No Registration Required Broader Platform Exposure | Global Chemical Service Provider Connections

Submit Request — Free Consultation

Disclaimer

This is an automated machine translation of the original thread. Some technical terms may have inaccuracies; the original text shall prevail. Click "View Original" at the top right to access the source page, which supports IP-based automatic real-time language translation. Please watch out for contact details and sales inducements to prevent fraud. All content and translations are for reference only, representing solely the poster's personal views. For enquiries, email service@hcbbs.com.