Thread Content
Công ty chúng tôi là đơn vị thiết kế các thiết bị chứa áp lực. Hiện tôi đang chuẩn bị hồ sơ để xin cấp lại giấy phép cho công ty. Tôi có một câu hỏi muốn nhờ các chuyên gia giải đáp: Theo điều 36, khoản 11 của Quy định về việc cấp phép thiết kế các thiết bị chứa áp lực và đường ống dẫn áp lực TSG R1001-2008, cần kiểm tra tình hình bổ nhiệm và thay đổi nhân sự phụ trách công tác thiết kế ở các cấp độ khác nhau. Xin hỏi, mức độ thay đổi nào mới được coi là tuân thủ quy định? Xin các bậc cao thủ cho biết đáp án và nguồn tài liệu, cảm ơn. (Ghi chú: Điều 64, khoản 3 của quy định cấp phép phiên bản cũ: Số lượng nhân viên thiết kế ở các cấp độ khác nhau không được vượt quá 20% mỗi năm.) Nhưng tiêu chuẩn mới không đề cập đến điều đó. )
Vẫn nên dùng mức 20% theo phiên bản cũ thì an toàn hơn.
Vấn đề này chắc hẳn không quá nghiêm trọng, việc thỏa thuận tốt với nhóm kiểm tra sẽ không gặp vấn đề gì. Hiện tại, những người kiểm tra khi công ty làm thủ tục cấp lại giấy phép đã được thay thế. Khi kiểm tra để cấp lại giấy phép, nhóm kiểm tra chỉ hỏi vài câu rồi không hỏi gì thêm nữa.
Hiện tại, về cơ bản dù có sự thay đổi nhân sự hay không, miễn là đủ số lượng người tham gia, chỉ cần vượt qua kỳ đánh giá là được.
Có cơ sở không? Tốt nhất là nên cẩn trọng, giữ ở mức dưới 20%
Bài viết này cuối cùng được chỉnh sửa bởi qyx2009 vào ngày 31-8-2016 lúc 16:37. Giải đáp các câu hỏi thường gặp liên quan đến “Quy định về việc cấp phép thiết kế các thiết bị chứa áp lực và đường ống chứa áp lực”. Quy định này (TSG R1001-2008, sau đây gọi tắt là “Quy định”) đã được áp dụng kể từ ngày 30-4-2008. Trong quá trình thực hiện, một số vấn đề đã xuất hiện; dưới đây là những giải thích chi tiết: I. Các vấn đề liên quan đến nhân viên thiết kế và các cơ quan kỹ thuật có liên quan. (I) Nhân viên thiết kế. Trong “Quy tắc”, từ “nhà thiết kế” được đề cập nhiều lần, và ý nghĩa của nó ở mỗi nơi là khác nhau. Điều 9, khoản (ii): “...Hơn 50% số nhân viên làm việc tại đơn vị thiết kế các thiết bị chứa áp lực” là những người đảm nhiệm công việc thiết kế và kiểm tra. Điều 12, khoản (1): “Tổng số nhân viên chuyên trách thiết kế tại các đơn vị thiết kế bình chứa áp lực hạng A và hạng C”, và khoản (2): “Tổng số nhân viên chuyên trách thiết kế tại các đơn vị thiết kế bình chứa áp lực hạng D” – đều chỉ tổng số nhân viên thiết kế ở mọi cấp bậc trong các đơn vị thiết kế bình chứa áp lực đó. Điểm (iii) “Nhân viên thiết kế chuyên trách tại các đơn vị thiết kế bình chứa áp lực loại SAD” có nghĩa là tổng số nhân viên thiết kế ở mọi cấp bậc tại các đơn vị thiết kế bình chứa áp lực loại SAD. Trong đó, “nhân viên phân tích và thiết kế chuyên trách” là những người làm việc trong vị trí thiết kế. Điều 20: “Mỗi người làm việc trong lĩnh vực thiết kế các thiết bị chứa áp lực” được hiểu là những người đảm nhiệm công việc thiết kế. 4. Tại khoản (6) của Điều 24, cụm từ “những người làm công tác thiết kế” đều chỉ những người đảm nhiệm vị trí thiết kế. 5. Khoản 11 của Điều 36 và khoản 3 của Điều 38: “Các nhân viên thiết kế ở mọi cấp độ” có nghĩa là tất cả các nhân viên chuyên trách công việc thiết kế. 6. Điều 39, khoản 3 quy định rằng “Số lượng nhân viên thiết kế ở các cấp bậc khác nhau và những thay đổi về số lượng nhân viên phải tuân theo các quy định đã đặt ra”. Tỷ lệ số nhân viên bị giảm hoặc thay thế trong tổng số nhân viên thiết kế mỗi năm không được vượt quá 20%. Trong đó, số lượng nhân viên bị thay thế bao gồm cả những người được thay thế và những người bị giảm số lượng. (II) Các cơ quan kỹ thuật liên quan. Điều 9, khoản (2) “Tổ chức kỹ thuật liên quan đến các thiết bị chứa áp lực”: Đối với các đơn vị thiết kế thiết bị chứa áp lực thuộc loại A, C hoặc SAD, đó chính là Ủy ban Kỹ thuật Tiêu chuẩn hóa Thiết bị Nồi hơi và Thiết bị Chứa áp lực toàn quốc, hoặc các tổ chức kỹ thuật liên quan đến thiết bị chứa áp lực khác được Tổng cục Kiểm tra Chất lượng ủy quyền ; Đối với các đơn vị thiết kế bình chứa dưới mức áp suất loại D, đó là các ủy ban kỹ thuật tiêu chuẩn hóa về lò hơi và bình chứa trên toàn quốc, hoặc các cơ quan kỹ thuật chuyên về bình chứa được giao nhiệm vụ bởi Tổng cục hoặc các cơ quan giám sát an toàn thiết bị đặc biệt ở các tỉnh. “……“Không còn tiến hành đánh giá nhân viên trong quá trình kiểm tra chứng chỉ nữa” có nghĩa là trong quá trình kiểm tra để gia hạn chứng chỉ, tất cả những người làm công việc thiết kế và kiểm tra sẽ không còn phải trải qua các bài kiểm tra bằng văn bản nữa. Điểm (iii): “…Tham gia ít nhất 2 lần (bao gồm cả 2 lần) các khóa đào tạo chuyên môn do các tổ chức liên quan tổ chức”. Tổng số giờ học trong 2 khóa đào tạo chuyên môn này phải ít nhất là 40 giờ. Việc đào tạo chuyên môn được thực hiện bởi các cơ quan có chức năng kiểm tra, đánh giá thiết kế của các sản phẩm. Đối với các đơn vị thiết kế bình chứa áp lực thuộc hạng A, C hoặc SAD, thì cơ quan này chính là Ủy ban Kỹ thuật Tiêu chuẩn hóa Bình đun nước và Bình chứa áp lực toàn quốc ; Đối với các đơn vị thiết kế bình chứa áp lực hạng D, đó là các cơ quan kỹ thuật chuyên về bình chứa áp lực, được ủy quyền bởi Ủy ban Kỹ thuật Tiêu chuẩn hóa Bình đun nước và Bình chứa áp lực toàn quốc, hoặc các cơ quan giám sát an toàn thiết bị đặc biệt ở các tỉnh. II. Các vấn đề khác cần được làm rõ (I) Theo khoản 1, Điều 11, “bản chất của chi nhánh” chỉ áp dụng cho các chi nhánh thuộc các doanh nghiệp quốc doanh lớn như Trung Quốc Dầu khí, Trung Quốc Hóa dầu, v.v. Còn các đơn vị thiết kế thiết bị chứa áp lực khác thì đều phải có giấy phép kinh doanh của pháp nhân doanh nghiệp hoặc giấy chứng nhận pháp nhân của tổ chức. (II) Mục A2(2) trong Phụ lục A: “Cấp độ C2, ám chỉ các loại xe bồn chở hàng và xe kéo có ống dài” nên được sửa thành “Cấp độ C2, ám chỉ các loại xe bồn chở hàng hoặc xe kéo có ống dài”. (III) Mối quan hệ giữa C1, C2, C3 và C4 trong Phụ lục C được trình bày trong Bảng 1. Ngày 13 tháng 8 năm 2008