Thread Content
I. Thiết bị bảo hộ 1. Mũ bảo hộ không bị hư hỏng, không có dấu hiệu lão hóa, và không được sửa chữa hay thay đổi bởi con người. 2. Đội mũ bảo hộ đúng cách: Đội mũ sao cho vừa vặn, buộc chặt dây đai mũ. 3. Đeo kính bảo hộ đạt tiêu chuẩn. 4. Đeo mặt nạ bảo hộ mặt đúng cách. Như các công việc như mài, cắt, nghiền v.v. 5. Dưới mặt nạ hàn cũng cần phải đeo kính bảo hộ. Trợ lý hàn cũng cần phải đeo kính râm. 6. Hãy chọn và đeo những chiếc găng tay bảo hộ phù hợp với từng loại công việc. Mỗi nhóm lao động cần đảm bảo rằng các nhân viên của mình đều có găng tay bảo hộ. 7. Tất cả mọi người có mặt tại hiện trường phải mặc áo phản quang. 8. Không nên cuộn tay áo của đồ bảo hộ lao động lên, cũng không nên để quần áo bung ra, nhằm tránh việc da bị tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài gây hại. 9. Tài xế và những người ngồi cùng xe cần phải sử dụng dây an toàn. Khi xuống xe, họ phải đeo đầy đủ thiết bị bảo hộ và đóng cửa xe lại. II. Công việc ở độ cao 1. Dây an toàn không đạt tiêu chuẩn, bị hư hỏng, hoặc không có tem kiểm định. Nếu trong nhóm có dây an toàn không đạt chuẩn hoặc không có tem ghi thông tin, chúng phải được thay thế ngay lập tức. 2. Khi làm việc trên giàn giáo ở độ cao trên 1,8m mà không sử dụng dây an toàn đúng cách; dây an toàn cần được buộc ở vị trí cao. 3. Khi xếp chất liệu, khi nâng đỡ chất liệu, nếu chiều cao vượt quá 1,8m thì không sử dụng biện pháp bảo vệ chống rơi. 4. Không có khu vực cảnh báo được thiết lập phía dưới nơi thực hiện công việc ở độ cao lớn; hoặc phạm vi an toàn của khu vực cảnh báo chưa đủ (chỉ bằng 2 lần chiều cao cần thiết); ngoài ra, khu vực cảnh báo còn không được bao quanh kín, tạo ra những khe hở. 5. Khi làm việc ở độ cao, dây an toàn không được treo ở vị trí phù hợp; khoảng cách an toàn cần thiết để giảm tác động khi rơi cũng không được xem xét. 6. Điểm treo dây an toàn không đáng tin cậy và thiếu vững chắc; ví dụ như việc treo dây ở phía dưới cấu trúc bằng thép, hoặc ở mép các ống dùng để xây dựng giàn giáo. 7. Các dụng cụ và thiết bị ở vị trí cao không có biện pháp bảo vệ chống rơi, như việc sử dụng túi đựng dụng cụ hoặc buộc chúng lại. 8. Các công việc được thực hiện song song với nhau, khiến những người ở phía dưới không được bảo vệ. 9. Khi di chuyển ở độ cao, nếu không có biện pháp bảo vệ hoàn toàn khỏi nguy cơ rơi tự do, thì cần sử dụng hai chiếc móc để hỗ trợ lẫn nhau. 10. Các vật liệu dùng để làm việc ở độ cao không được dọn dẹp kịp thời; cũng không có biện pháp bảo vệ chống ngã. Người ta thường sử dụng thùng hoặc túi để chứa các vật liệu rời rạc này. 11. Trước khi bắt đầu công việc, người ta chưa xem xét kỹ về các lối đi an toàn để ra vào khu vực làm việc ở độ cao. 12. Các lối ra vào, cửa phòng cháy chữa cháy và cửa tủ điện đều không được chặn lại. Đồng thời, không được để dây điện, bình khí hoặc các vật thể khác ở các lối ra vào này. III. Các công việc liên quan đến việc sử dụng lửa 1. Trước khi bắt đầu công việc hàn, người thực hiện không kiểm tra kỹ thiết bị hàn; các đầu nối dây dẫn điện bị kém chất lượng, dẫn đến tình trạng nóng quá mức và gây cháy. 2. Trước khi tiến hành công việc sử dụng lửa, không có việc kiểm tra và dọn dẹp khu vực xung quanh để loại bỏ các chất dễ cháy. 3. Công việc thực hiện trong môi trường có nguy cơ cháy nổ không được trang bị bình chữa cháy phù hợp; ngoài ra, vị trí đặt bình chữa cháy cũng không phù hợp. 4. Phải có người giám sát công việc khi thực hiện các thao tác liên quan đến lửa, để có thể xử lý kịp thời mọi nguy cơ phát sinh trong quá trình làm việc. 5. Bình khí chưa được cố định; vị trí cố định không chính xác. Nó nên được cố định ở vị trí cách phía trên bình khí khoảng 2/3 chiều cao của bình. 6. Các bình khí không phù hợp thì không có nắp bảo vệ bằng thép. Các bình khí được đặt trong giá đựng bình không được cố định. 7. Khu vực lưu trữ bình khí không có biển báo an toàn hay dấu cảnh báo; khoảng cách giữa các bình chứa acetylene và oxy cũng chưa đủ. 8. Khi thực hiện công việc hàn bằng khí, khoảng cách giữa bình khí acetylene và bình khí oxy phải nhỏ hơn 5m; đồng thời, khoảng cách từ các bình khí này đến điểm thi công cũng phải nhỏ hơn 10m. 9. Ống dẫn khí từ bình chứa bị lão hóa nghiêm trọng; bình oxy không được trang bị thiết bị ngăn chặn hiện tượng cháy ngược, đồng thời cũng không sử dụng các kẹp dành riêng để cố định ống dẫn khí. 10. Khi làm việc ở độ cao, không sử dụng khay chứa lửa, hoặc không thiết lập khu vực cấm ở phía dưới. 11. Khi có các vật liệu dễ cháy xuất hiện trong môi trường xung quanh, không được sử dụng các dụng cụ điện hay thực hiện các công việc liên quan đến lửa. 12. Hút thuốc gần nơi lưu trữ các chất dễ cháy, mà không có các biển cảnh báo hay biển cấm hút thuốc cần thiết. IV. Giàn giáo 1. Giàn giáo không có nhãn, mặt sau của nhãn cũng không ghi ngày kiểm tra. 2. Bệ nhảy chưa được lát đầy, không thể đáp ứng nhu cầu thi công; việc thiếu bệ nhảy gây ra các lỗ hổng. 3. Dây dùng để buộc các tấm ván nhảy quá mảnh; cách buộc cũng không đúng. Mỗi tấm ván cần được buộc riêng biệt. 4. Vị trí đặt cầu thang đi lên xuống không chính xác, gây va chạm với các vật thể được gia công. 5. Thang leo chỉ được lắp đặt tại khu vực sàn, và phần thang phải nhô ra khỏi sàn ít nhất hai bậc. 6. Không lắp đặt ốp chân tường một cách đúng cách; ốp chân tường chưa được lắp đặt ở cả bốn mặt của sàn. 7. Đầu bệ nhảy bị nứt mà không được buộc cố định bằng dây sắt. 8. Mặt đất nơi dựng giá đỡ di động không bằng phẳng. 9. Thang gỗ được phát hiện đang được sử dụng tại hiện trường. V. Nâng hạ 1. Vật cần nâng được treo lơ lửng trên không, người vận hành xe nâng rời khỏi xe nâng. 2. Cấm người vận hành cần cẩu rời khỏi buồng lái mà không mang theo thiết bị bảo hộ cá nhân. 3. Không có biển cảnh báo xung quanh bán kính thực hiện công việc, cũng không có các biển báo an toàn được thiết lập. Các công nhân di chuyển trong khu vực thực hiện công việc nâng hạ. 4. Người chỉ huy việc nâng hàng không có cờ, không có kèn báo hiệu, cũng không sử dụng ngôn ngữ cử chỉ. 5. Không sử dụng dây dẫn khi nâng vật nặng, hoặc dây dẫn được sử dụng quá ngắn. 6. Sử dụng dây đai nâng không đúng cách: Khi nâng các vật thể có góc cạnh, người ta không sử dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết. Dây đeo không sử dụng khóa để kết nối. 7. Nhân viên di chuyển dưới vật được nâng lên, rồi tiến hành gia công vật đó ngay dưới đó. VI. Điện tử 1. Các dụng cụ điện không được kiểm tra định kỳ và cũng không có nhãn ghi thông tin về kết quả kiểm tra thiết bị. 2. Không được để người không chuyên về điện tự ý nối dây, sửa chữa các dụng cụ điện. 3. Không tiến hành kiểm tra định kỳ để phát hiện và thay thế kịp thời các thiết bị công tắc đã hỏng. 4. Dây nguồn của dụng cụ điện bị hư hỏng nhưng chưa được bọc cách điện kịp thời. 5. Giá đỡ của hộp công tắc không được lắp đặt vững chắc; khi sử dụng tại hiện trường, hộp công tắc dễ bị đổ xuống đất. Trong quá trình sử dụng, cửa hộp công tắc thường không được đóng lại; bảng ghi chép kết quả kiểm tra hàng ngày cũng không được lập ra, và các biển báo thông tin cũng như các dấu hiệu cảnh báo cũng chưa được gắn lên. 6. Các dây cáp được lắp đặt một cách lộn xộn; không sử dụng các kẹp cách điện hay giá đỡ hình tam giác để cố định dây cáp. Những đoạn dây chạy qua đường hoặc các lối đi không được bảo vệ, hoặc chiều cao lắp đặt của chúng quá thấp (dưới 4,5m), hoặc không có băng cảnh báo an toàn rõ ràng được lắp đặt. 7. Các ổ cắm điện bị hỏng nhưng không được thay thế kịp thời; các công tắc trong hộp công tắc hoặc các ổ cắm không được gắn chắc chắn. 8. Vỏ bảo vệ thiết bị chiếu sáng bị nứt, lớp kính bảo vệ bị mất. 9. Vị trí lắp đặt hộp phân phối điện không phù hợp, thiếu không gian thao tác thuận lợi. VII. Công việc đào đất 1. Khoảng cách an toàn giữa máy xúc và các vật thể xung quanh (1,5–2m). 2. Không bố trí người cầm cờ theo yêu cầu. 3. Không thiết lập rào chắn ngay tại các mép hố đào xong. 4. Nhân viên khi vào khu vực hố đào để làm việc không có lối đi an toàn phù hợp, và khu vực hố đào cũng không có biện pháp ngăn chặn sự sụp đổ. 5. Khi nhân viên làm việc phía trước máy nâng, máy nâng vẫn chưa tắt máy phát điện. VIII. Thi công một cách văn minh 1. Không dọn dẹp khu vực làm việc ngay sau khi hoàn thành công việc. 2. Vật liệu tại công trường được xếp đặt một cách lộn xộn, chúng không được phân loại và sắp xếp gọn gàng. 3. Lối đi tại hiện trường bị vật liệu xây dựng chiếm chỗ. 4. Các đường dây/kèn khí tại hiện trường không được treo ở độ cao 2m, cũng chưa có biện pháp nào nhằm ngăn người đi bộ vấp ngã. 5. Tại hiện trường không có thùng rác, hoặc rác trong thùng rác chưa được dọn dẹp kịp thời. 6. Các ống thép và tấm gỗ dùng để xây dựng giàn giáo chưa được chất đặt đúng nơi quy định. 7. Các vị trí có nguy cơ bị rò rỉ nước hoặc các chất lỏng khác không được trang bị đĩa chứa nước hoặc thiết bị ngăn chặn sự rò rỉ; các chất lỏng bị rò rỉ tại hiện trường cũng không được xử lý kịp thời. 8. Các bình khí được vứt bừa bãi tại chỗ, không được lưu trữ tại nơi quy định theo đúng quy định. Chín, Công cụ và thiết bị 1. Các công cụ điện không được kiểm tra định kỳ và cũng không có những nhãn màu dùng để nhận diện chúng. 2. Dây nguồn của dụng cụ điện bị hư hỏng nhưng chưa được bọc cách điện kịp thời. 3. Sử dụng công cụ tự chế để thực hiện công việc. 4. Khi sử dụng máy hàn điện, không thực hiện việc nối đất, các đầu nối dây bị lộ ra ngoài. 5. Thiếu các bộ phận bảo vệ dây đai máy nén, đĩa quay, máy mài và đĩa mài, cũng như các bộ phận quay khác. 6. Các dụng cụ làm việc ở độ cao không được để trong túi đựng dụng cụ mà được bỏ lung tung, khiến chúng dễ rơi xuống và gây thương tích cho người khác. 7. Chân thang hình chữ A không được trang bị các biện pháp chống trơn trượt; hoặc người ta sử dụng các tầng ở phía trên cùng và 2 tầng dưới cùng của thang hình chữ A để thực hiện công việc. Khi làm việc, không có ai giữ thang ; Làm việc với lưng quay về phía thang. 8. Khi người ta đứng trên giàn giáo, họ cần di chuyển giàn giáo đó. X. Cách sử dụng vật liệu và các quy tắc xây dựng văn minh 1. Các bình khí cần được lưu trữ trong các giá đựng bình khí, được ghi rõ tên loại bình trên đó; đồng thời, thông tin về MSDS cũng cần được ghi rõ trên giá đựng bình khí đó ; Trên các bình chứa oxy và khí acetylene phải có biển cảnh báo “Cấm hút thuốc”, đồng thời phải trang bị bình chữa cháy. 2. Cần phải phân biệt rõ giữa các chai rỗng và chai đầy. Hãy gắn nhãn để chỉ ra đó là chai rỗng hay chai đầy. Ngoài ra, cần dùng 2 sợi xích sắt hoặc dây màu nâu để buộc chúng lại với nhau, nhằm ngăn không cho chúng lẫn lộn với nhau. 3. Sử dụng bình khí mà không lắp van giảm áp. 4. Khi vận chuyển bình khí, cần sử dụng xe đẩy. Nếu điều kiện đường xá không cho phép sử dụng xe đẩy, thì phải có hai người cùng nhau mang bình khí; không được để một người tự mình mang nó. 5. Bình khí phải được đặt thẳng đứng, và cần dùng xích sắt hoặc dây mây để buộc chặt bình khí vào điểm cố định. Nên buộc ở phần giữa trên của bình khí, tuyệt đối không được buộc vào phần miệng bình. 6. Các bình oxy và bình khí acetylene nên được đặt cách nhau khoảng 6m, và cách nguồn lửa ít nhất 10m. 7. Sơn phải được lưu trữ trong kho chứa hóa chất được chỉ định; tại cửa kho cần có biển ghi tên sản phẩm, biển cảnh báo chống cháy, cùng tài liệu MSDS. Ngoài ra, cần trang bị bình chữa cháy trong kho. 8. Sơn được sử dụng tại chỗ mỗi ngày phải được lưu trữ ở nơi xa khu vực có nguy cơ cháy nổ. Cần có dây cảnh báo để ngăn chặn việc tiếp cận, đồng thời phải có biển ghi tên sản phẩm, biển cảnh báo chống cháy, và tài liệu MSDS. Ngoài ra, cần trang bị bình chữa cháy. Vào cuối giờ làm việc, sơn này phải được mang về kho chứa hóa chất được chỉ định. 9. Các thùng sơn và các bình chứa hóa chất khác tại hiện trường phải được đậy nắp ngay lập tức. Chúng cần được mang về kho chứa hóa chất mỗi ngày. Việc vứt bỏ các thùng rỗng hoặc bình rỗng chứa hóa chất tại hiện trường là điều bị cấm. 10. Khi sử dụng thùng sơn cho mục đích khác, chẳng hạn như để chứa các phụ kiện, ốc vít, nước, hoặc dùng để đựng rác thải, cần phải làm sạch lượng sơn còn lại trong thùng. Đồng thời, cần xóa bỏ hoặc che đi các dấu hiệu báo hiệu nguy cơ cháy nổ. Ngoài ra, cần gắn những biển báo như “Thùng dụng cụ” hoặc “Thùng rác”. 11. Các khuôn mẫu và thanh gỗ được vận chuyển đến hiện trường để sử dụng không được chứa đinh; những chiếc đinh này phải được loại bỏ hết. 12. Các khuôn mẫu và thanh gỗ khi được đặt tại hiện trường phải được xếp thành từng khối có hình dạng đều đặn. 13. Các tấm khuôn và thanh gỗ đã được tháo dỡ phải được xử lý từng mảnh một; những chiếc đinh trên chúng cũng cần được loại bỏ hết, sau đó chúng mới được xếp gọn gàng lại ; và vận chuyển khỏi hiện trường kịp thời. 14. Hóa chất phải được lưu trữ trong kho chứa hóa chất được chỉ định; tại cửa kho cần có biển ghi tên loại hóa chất và tài liệu MSDS. 15. Các hóa chất được sử dụng hàng ngày tại hiện trường phải được đặt trong khu vực được phân loại riêng, có dây cảnh báo bao quanh. Đồng thời, cần ghi rõ tên của các hóa chất đó và thông tin MSDS trên bao bì chứa chúng. Vào cuối giờ làm việc, các hóa chất này phải được mang về kho lưu trữ đã được chỉ định. 16. Các thùng chứa hóa chất phải được đậy nắp kỹ lưỡng; ngay cả những thùng trống cũng vậy. 17. Việc vận chuyển và lưu trữ hóa chất cần tuân theo các yêu cầu trong MSDS; cấm để axit và kiềm cùng nhau ; Khi vận chuyển bằng xe, cần đặt các hóa chất một cách ổn định, không được xếp chồng lên nhau, đồng thời kiểm tra xem miệng thùng chứa có được đậy kín hay không. 18. Hóa chất cần được lưu trữ trong các thùng chứa có khả năng bảo vệ, nhằm ngăn ngừa tình trạng rò rỉ. Không được để thùng chứa hóa chất trực tiếp trên mặt đất. 19. Các nhóm công nhân phải sắp xếp vật liệu một cách gọn gàng, đồng thời dọn dẹp rác thải ngay lập tức. Mười một. Các không gian bị hạn chế tiếp cận 1. Tất cả các không gian bị hạn chế tiếp cận đều phải có biển báo “Không gian bị hạn chế tiếp cận – Cấm vào nếu không có sự cho phép”. Lối vào của các không gian này cũng phải được đóng kín bằng nắp hoặc dây buộc. 2. Giấy phép làm việc, biên bản kiểm tra khí và bảng ghi chép thông tin người ra vào phải được treo tại lối vào khu vực có điều kiện làm việc đặc biệt. 3. Các không gian hạn chế cần được trang bị hệ thống thông gió, các chỉ số khí phải nằm trong mức cho phép, và cần có thiết bị chiếu sáng 12V. 4. Những người vào khu vực này và những người giám sát họ phải đã được đào tạo về cách làm việc trong các không gian hạn chế; đồng thời, họ phải dán nhãn lên mũ bảo hộ của mình. 5. Tại lối vào của không gian hạn chế, cần phải trang bị các thiết bị cứu hộ, chẳng hạn như dựng giá đỡ ba chân, lắp pulley, và chuẩn bị dây cứu hộ. Một đầu của dây cứu hộ được cố định ở bên ngoài không gian hạn chế, còn đầu kia thì được buộc chặt vào dây an toàn của người nhập vào không gian đó. 6. Các sợi dây điện khi được đưa vào phải được cách ly với bề mặt kim loại, được treo gọn gàng, nhằm tránh tình trạng người ta vấp ngã. 7. Người giám hộ phải mặc áo chống lóa. Không được thực hiện công việc trong không gian hạn chế nếu không có người giám hộ.