HCBBS Forum (Tiếng Việt)
Submit Chemical Projects / Find Solutions
Amplify Your Requirements on a Broader Chemical Platform *Engineering · Technology · Equipment · Solutions*
Submit Request

Việc thực hiện khoản tiền bảo lãnh rủi ro an toàn lao động trong doanh nghiệp

2016-09-09View Original

Thread Content

Tiền bảo lãnh rủi ro an toàn sản xuất của doanh nghiệp dùng để làm gì? Không phải là hiểu lầm rằng sẽ trừ tiền lương nhân viên rồi trả lại một lần nữa sao? Ưu và nhược điểm là gì? Việc thực hiện trong doanh nghiệp diễn ra như thế nào? Mọi người cứ thoải mái thảo luận nhé
Reply #22016-09-09
Phương thức của chúng tôi là yêu cầu nhân viên nộp một khoản tiền đảm bảo rủi ro an toàn nhất định. Nếu mỗi tháng họ tuân thủ các quy định về an toàn lao động và không vi phạm bất kỳ quy định nào nghiêm trọng, thì số tiền đảm bảo này sẽ được hoàn trả cho họ theo tỷ lệ 1:1. Đơn vị cần xây dựng một hệ thống đánh giá chi tiết.
Reply #32016-09-09
Đơn vị chúng tôi áp dụng hệ thống đánh giá hàng năm về rủi ro an toàn; những đơn vị đáp ứng được các yêu cầu sẽ được chi trả tiền thưởng. Vì tai nạn rất hiếm, mọi người đều coi đó là một điều may mắn. Việc áp dụng biện pháp thế chấp bằng các thiết bị bảo hộ an toàn chắc chắn không gây hại gì. Nếu xảy ra sự cố, người vi phạm sẽ bị phạt tiền; ít nhất thì điều này cũng giúp nâng cao nhận thức của nhân viên. Nhưng đây chỉ là một biện pháp để kiểm soát rủi ro an ninh mà thôi, sẽ không mang lại hiệu quả lớn.
Reply #42016-09-09
Quy định tạm thời về quản lý khoản tiền bảo lãnh rủi ro an toàn sản xuất của doanh nghiệp Nhằm nâng cao nhận thức về an toàn sản xuất trong các doanh nghiệp, thực hiện trách nhiệm liên quan đến an toàn sản xuất, và đảm bảo việc ứng phó kịp thời với các sự cố tai nạn trong quá trình sản xuất diễn ra thuận lợi, gần đây, Bộ Tài chính, Cục Quản lý An toàn lao động và Ngân hàng Nhân dân đã cùng nhau ban hành “Quy định tạm thời về quản lý khoản tiền bảo lãnh rủi ro an toàn sản xuất của doanh nghiệp”. Theo quy định, tiền bảo lãnh rủi ro an toàn sản xuất (sau đây gọi tắt là tiền bảo lãnh rủi ro) là khoản tiền mà doanh nghiệp dùng để gửi vào tài khoản riêng, dưới tên của người đại diện pháp lý hoặc các đối tác kinh doanh. Khoản tiền này được sử dụng nhằm ứng phó với các sự cố tai nạn trong quá trình sản xuất, hỗ trợ công tác cứu trợ và xử lý hậu quả sau sự cố. Các cơ quan quản lý an toàn ở cấp tỉnh cùng các cơ quan tài chính cùng cấp cần xem xét các yếu tố như sản lượng sản xuất, doanh thu bán hàng của doanh nghiệp để xác định số tiền ký quỹ nhằm giảm thiểu rủi ro. Đối với các doanh nghiệp nhỏ, số tiền này không được thấp hơn 300.000 nhân dân tệ ; Doanh nghiệp cỡ trung không dưới 1 triệu nhân dân tệ ; Các doanh nghiệp lớn không dưới 1,5 triệu nhân dân tệ ; Doanh nghiệp quy mô cực lớn không dưới 2 triệu nhân dân tệ. Số tiền đảm bảo rủi ro tối đa được phép gửi về cơ bản không quá 5 triệu nhân dân tệ. Bộ Tài chính, Tổng cục Giám sát An toàn, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc thông báo về việc ban hành “Quy định tạm thời về quản lý khoản tiền bảo lãnh rủi ro an toàn sản xuất của doanh nghiệp”. Văn bản số Tài Chính 369. Gửi các Sở Tài chính (Cục Tài chính) của các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương, các thành phố được xếp vào diện quản lý riêng; các Cục Quản lý An toàn Sản xuất; Cục Tài chính và Cục Quản lý An toàn Sản xuất của Tập đoàn Xây dựng và Sản xuất Tân Cương; Trụ sở chính Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc tại Thượng Hải, các chi nhánh, bộ phận quản lý kinh doanh, các ngân hàng trung tâm tại các thành phố tỉnh lỵ: Nhằm nâng cao ý thức về an toàn sản xuất của các doanh nghiệp, thực hiện trách nhiệm về an toàn sản xuất, đảm bảo công tác ứng phó với các sự cố tai nạn lao động diễn ra một cách thuận lợi, theo “Quyết định của Hội đồng Nhà nước về việc tăng cường công tác an toàn sản xuất” (Quốc vụ số 2), Bộ Tài chính, Tổng cục Giám sát An toàn và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã cùng nhau xây dựng “Quy định tạm thời về quản lý khoản tiền bảo lãnh rủi ro an toàn sản xuất của doanh nghiệp”. Văn bản này được ban hành để mọi người tuân thủ. Phụ lục: Quy định tạm thời về việc quản lý khoản tiền bảo lãnh rủi ro an toàn sản xuất của doanh nghiệp – Bộ Tài chính, Tổng cục Giám sát An toàn, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc. Ngày 26 tháng 7 năm 2006.

Quy định tạm thời về việc quản lý khoản tiền bảo lãnh rủi ro an toàn sản xuất của doanh nghiệp

Chương 1: Những quy định chung

Điều 1: Nhằm nâng cao ý thức về an toàn sản xuất trong các doanh nghiệp, thực hiện trách nhiệm về an toàn sản xuất, quy định rõ cách quản lý khoản tiền bảo lãnh rủi ro an toàn sản xuất, đồng thời đảm bảo công tác ứng phó với các sự cố an toàn sản xuất diễn ra một cách thuận lợi, căn cứ vào “Quyết định của Hội đồng Nhà nước về việc tăng cường hơn nữa công tác an toàn sản xuất” (Quốc vụ phán số 2), quy định này được ban hành. Điều 2: Các doanh nghiệp được đề cập trong các quy định này là những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực như khai thác mỏ (không bao gồm mỏ than), giao thông vận tải, xây dựng, sản xuất hóa chất nguy hiểm, sản xuất pháo hoa và chất nổ, v.v. Khoản tiền bảo lãnh rủi ro an toàn sản xuất được đề cập trong quy định này (sau đây gọi tắt là khoản tiền bảo lãnh rủi ro), chính là số tiền mà doanh nghiệp dùng tên của người đại diện pháp lý hoặc các đối tác hợp tác để gửi vào tài khoản riêng. Số tiền này được sử dụng nhằm ứng phó với các sự cố an toàn sản xuất, cứu trợ nạn nhân và xử lý các hậu quả liên quan. Chương 2: Việc quản lý số tiền bảo đảm rủi ro
Điều 3: Các cơ quan quản lý an toàn lao động thuộc các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương, và các thành phố được xếp vào diện quản lý riêng (sau đây gọi là các cơ quan quản lý an toàn lao động cấp tỉnh), cùng với các cơ quan tài chính cùng cấp, sẽ xác định mức tiền bảo đảm cụ thể dựa trên các tiêu chuẩn sau. Đồng thời, họ cũng cần xem xét đến quy mô hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đặc điểm ngành nghề, cũng như các yếu tố như sản lượng, số lượng nhân viên, doanh thu… (1) Đối với các doanh nghiệp nhỏ, mức tiền bảo đảm không được thấp hơn 300.000 nhân dân tệ (không bao gồm 300.000 nhân dân tệ) ; (II) Đối với các doanh nghiệp cỡ trung, số tiền lưu trữ phải từ 1 triệu nhân dân tệ trở lên (không bao gồm 1 triệu nhân dân tệ) ; (III) Đối với các doanh nghiệp lớn, số tiền dự trữ phải từ 1,5 triệu nhân dân tệ trở lên (không bao gồm 1,5 triệu nhân dân tệ) ; (IV) Đối với các doanh nghiệp quy mô rất lớn, số tiền dự trữ phải từ 2 triệu nhân dân tệ trở lên (không bao gồm 2 triệu nhân dân tệ). Số tiền bảo lãnh rủi ro được giữ lại, về nguyên tắc, không được vượt quá 5 triệu nhân dân tệ. Tiêu chuẩn phân loại quy mô doanh nghiệp được thực hiện theo **quy định thống nhất**. Điều 4: Trước khi các quy định này có hiệu lực, nếu các cơ quan chức năng cấp tỉnh đã đặt ra tiêu chuẩn về số tiền bảo lãnh rủi ro cao hơn so với tiêu chuẩn được quy định trong các quy định này, thì vẫn phải tuân theo tiêu chuẩn ban đầu. Đồng thời, cần báo cáo việc này cho các cơ quan chức năng có thẩm quyền theo đúng thủ tục quy định. Điều 5: Khoản tiền bảo lãnh rủi ro phải được gửi theo các quy định sau: (1) Khoản tiền bảo lãnh rủi ro phải được doanh nghiệp gửi đúng hạn và đầy đủ số tiền quy định. Doanh nghiệp không được trì hoãn, giảm bớt hay không nộp tiền đảm bảo rủi ro do việc thay đổi người đại diện theo pháp luật hoặc thành viên góp vốn, hoặc do tình trạng ngừng sản xuất để điều chỉnh hoạt động kinh doanh; đồng thời cũng không được yêu cầu nhân viên phải chia sẻ gánh nặng chi phí đảm bảo rủi ro dưới bất kỳ hình thức nào. (II) Số tiền bảo lãnh rủi ro sẽ được xác định và quyết định bởi các cơ quan quản lý an toàn lao động ở cấp tỉnh, thành phố, huyện, cùng với các cơ quan tài chính cùng cấp. (III) Khoản tiền bảo lãnh rủi ro được quản lý trong tài khoản riêng biệt. Doanh nghiệp phải mở tài khoản dành riêng cho tiền bảo lãnh rủi ro tại ngân hàng được cơ quan quản lý an toàn lao động cấp tỉnh và cơ quan tài chính cùng cấp chỉ định (sau đây gọi là ngân hàng đại lý). Trong vòng 1 tháng kể từ khi nhận được thông báo xác nhận, doanh nghiệp phải nộp toàn bộ số tiền bảo lãnh rủi ro vào tài khoản này tại ngân hàng đại lý ; Các doanh nghiệp có thể rút tiền mặt từ tài khoản này, trong phạm vi chi tiêu cho tiền đảm bảo rủi ro được quy định trong phương thức này, theo **quy định về quản lý tiền mặt**. (IV) Các quy định cụ thể về việc quản lý số tiền ký quỹ dùng để đối phó với rủi ro sẽ do cơ quan quản lý an toàn ở cấp tỉnh và cơ quan tài chính cùng cấp cùng nhau xây dựng. Điều 6: Các doanh nghiệp xây dựng và vận tải hoạt động trên phạm vi liên tỉnh (khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương, thành phố được quy hoạch riêng), giữa các thành phố, hoặc giữa các huyện/quận, nếu đã nộp tiền bảo lãnh rủi ro tại nơi đăng ký kinh doanh và có thể xuất trình được chứng từ hợp lệ, thì không cần phải nộp thêm tiền bảo lãnh rủi ro nữa. Chương 3: Việc sử dụng khoản tiền bảo lãnh rủi ro
Điều 7: Phạm vi sử dụng khoản tiền bảo lãnh rủi ro của doanh nghiệp bao gồm: (i) Các chi phí cần thiết để ứng phó với các sự cố an toàn lao động xảy ra trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp ; (II) Các chi phí phát sinh trực tiếp nhằm xử lý các hậu quả của các vụ tai nạn lao động trong doanh nghiệp này. Điều 8: Các chi phí liên quan đến việc ứng phó với các sự cố an toàn lao động, cứu trợ nạn nhân và xử lý hậu quả sau sự cố đều do chính doanh nghiệp chịu trách nhiệm chi trả. Về nguyên tắc, doanh nghiệp phải thanh toán các khoản chi phí này trước. Nếu thực sự cần sử dụng số tiền trong tài khoản dự phòng rủi ro, thì cần có sự chấp thuận từ cơ quan quản lý an toàn lao động và cơ quan tài chính cùng cấp; sau đó, ngân hàng đại lý sẽ thực hiện các thủ tục cần thiết. Điều 9: Trong trường hợp xảy ra một trong các tình huống sau, các cơ quan quản lý an toàn lao động ở cấp tỉnh, thành phố, huyện cùng với các cơ quan tài chính cùng cấp có thể chuyển một phần hoặc toàn bộ số tiền ký quỹ rủi ro thành nguồn vốn dùng để ứng phó với tai nạn lao động, cứu trợ nạn nhân và xử lý hậu quả: (1) Người chịu trách nhiệm trong doanh nghiệp bỏ trốn sau khi xảy ra tai nạn lao động ; (II) Các doanh nghiệp, sau khi xảy ra tai nạn lao động, không chịu nhận trách nhiệm trong thời hạn quy định, cũng không chi trả các khoản chi phí liên quan đến việc ứng phó với sự cố, cứu trợ và khắc phục hậu quả. Chương 4: Quản lý tiền bảo đảm rủi ro
Điều 10: Tiền bảo đảm rủi ro được quản lý theo cấp bậc khác nhau. Các cơ quan quản lý an toàn lao động ở cấp tỉnh, thành phố, huyện, cùng với các cơ quan tài chính cùng cấp, sẽ cùng nhau chịu trách nhiệm quản lý tiền bảo đảm này, dựa trên nguyên tắc quản lý theo khu vực. Khoản tiền bảo lãnh rủi ro của các doanh nghiệp thuộc sự quản lý trung ương sẽ được xác định bởi cơ quan quản lý an toàn lao động cấp tỉnh tại nơi doanh nghiệp hoạt động và cơ quan tài chính cùng cấp. Sau đó, thông tin này sẽ được gửi lên Tổng cục Quản lý An toàn lao động và Bộ Tài chính để lưu hồ sơ. Điều 11: Trong thời gian doanh nghiệp tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu trong năm đó không xảy ra tai nạn lao động nào và cũng không sử dụng số tiền bảo lãnh rủi ro, thì số tiền bảo lãnh rủi ro đó sẽ được chuyển sang năm sau một cách tự động; không cần phải bổ sung thêm số tiền này nữa. Trong trường hợp xảy ra tai nạn lao động, dẫn đến việc phải sử dụng số tiền bảo lãnh rủi ro, các cơ quan quản lý an toàn lao động ở cấp tỉnh, thành phố, huyện cùng với các cơ quan tài chính cùng cấp cần phải xác định lại mức tiền bảo lãnh rủi ro mà doanh nghiệp cần nộp, đồng thời thông báo kịp thời cho doanh nghiệp ; Doanh nghiệp phải bổ sung số tiền đảm bảo rủi ro theo mức tiêu chuẩn quy định trong vòng 1 tháng kể từ khi nhận được thông báo xác nhận. Điều 12: Nếu quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có sự thay đổi đáng kể, các cơ quan quản lý an toàn lao động ở cấp tỉnh, thành phố, huyện cùng với các cơ quan tài chính cùng cấp phải điều chỉnh số tiền ký quỹ rủi ro vào cuối quý đầu tiên của năm sau. Sau đó, họ phải thông báo cho doanh nghiệp về số tiền cần bổ sung (hoặc hoàn trả) để đạt mức ký quỹ rủi ro mới. Điều 13: Khi doanh nghiệp bị đóng cửa theo quy định của pháp luật, phá sản, hoặc chuyển sang lĩnh vực kinh doanh khác, thì sau khi doanh nghiệp nộp đơn xin và được sự phê duyệt từ các cơ quan quản lý an toàn lao động ở cấp tỉnh, thành phố, huyện, cùng với các cơ quan tài chính cùng cấp, doanh nghiệp có thể tự quyết định cách sử dụng số tiền còn lại trong tài khoản dành cho việc đảm bảo rủi ro của mình, theo các quy định liên quan. Khi doanh nghiệp thực hiện việc chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc cải tổ thành công ty trách nhiệm hữu hạn, số tiền đảm bảo rủi ro mà doanh nghiệp đó nắm giữ vẫn được quản lý và sử dụng theo các quy định của phương thức này. Điều 14: Phương thức xử lý vấn đề thuế liên quan đến số tiền thế chấp để đối phó với rủi ro sẽ do Bộ Tài chính và **Tổng cục Thuế quy định riêng. Các vấn đề kế toán cụ thể sẽ được xử lý theo **quy định kế toán**. Điều 15: Trong vòng 3 tháng kể từ cuối mỗi năm tài chính, các cơ quan quản lý an toàn lao động cấp tỉnh cùng các cơ quan tài chính cùng cấp phải báo cáo về tình hình quản lý, sử dụng và lưu trữ số tiền bảo đảm rủi ro trong năm trước cho Tổng cục Quản lý An toàn lao động và Bộ Tài chính để lưu hồ sơ. Điều 16: Khoản tiền thế chấp để đối phó với rủi ro phải được sử dụng vào mục đích cụ thể, không được chiếm dụng cho mục đích khác. Các cơ quan quản lý, giám sát an toàn sản xuất, các cơ quan tài chính cùng cấp và nhân viên của họ, nếu có hành vi chiếm dụng tiền bảo lãnh rủi ro hoặc vi phạm các quy định của phương thức này cũng như các luật, quy định liên quan, thì sẽ bị xử lý theo các quy định tương ứng. Chương 5: Các quy định khác – Biên tập. Điều 17: Các cơ quan quản lý an toàn lao động ở cấp tỉnh và các cơ quan tài chính cùng cấp có thể xây dựng các quy định chi tiết dựa trên những quy định này. Điều 18: Đối với các tập đoàn doanh nghiệp không thuộc phạm vi quy định tại khoản 1, điều 2 của quy chế này, thì các công ty con và xưởng sản xuất thuộc sở hữu của tập đoàn đó, nếu nằm trong phạm vi quy định, thì sẽ được áp dụng theo quy chế này. Điều 19: Các quy định trong phương thức này sẽ do Bộ Tài chính, **Tổng cục Giám sát và Quản lý An toàn Sản xuất, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc chịu trách nhiệm giải thích. Điều 20: Các doanh nghiệp khai thác than phải tuân thủ các quy định được nêu trong “Thông báo của Bộ Tài chính và Tổng cục Giám sát quản lý an toàn lao động về việc ban hành <Quy định tạm thời về quản lý khoản tiền bảo lãnh rủi ro an toàn lao động đối với các doanh nghiệp khai thác than>” (Số văn bản: Tài Chính 918). Điều 21: Các quy định trong Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 8 năm 2006. Bộ Tài chính, Tổng cục Giám sát An toàn và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc thông báo về việc ban hành “Quy định tạm thời về quản lý khoản tiền bảo lãnh nhằm đảm bảo an toàn lao động trong doanh nghiệp”. Quy định này được đưa ra nhằm nâng cao công tác quản lý an toàn của các doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ chi phí xử lý các sự cố an toàn, cứu trợ và khắc phục hậu quả ; Và còn có thể ngăn không cho ông chủ trốn mất ; Một số công ty khác cũng áp dụng phương pháp tương tự, chủ yếu nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm về an toàn của nhân viên, coi công tác an toàn như một phần không thể thiếu trong công việc của họ

Submit a Project

**Looking for Chemical Technology, Equipment & Solutions?** No Registration Required Broader Platform Exposure | Global Chemical Service Provider Connections

Submit Request — Free Consultation

Disclaimer

This is an automated machine translation of the original thread. Some technical terms may have inaccuracies; the original text shall prevail. Click "View Original" at the top right to access the source page, which supports IP-based automatic real-time language translation. Please watch out for contact details and sales inducements to prevent fraud. All content and translations are for reference only, representing solely the poster's personal views. For enquiries, email service@hcbbs.com.