Thread Content
Amoni dư sau quá trình tách lưu huỳnh khí trong chu trình hydro hóa được đưa vào bình chưng cất ly tâm chứa dung dịch amoni dư. Áp suất trong bình được kiểm soát ở mức 1 Mpa. Tại sao lại kiểm soát áp suất ở mức 1 Mpa? Nguyên lý của quá trình chưng cất là gì và nó có tác dụng gì?
Dịch giàu áp suất cao chứa lượng lớn hydro sunfua; sau khi đi qua van điều chỉnh, áp suất sẽ giảm xuống còn 1 Mpa. Quá trình bay hơi giúp loại bỏ lượng lưu huỳnh này ra ngoài! Lại đổ chất lỏng thủy lực vào thiết bị tái tạo
Bình sôi hơi chủ yếu dùng để làm bay hơi lượng dầu có trong dung dịch amin. Nếu dung dịch amin chứa quá nhiều dầu, các thiết bị ở giai đoạn sau sẽ khó xử lý, đồng thời dung dịch cũng sẽ bị tạo bọt. Nguyên lý sủi bọt là việc giảm áp suất, từ đó làm giảm áp suất bão hòa của dầu khí, khiến chúng bay hơi.
Nguyên lý bay hơi này thì không cần phải giải thích nữa. Nếu chưa biết, có thể tìm kiếm trên Google hoặc tra cứu sách về nguyên lý hóa học. Dịch chất sau quá trình tách lưu huỳnh khỏi hydro tuần hoàn chứa các hydrocarbon nhẹ, hydro, và tất nhiên cũng có khí hydro sunfua. Nếu dịch chất này được đưa trực tiếp vào quy trình tái chế, thì các hydrocarbon nhẹ, hydro và hydro sunfua sẽ được chuyển đến các thiết bị xử lý lưu huỳnh ở giai đoạn sau. Điều này là sự lãng phí nghiêm trọng đối với các khí dễ cháy; Áp suất được đặt ở mức 1 MPa là vì khí được tạo ra từ quá trình bay hơi chứa nhiều hydrocarbon nhẹ và hydro; những khí này không thể được đưa trực tiếp vào mạng lưới đường ống dẫn nhiên liệu. Khí thu được từ quá trình bay hơi thường được xử lý để loại bỏ lưu huỳnh trước khi được đưa vào mạng lưới đường ống dẫn nhiên liệu. Áp suất trong quá trình bay hơi chắc chắn phải cao hơn áp suất trong mạng lưới đường ống dẫn nhiên liệu khoảng một hoặc hai kilogram
Mục đích chính của quá trình sấy bốc hơi là loại bỏ các hợp chất hydrocarbon có trong dung dịch amine, nhằm đảm bảo hiệu quả tái tạo dung dịch amine. Việc dung dịch amine chứa các hợp chất hydrocarbon có thể gây ra hiện tượng nổ bọt trong dung dịch.