Thread Content
Bài viết này cuối cùng được chỉnh sửa bởi wang*nhua77020 vào ngày 2016-9-22 lúc 06:47. 1. Nguyên vật liệu, vật tư dự phòng: Việc quản lý rủi ro liên quan đến chất lượng của nguyên vật liệu, vật tư dự phòng chủ yếu là việc đánh giá mức độ rủi ro từ chất lượng của chúng, nhằm kiểm soát những rủi ro có thể xảy ra do việc sử dụng những nguyên vật liệu, vật tư dự phòng không đạt tiêu chuẩn. Đặc biệt, đối với việc sử dụng các vật liệu và thiết bị mới cần phải tiến hành đánh giá rủi ro, và cấm việc sử dụng chúng một cách mù quáng. 2. Các công việc sửa chữa và vệ sinh quy trình sản xuất: Việc quản lý rủi ro an toàn trong các công việc này chủ yếu bao gồm việc phân tích môi trường xung quanh nơi thực hiện công việc cũng như các yếu tố nguy hiểm, có hại trong quy trình sản xuất tại đó. Từ đó, xác định được các yếu tố nguy hiểm ấy và đánh giá mức độ nguy hiểm của chúng. Đồng thời, cần phải phân tích các yếu tố môi trường trong quá trình thực hiện công việc, xác định những thay đổi về môi trường do công việc gây ra, từ đó xác định các yếu tố nguy hại mới. Dựa vào mức độ nguy hiểm của các yếu tố này, cần xây dựng các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát. Quản lý rủi ro an toàn đối với các thiết bị đặc biệt chủ yếu bao gồm việc quản lý việc lắp đặt, sử dụng, bảo trì, kiểm tra và đánh giá chất lượng của các thiết bị này. Đồng thời, cần kiểm soát chặt chẽ chất lượng của các linh kiện thay thế và vật liệu được sử dụng trong các thiết bị này. Cần tiến hành phân tích và đánh giá các yếu tố nguy hiểm liên quan đến các thiết bị đặc biệt một cách định kỳ hoặc không định kỳ, lập hồ sơ đánh giá, đề xuất các biện pháp kiểm soát và phòng ngừa nhằm tránh xảy ra tai nạn liên quan đến các thiết bị này. 4. Bảo trì, sửa chữa thiết bị và cơ sở vật chất. Mặc dù có nhiều nguyên nhân gây ra các sự cố liên quan đến thiết bị và cơ sở vật chất, nhưng nhìn chung thì có thể chia thành năm nguyên nhân chính: Thứ nhất là do những khiếm khuyết tồn tại ngay từ giai đoạn thiết kế, chế tạo và lắp đặt thiết bị, cơ sở vật chất ; Thứ hai là đơn vị sử dụng chọn loại sản phẩm không phù hợp ; Thứ ba là nhân viên vận hành sử dụng không đúng cách ; Thứ tư là trong quá trình vận hành xảy ra hiện tượng mài mòn, mệt mỏi, lão hóa, ăn mòn ; Năm là sửa chữa các khiếm khuyết. Những yếu tố gây hại này đều có thể được kiểm soát. Điều quan trọng là phải thu thập các dữ liệu thống kê liên quan, từ đó tiến hành phân tích mức độ nguy hiểm một cách định kỳ hoặc không định kỳ, nhằm xây dựng các biện pháp phòng ngừa. Quản lý rủi ro an toàn đối với các vị trí then chốt là việc phân tích toàn bộ hệ thống sản xuất, xác định những công đoạn có nguy cơ xảy ra tai nạn cao và gây ra hậu quả nghiêm trọng. Từ đó, tiến hành quản lý rủi ro một cách chặt chẽ đối với kiến thức, năng lực, ý thức của những người làm việc tại các công đoạn này, cũng như đối với các thiết bị và công cụ được sử dụng trong quá trình sản xuất. Tăng cường việc đánh giá và kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, có hại trong quy trình sản xuất, xây dựng một hệ thống bảo vệ rủi ro hoàn chỉnh. Như các hệ thống đào tạo về cấu trúc kiến thức của nhân viên, kỹ năng vận hành, khả năng xử lý sự cố, ý thức an toàn, cùng các hệ thống quản lý rủi ro liên quan đến sự thay đổi nhân sự và việc bảo trì thiết bị. 6. Có nhiều thay đổi xảy ra. Khi các doanh nghiệp thay đổi thiết bị, cơ sở vật chất và quy trình sản xuất, họ chỉ tập trung phân tích xem những thay đổi đó có giúp ích cho việc vận hành sản xuất và nâng cao năng suất hay không, mà lại bỏ qua việc đánh giá mức độ nguy hiểm về mặt an toàn. Điều này thường dẫn đến các tai nạn lao động. Việc thay đổi nhân sự cũng vậy; thường thì việc điều chuyển nhân viên được thực hiện dựa trên cảm tính hoặc mối quan hệ cá nhân, hiếm khi có việc phân tích các rủi ro có thể xảy ra do sự thay đổi này. Điều này dễ dẫn đến các tai nạn trong quá trình vận hành do sai sót của con người. Việc thay đổi quản lý rủi ro an toàn chính là việc tăng cường phân tích các yếu tố nguy hiểm và có hại khi có sự thay đổi về thiết bị, cơ sở vật chất, quy trình sản xuất cũng như nhân sự, nhằm ngăn chặn các tai nạn an toàn xảy ra do những thay đổi đó. Kiểm soát hoạt động vận hành: Quản lý rủi ro an toàn chủ yếu dựa vào việc phân tích các yếu tố nguy hiểm và có hại, dựa trên quy trình công nghệ, đặc tính của vật liệu, cũng như điều kiện của thiết bị và cơ sở vật chất. Từ đó, người ta xây dựng các quy trình vận hành và quy định an toàn cần tuân thủ. Đánh giá cấu trúc kiến thức, kỹ năng vận hành, khả năng xử lý sự cố, kiến thức an toàn, nhận thức và thói quen của nhân viên vận hành; xây dựng hồ sơ phân tích đánh giá nhân viên. Dựa vào những điểm mạnh và điểm yếu riêng biệt của từng người, tiến hành đào tạo và giáo dục nhằm nâng cao chất lượng tổng thể của nhân viên vận hành, từ đó ngăn ngừa các tai nạn trong quá trình vận hành. 8. Kiến thức, nhận thức về an toàn và thói quen xấu: Những hành vi nguy hiểm của con người xuất phát từ sự thiếu hụt kiến thức về an toàn, nhận thức về an toàn kém, cùng với các thói quen xấu liên quan đến an toàn. Nếu nhân viên vận hành thiếu kiến thức an toàn cần thiết, họ sẽ không thể đánh giá chính xác liệu quy trình vận hành của mình có an toàn hay không. Nếu họ thiếu ý thức về an toàn và phớt lờ những hành vi nguy hiểm, thì họ sẽ vô tình mắc phải những sai lầm. Trong quá trình sản xuất lâu dài, nhân viên vận hành có thể hình thành nên một số thói quen nguy hiểm; chính những thói quen này sẽ gây ra các tai nạn. Kiến thức an toàn, nhận thức về an toàn, và việc quản lý rủi ro chính là cách để nâng cao kiến thức an toàn của các nhân viên vận hành, cũng như chất lượng đào tạo liên quan đến kiến thức an toàn cho họ. Đồng thời, điều này giúp nâng cao nhận thức về an toàn của các nhân viên, từ đó tạo ra một môi trường làm việc an toàn. 9. Các nguồn nguy cơ lớn: Việc quản lý rủi ro liên quan đến các nguồn nguy cơ lớn bắt đầu bằng việc xác định các nguồn nguy cơ này, đánh giá mức độ nguy hiểm của chúng. Sau đó, cần phân tích các yếu tố gây nguy hiểm, xác định những yếu tố có khả năng gây hại cao. Đồng thời, cần sử dụng các công nghệ và thiết bị tiên tiến, áp dụng các biện pháp phòng ngừa hợp lý. Xây dựng hệ thống quản lý các nguồn nguy cơ nghiêm trọng, xây dựng kế hoạch ứng phó khẩn cấp, và lập hồ sơ đánh giá các nguồn nguy cơ nghiêm trọng. Tăng cường việc kiểm tra định kỳ các nguồn nguy hiểm lớn; thực hiện việc phân tích và đánh giá các yếu tố gây nguy hiểm cho các nguồn nguy hiểm này một cách định kỳ hoặc không định kỳ. Dựa trên những yếu tố nguy hiểm và mức độ nguy hiểm mới, cần xây dựng các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát mới nhằm ngăn chặn các tai nạn do các nguồn nguy hiểm lớn gây ra. 10. Ngắt kết nối các thiết bị dự phòng khẩn cấp và báo động. Các thiết bị dự phòng khẩn cấp và báo động bao gồm hệ thống báo động cháy, hệ thống truyền hình công nghiệp, hệ thống gọi điện, hệ thống báo động khẩn cấp, các thiết bị chữa cháy, thiết bị rửa mắt và rửa cơ thể trong trường hợp khẩn cấp, các thiết bị liên động tự động, hệ thống dừng máy khẩn cấp ESD, v.v. Thiết bị khóa tự động giúp nâng cao mức độ an toàn trong quá trình vận hành, nhưng đồng thời cũng làm tăng độ khó của công việc này. Yêu cầu là phải kiểm soát các chỉ số một cách ổn định, và người vận hành cần có trách nhiệm cao. Chỉ cần một chỉ số nào đó không được kiểm soát tốt, gây ra sự biến động nhỏ thôi, cũng có thể dẫn đến việc máy phải dừng hoạt động. Vì vậy, để tránh tình trạng này và nâng cao tỷ lệ hoạt động của máy, một số doanh nghiệp đã vô tình ngắt kết nối các thiết bị khóa tự động, và dựa vào kinh nghiệm và kỹ năng của người vận hành để kiểm soát máy. Điều này rất dễ gây ra các tai nạn an toàn.