Thread Content
Các thao tác trong quá trình phân hủy hydro khi ngừng quá trình hydro hóa, những điểm cần lưu ý là gì? Các thông số như áp suất, nhiệt độ và những điểm cần chú ý khác
Tuân thủ nguyên tắc hạ huyết áp trước, sau đó mới hạ nhiệt độ. Biện pháp hạ áp được thực hiện thông qua việc điều chỉnh đa vòng của máy tạo hydro mới. Việc làm giảm nhiệt độ được thực hiện bằng cách giảm tải trọng lò và điều chỉnh lượng hydro tuần hoàn. Khi mức giảm tải trọng lò không thay đổi, lượng hydro tuần hoàn càng lớn thì tốc độ làm giảm nhiệt độ càng nhanh; ngược lại, lượng hydro tuần hoàn càng nhỏ thì tốc độ làm giảm nhiệt độ càng chậm. Trong quá trình sản xuất, hệ thống tiếp xúc với hydro có hiện tượng hydro thấm vào kim loại. Khi nhiệt độ của hệ thống vượt quá 135°C, cấu trúc tinh thể của kim loại trở nên đủ lớn để các phân tử hydro có thể di chuyển tự do bên trong cấu trúc tinh thể đó. Do đó, trong quá trình ngừng hoạt động của hệ thống, tốc độ làm mát không được quá nhanh; điều này giúp các phân tử hydro có thể dần dần thoát ra khỏi cấu trúc tinh thể. Nếu không, các phân tử hydro sẽ không thể thoát hết, và điều đó sẽ gây ra hiện tượng nổ do hydro. Do đó, tốc độ làm giảm nhiệt độ được thiết lập ở mức 30℃/giờ, nhưng nhiệt độ trong hệ thống chứa hydro không được thấp hơn 135℃. Khi bắt đầu hoạt động, có thể tăng áp trước rồi mới tăng nhiệt độ. Gãy do hydro là hiện tượng khi hydro xâm nhập vào thép, phản ứng với carbon có trong thép để tạo thành metan, từ đó gây ra hiện tượng nổ bong bóng hydro hoặc gãy do hydro. Các bước dừng máy: Dừng máy và xả dầu, duy trì áp suất không thay đổi, theo nguyên tắc là hạ nhiệt trước rồi mới giảm lượng dầu. Vòng tuần hoàn hydro nóng mang theo dầu, được đẩy ra ngoài từ vùng có áp suất cao. Thông thường, áp suất cần được duy trì ở mức không dưới 20 kg, còn nhiệt độ thì không dưới 150°C. Quá trình vận chuyển dầu sẽ kết thúc khi bồn chứa dầu không còn dầu nữa. Thực hiện việc hút chân không và thay thế bằng nitơ, sau đó tăng nhiệt độ và áp suất. Nitơ nóng sẽ giúp tách hydro ra khỏi hỗn hợp. Quá trình này tiếp tục cho đến khi hàm lượng hydro và hydrocarbon trong nitơ nóng không còn vượt quá 0,5% nữa. Do phân tử hydro có tính thấm cao, để tránh tình trạng hydro xâm nhập vào thép crôm-molypden trong quá trình sản xuất, gây ra hiện tượng giòn hoặc nổ do hydro, cần phải loại bỏ hydro khỏi bình chứa trong lúc ngừng hoạt động. Hạ nhiệt độ phản ứng của CAT xuống còn 275 độ C với tốc độ 20 độ/C, duy trì nhiệt độ này trong 12 giờ. Đồng thời, hạ áp suất phản ứng xuống còn 4,0 MPa. Lý do để hạ áp suất là vì khối lượng phân tử của hydro nhỏ hơn nhiều so với khối lượng phân tử của nitơ; khối lượng phân tử của nitơ gấp 14 lần khối lượng phân tử của hydro. Nếu không, nhiệt độ ở đầu ra của máy nén hydro sẽ tăng quá cao. Trong quá trình hạ áp suất, tốc độ quay của máy nén vẫn được duy trì ở mức 8000 vòng/phút. Khí nitơ được bổ sung vào hệ thống thông qua máy tạo khí hydro để duy trì áp suất. Nếu áp suất không thể được duy trì, thì tốc độ quay của máy nén cần được giảm xuống phù hợp ; Phân tích hàm lượng oxy trong khí nitơ
Khi bắt đầu hoạt động, có thể tăng áp trước rồi mới tăng nhiệt độ không? Chủ bài làm ngược rồi nhỉ
Xin hỏi, có nên tuân theo nguyên tắc “trước tiên hạ huyết áp, sau đó mới hạ nhiệt độ” không? ----------Ngừng sản xuất và rút dầu ra, duy trì áp suất ổn định, theo nguyên tắc là trước tiên hạ nhiệt độ, sau đó mới giảm lượng dầu. Điều này chẳng phải mâu thuẫn sao?
Chúng ta sẽ giảm lượng trước, áp suất vẫn giữ nguyên, vẫn cần dùng khí hydro nóng để đưa dầu vào. Lò gia nhiệt thực sự phải làm mát trước rồi mới giảm lượng