Thread Content
Việc xem xét lại đánh giá tác động môi trường cho dự án chuyển hóa 4 triệu tấn than thành dầu tại Ninh Hạ đã bắt đầu. Tác giả/Nguồn: Ngày: 10/10/2016. Số lần truy cập: 9. Đây là dự án mẫu về việc chuyển hóa than thành dầu với công suất 4 triệu tấn/năm, do Tập đoàn Thần Hoa Ninh Hạ đảm nhiệm việc xây dựng. Địa điểm xây dựng: Khu công nghiệp năng lượng và hóa chất Ninh Đông, khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ. Những thay đổi trong dự án: Địa điểm xây dựng vẫn nằm tại khu công nghiệp năng lượng và hóa chất Ninh Đông; tuy nhiên, quy mô dự án, quy trình sản xuất, các công trình chính, các biện pháp bảo vệ môi trường, cũng như bố trí mặt bằng đều có sự thay đổi. (1) Quy mô sản xuất các chất dầu mỏ tăng từ 3,85 triệu tấn/năm lên 4,05 triệu tấn/năm; đồng thời, lượng methanol được sản xuất thêm là 1 triệu tấn/năm. (2) Quy trình tổng thể được thay đổi thành lò GSP kết hợp với công nghệ khí hóa than dưới áp suất của Ningmei, cùng với công nghệ tổng hợp dầu từ FTO của Zhongke. (3) Công trình chính: Số lượng thiết bị khí hóa tăng từ 18 lên 28 chiếc. (4) Công trình bảo vệ môi trường: Các biện pháp xử lý khí thải và nước thải đều được tăng cường ; Xây dựng các bãi chôn lấp rác thải nguy hại và các bể chứa muối khô; tro bụi từ lò hơi, xỉ từ lò khí hóa được xử lý bằng cách chôn lấp tại bãi chứa xỉ số 1 trong khu công nghiệp. (5) Các công trình liên quan bao gồm dự án cấp nước Ninh Đông, khu chứa chất thải số 1 trong khu công nghiệp, và hệ thống thoát nước mưa bên ngoài nhà máy. (6) Bố cục mặt bằng khu nhà máy chính đã được điều chỉnh; vị trí xây dựng các ao bay hơi bên ngoài nhà máy (nơi sản xuất muối) và các hồ chứa nước dùng để điều tiết dòng nước cũng đã thay đổi. Sau khi có sự thay đổi trong dự án, tổng vốn đầu tư vào dự án tăng từ 559,98 tỷ nhân dân tệ lên 593,11 tỷ nhân dân tệ. Khoản đầu tư vào lĩnh vực bảo vệ môi trường cũng tăng từ 26,7 tỷ nhân dân tệ lên 68,94 tỷ nhân dân tệ. Tỷ lệ của khoản đầu tư này trong tổng vốn đầu tư cũng tăng từ 4,78% lên 11,62%. Tác động môi trường chính và các biện pháp khắc phục: (1) Khí quyển: Thiết bị thu hồi lưu huỳnh sử dụng công nghệ “Kraus hai cấp + phương pháp khử lưu huỳnh bằng amoniac” ; Khí thải sau quá trình tinh chế metanol ở nhiệt độ thấp được xử lý bằng công nghệ kết hợp “rửa + hấp phụ + ozone” ; Khu vực chứa than và các bể lưu trữ than đều được đóng kín hoàn toàn. Tại các cửa xả vật liệu, người ta lắp đặt thiết bị phun sương để giảm bụi. Các loại khí thải chứa bụi sẽ được xử lý bằng máy lọc bụi kiểu túi ; Lò hơi sử dụng công nghệ đốt cháy ít nitơ; khí thải sau khi được xử lý bằng các phương pháp “SCR để loại bỏ nitơ + lọc bụi bằng điện trường + khử lưu huỳnh bằng amoniac + khử lưu huỳnh và bụi bằng sóng siêu âm” thì mới được thải ra ngoài ; Khí thải từ lò đốt chất thải nguy hại được xử lý qua các quy trình “làm lạnh nhanh + loại bỏ axit + hấp phụ + loại bỏ bụi + khử nitơ bằng SCR” trước khi được thải ra môi trường ; Hệ thống xử lý nước thải được áp dụng giải pháp kín; khí thải không được kiểm soát sẽ được thu gom, sau đó trải qua các quy trình làm ẩm, khử mùi bằng phương pháp sinh học và hấp thụ bằng than hoạt tính trước khi được thải ra ngoài. Áp dụng quy trình sản xuất kín, thiết lập hệ thống kiểm tra và sửa chữa rò rỉ. Khí dễ cháy được thải ra trong quá trình khởi động, dừng máy hoặc trong các tình huống khẩn cấp sẽ được đưa vào lò đốt để xử lý. (2) Nước mặt: Nước thải sau khi được xử lý bởi hệ thống xử lý sơ bộ, hệ thống xử lý sinh hóa toàn nhà máy và hệ thống tái sử dụng nước thải, sẽ được tái sử dụng hoàn toàn; không có nước thải nào được thải ra ngoài. Nước muối có nồng độ cao được đưa đến bể bay hơi (khu vực sản xuất muối), sử dụng quy trình bay hơi và kết tinh từng giai đoạn. Trong các điều kiện vận hành bất thường, nước thải thuộc các loại khác nhau sẽ được tách riêng để xử lý và tái sử dụng. (3) Nước ngầm: Khu vực nhà máy được chia thành khu vực cần được kiểm soát ô nhiễm một cách nghiêm ngặt, khu vực cần được kiểm soát ô nhiễm ở mức độ bình thường, và khu vực không cần được kiểm soát ô nhiễm. Các quy định liên quan được áp dụng theo “Tiêu chuẩn kỹ thuật về việc ngăn chặn sự thấm nước trong ngành hóa dầu” (GB/T50934-2013). Ở các khu vực cần được bảo vệ khỏi ô nhiễm, lớp đất sét dùng để ngăn thấm phải có độ dày ít nhất 6,0 mét và hệ số thấm không quá 1,0×10-7 cm/giây. Còn ở các khu vực thông thường, lớp đất sét dùng để ngăn thấm cũng cần có độ dày ít nhất 1,5 mét và hệ số thấm không quá 1,0×10-7 cm/giây. Các bể bay hơi ngoài nhà máy (bao gồm các ao chứa muối khô, khu chôn lấp chất thải nguy hiểm) và các bể dự trữ nước đều phải tuân thủ “Tiêu chuẩn kiểm soát ô nhiễm từ việc chôn lấp chất thải nguy hiểm” (GB18598-2001). (4) Rác thải rắn: Các loại chất thải nguy hiểm như bùn dầu ở đáy thùng, bùn từ quá trình tách dầu, than hoạt tính đã hết công dụng, túi đựng hàng cũ… sẽ được đưa vào lò đốt chất thải rắn để xử lý. Còn bùn sinh học từ khu xử lý nước thải, viên gốm vụn, tro từ quá trình đốt chất thải rắn, các chất thải còn lại… sẽ được chôn lấp tại bãi chôn lấp chất thải nguy hiểm. Các chất thải như chất xúc tác cũ, chất bảo vệ cũ… sẽ được các nhà sản xuất thu hồi lại. Còn muối kết tinh thì sau khi được đóng gói kỹ lưỡng sẽ được vận chuyển đến bãi chứa muối ở phía Bắc để chôn lấp ; Theo yêu cầu của “Tiêu chuẩn kiểm soát ô nhiễm từ việc lưu trữ chất thải nguy hại” (GB18597-2001), cần xây dựng các khu vực lưu trữ tạm thời cho chất thải nguy hại. Rác thải rắn thông thường bao gồm xỉ khí hóa, xỉ lò hơi, v.v., được đưa đến bãi chứa rác số 1 trong khu công nghiệp để chôn lấp hoặc tái sử dụng. (5) Rủi ro môi trường: Thiết lập hệ thống phòng ngừa và kiểm soát ở ba cấp độ. Các biện pháp phòng ngừa ở cấp độ một bao gồm việc xây dựng các con đê chắn lửa xung quanh khu vực chứa hàng và các bức tường bảo vệ xung quanh khu vực thiết bị sản xuất. Các biện pháp phòng ngừa ở cấp độ hai là việc xây dựng các bể chứa nước mưa tại từng khu vực thiết bị. Còn các biện pháp phòng ngừa ở cấp độ ba là việc xây dựng bể chứa nước dùng để dập lửa, với dung tích 50.000 mét khối. Dự án đã tăng cường các biện pháp phòng ngừa rủi ro vỡ đập tại các ao bay hơi (nơi sản xuất muối) và các bể chứa tạm thời; đồng thời xây dựng các đập đất nhân tạo để kiểm soát dòng nước. Ngoài ra, còn có các đập chắn nước bên ngoi khu vực này nhằm ngăn chặn nước thải gây ô nhiễm môi trường do việc vỡ đập. Những biện pháp này giúp kiểm soát hiệu quả tác động tiêu cực của việc vỡ đập lên môi trường. Tham gia của công chúng: Việc thu hút sự tham gia của công chúng được thực hiện thông qua các phương thức như công bố trên mạng, đăng trên báo chí, treo thông báo, cung cấp bản tóm tắt báo cáo, phát phiếu khảo sát, tổ chức các buổi họp thảo luận, và công bố toàn bộ nội dung báo cáo. Tổng cộng đã phát 20 bảng khảo sát ý kiến nhóm và 530 bảng khảo sát ý kiến cá nhân. Tất cả các nhóm và 494 người được khảo sát đều bày tỏ sự ủng hộ dành cho dự án. Có 15 người từ chối, với lý do là tình trạng môi trường hiện tại khá tồi tệ, lo ngại rằng việc triển khai dự án sẽ làm gia tăng ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Sau khi được liên hệ lại, họ vẫn giữ quan điểm phản đối. Ý kiến của các cơ quan liên quan: (1) **Ủy ban Cải cách và Phát triển đã phê duyệt dự án theo văn bản Phát triển Năng lượng [2013] số 1837.** (2) Ủy ban Thủy lợi sông Hoàng Hà thuộc Bộ Thủy lợi đã phê duyệt dự án này thông qua văn bản số Huang Ke Xu [2011]80; theo đó, mỗi năm có thể lấy 31,315 triệu mét khối nước từ sông Hoàng Hà để sử dụng. (3) Ủy ban Phát triển và Cải cách tỉnh Ninh Hạ đã phê duyệt việc tiến hành các công tác chuẩn bị cho dự án sử dụng toàn diện chất thải than đá (với khả năng sản xuất 1 triệu tấn methanol mỗi năm), thông qua văn bản số Ning Fa Gai Chan Gong Ye [2014] 44.