HCBBS Forum (Tiếng Việt)
Submit Chemical Projects / Find Solutions
Amplify Your Requirements on a Broader Chemical Platform *Engineering · Technology · Equipment · Solutions*
Submit Request

“Kế hoạch phát triển ngành hóa dầu và hóa chất (2016–2020)” được ban hành

2016-10-17View Original

Thread Content

“Kế hoạch phát triển ngành hóa dầu và hóa chất (2016–2020)” đã được ban hành. Kế hoạch này xác định rõ các mục tiêu phát triển trong năm lĩnh vực chính, bao gồm phát triển kinh tế, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, sử dụng động lực sáng tạo để thúc đẩy phát triển, phát triển bền vững, và tích hợp công nghệ thông tin với các ngành công nghiệp khác. Ngoài ra, kế hoạch còn đề ra tám nhiệm vụ chính, bao gồm thực hiện chiến lược dựa trên động lực sáng tạo, thúc đẩy quá trình chuyển đổi và nâng cấp các ngành công nghiệp truyền thống, phát triển các vật liệu hóa học mới, thúc đẩy sự tích hợp sâu rộng giữa công nghệ thông tin và các ngành công nghiệp khác, tăng cường quản lý an toàn đối với các sản phẩm hóa chất nguy hiểm, quy chuẩn hóa việc xây dựng các khu công nghiệp hóa chất, thúc đẩy việc xây dựng các dự án lớn, và mở rộng hợp tác quốc tế. Thông báo về việc ban hành Kế hoạch phát triển ngành công nghiệp dầu khí và hóa chất (2016–2020), số văn bản: MIIT Gui 318. Gửi đến các cơ quan quản lý công nghiệp và thông tin truyền thông của các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương, các thành phố được xếp vào diện quản lý riêng, cũng như Tập đoàn Sản xuất và Xây dựng Tân Cương; các hiệp hội ngành liên quan, và các doanh nghiệp trung ương có liên quan: Nhằm thực hiện “Kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội 5 năm lần thứ 13 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” và “Chiến lược ‘Sản xuất tại Trung Quốc 2025’”, góp phần nâng cao chất lượng ngành công nghiệp dầu khí và hóa chất, đồng thời hướng dẫn ngành này phát triển một cách bền vững và khoa học, chúng tôi xin ban hành “Kế hoạch phát triển ngành công nghiệp dầu khí và hóa chất (2016–2020)”. Hiện nay chúng tôi gửi văn bản này đến các bạn, xin hãy kết hợp với thực tế để thực hiện một cách nghiêm túc. Bộ Công nghiệp và Công nghệ Thông tin, ngày 29 tháng 9 năm 2016 – Kế hoạch phát triển ngành công nghiệp hóa dầu và hóa chất (2016–2020). Ngành công nghiệp hóa dầu và hóa chất là những ngành trụ cột quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Những ngành này có quy mô kinh tế lớn, mức độ liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành cao; chúng có mối liên hệ mật thiết với sự phát triển kinh tế, cuộc sống của người dân và lĩnh vực quốc phòng, quân sự. Do đó, chúng chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống kinh tế công nghiệp của nước ta. Kể từ khi thực hiện chính sách cải cách và mở cửa, ngành công nghiệp hóa dầu và hóa chất của nước ta đã đạt được những bước tiến vượt bậc. Ngành này đã đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội cũng như nhu cầu trong lĩnh vực công nghệ quốc phòng. Nhưng so với các nước phát triển, vẫn còn tồn tại một số khoảng cách trong các lĩnh vực như đổi mới công nghệ, cơ cấu ngành kinh tế, phát triển bền vững.   ““Kế hoạch 5 năm lần thứ 13” là giai đoạn quyết định để Trung Quốc xây dựng xong một xã hội khá giả toàn diện. Đây cũng là thời kỳ then chốt để Trung Quốc chuyển mình từ một quốc gia mạnh về ngành công nghiệp dầu khí và hóa chất thành một quốc gia thực sự mạnh mẽ. Nhằm thực hiện các nội dung trong “Kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân và xã hội giai đoạn 13”, “Chiến lược Sản xuất tại Trung Quốc 2025” cũng như “Hướng dẫn của Chính phủ về việc thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực sản xuất công nghệ cao và thiết bị trên phạm vi quốc tế”, góp phần biến ngành hóa dầu và hóa chất từ một ngành có quy mô lớn thành một ngành mạnh mẽ, đồng thời hướng dẫn ngành này phát triển một cách bền vững và khoa học, chúng tôi đã xây dựng kế hoạch này. Các ngành công nghiệp hóa dầu và hóa chất được đề cập trong kế hoạch này là những ngành sử dụng dầu mỏ, khí đốt tự nhiên, than đá, khoáng sản hóa học và sinh khối làm nguyên liệu để tiến hành các quy trình chế biến hóa học. Những ngành này không bao gồm ngành khai thác dầu mỏ và khí đốt tự nhiên, cũng như ngành sản xuất thiết bị chuyên dụng. Khoảng thời gian lập kế hoạch là từ năm 2016 đến năm 2020.   I. Tình hình ngành và môi trường phát triển
(1) Những thành tựu đã đạt được
Trong giai đoạn “Kế hoạch 5 năm lần thứ 12”, trước tình hình phức tạp do sự chuyển đổi tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nước, những khó khăn trong việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế, cùng với việc xử lý các chính sách kích thích kinh tế từ trước đó; cùng với môi trường bên ngoài khó khăn do quá trình phục hồi kinh tế toàn cầu diễn ra một cách chậm rãi và gian nan, ngành công nghiệp hóa dầu và hóa chất của nước ta đã chủ động ứng phó với mọi rủi ro và thách thức. Ngành này đã tích cực thúc đẩy việc “thay đổi mô hình phát triển, điều chỉnh cơ cấu kinh tế”. Nhìn chung, toàn ngành vẫn duy trì được tốc độ phát triển ổn định và nhanh chóng; năng lực tổng thể của ngành cũng được nâng cao đáng kể. Điều này đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế – xã hội.   1. Năng lực tổng thể được nâng cao đáng kể. “Trong kỳ “12 năm lần thứ hai”, ngành công nghiệp dầu khí và hóa chất của Trung Quốc tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định. Giá trị sản xuất của ngành này tăng trung bình 9% mỗi năm, còn giá trị gia tăng công nghiệp thì tăng trung bình 9,4% mỗi năm. Đến năm 2015, ngành này đã đạt doanh thu từ các hoạt động kinh doanh chính vào mức 11,8 nghìn tỷ nhân dân tệ. Nước ta đã trở thành quốc gia sản xuất hóa chất lớn nhất thế giới. Sản lượng của các mặt hàng quan trọng như metanol, phân bón, thuốc trừ sâu, hóa chất clo, lốp xe, và các nguyên liệu vô cơ đều đứng đầu thế giới. Khả năng đảm bảo cung ứng các sản phẩm chính ngày càng được cải thiện; tỷ lệ tự cung cấp ethylene và propylene lần lượt đạt 50% và 72%, trong khi tỷ lệ tự cung cấp các vật liệu hóa học mới đạt 63%.   2. Cơ cấu điều chỉnh được thúc đẩy một cách ổn định. Cơ cấu phân bố các khu vực đã được cải thiện hơn nữa; 22 nhà máy lọc dầu với công suất hàng chục triệu tấn mỗi năm và 10 nhà máy sản xuất ethylene với công suất hàng triệu tấn mỗi năm đã được xây dựng. Nhờ đó, ba khu vực công nghiệp hóa dầu quan trọng là Đồng bằng sông Dương Tử, Đồng bằng sông Châu Giang và khu vực ven biển Bột Hải đã được hình thành ; Đã xây dựng các khu công nghiệp hóa chất quy mô lớn như khu sản xuất phân lân ở Vân Nam, Quý Châu và Hồ Bắc, cũng như các khu sản xuất phân kali ở Tứ Xuyên và Tây Tạng. Ngoài ra, còn có các khu công nghiệp hóa dầu hiện đại ở Mông Cổ phía Tây, Ninh Đông và Thiểm Tây phía Bắc. Việc xây dựng các khu công nghiệp hóa chất đang có những bước tiến mới; khả năng tập trung các ngành công nghiệp cũng ngày càng được nâng cao. Đến nay, đã có 32 khu mẫu về công nghiệp hóa hiện đại được xây dựng. Cơ cấu sản phẩm tiếp tục được điều chỉnh sâu rộng; sản lượng của 22 loại thuốc trừ sâu có độc tính cao giảm xuống còn khoảng 2% trong tổng sản lượng thuốc trừ sâu. Tỷ lệ phân bón phốt pho có hàm lượng dinh dưỡng cao trong tổng số phân bón phốt pho lên tới 90,8%. Tỷ lệ công suất sản xuất kiềm bằng phương pháp màng ion tăng lên 98,6%, còn tỷ lệ sản lượng lốp xe dạng đường kính xuyên tâm thì tăng lên 90,9%. Với những tiến bộ trong các công nghệ hóa chất từ than và quá trình khử hydro từ propan, tỷ lệ sản xuất ethylene và propylene không từ dầu mỏ đã tăng lên lần lượt 12% và 27%. Điều này giúp nâng cao khả năng cung cấp các sản phẩm hóa chất của nước ta.   3. Năng lực đổi mới sáng tạo về công nghệ được nâng cao đáng kể. Vai trò chủ đạo trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp ngày càng được củng cố, với hàng trăm trung tâm công nghệ thuộc các doanh nghiệp trong ngành hóa dầu và hóa chất đã được thành lập. Một loạt vật liệu hóa học mới như sợi carbon cường độ cao, lithium hexafluorophosphate, màng lọc thẩm thấu ngược, chất làm mềm có nguồn gốc sinh học… đã được đưa vào ứng dụng thực tế. Một số doanh nghiệp hóa chất vừa và nhỏ sở hững những công nghệ đặc biệt đang dần trở thành những đơn vị tiên phong trong lĩnh vực phát triển các vật liệu hóa học mới và các hóa chất chuyên dụng cao cấp. Công nghệ sản xuất clorua kiềm bằng màng trao đổi ion perfluoro hóa và phương pháp chế tạo cao su ướt đã đạt được những bước tiến vượt bậc, từ đó giúp xây dựng các nhà máy chuyển hóa than thành các hợp chất thơm với công suất hàng chục nghìn tấn mỗi năm. Các thiết bị công nghệ lớn trong lĩnh vực hóa dầu và hóa chất từ than như xylene đối khử và olefin từ than đã được sản xuất trong nước; một số trong số chúng đã đạt mức tiên tiến trên thế giới.   4. Công tác tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải đã đạt được kết quả tích cực. Đây là địa phương đầu tiên trên cả nước thiết lập hệ thống công bố danh sách các doanh nghiệp tiêu biểu về hiệu quả sử dụng năng lượng. Nhờ đó, đã xuất hiện một số khu công nghiệp và doanh nghiệp hoạt động theo nguyên tắc tiết kiệm tài nguyên và thân thiện với môi trường. Từ năm 2011 đến năm 2014, mức tiêu thụ năng lượng trên mỗi 10.000 đồng giá trị sản xuất của toàn ngành đã giảm tổng cộng 20%. Các mục tiêu về mức tiêu thụ năng lượng trên mỗi đơn vị sản phẩm quan trọng đều được hoàn thành. Lượng chất gây ô nhiễm chính trong ngành liên tục giảm. Vào năm 2014, mức phát thải các chất như hàm lượng oxy cần thiết cho quá trình hoá học (COD), nitơ amoniac và khí lưu huỳnh điôxít (SO2) trong ngành dầu khí và hóa chất, tính trên mỗi 10 nghìn nhân dân tệ giá trị sản xuất, lần lượt là 0,43 kg/10 nghìn nhân dân tệ, 0,07 kg/10 nghìn nhân dân tệ và 1,79 kg/10 nghìn nhân dân tệ. Con số này thấp hơn so với năm 2010 lần lượt 47,6%, 40% và 23,5%. Mức độ kiểm soát ô nhiễm trong các ngành như hóa chất từ than, thuốc trừ sâu, thuốc nhuộm đã được nâng cao hơn nữa. Tỷ lệ sử dụng hiệu quả các tài nguyên khoáng sản như quặng phốt pho cũng ngày càng tăng. Việc thải ra các kim loại nặng cũng được kiểm soát một cách hiệu quả.   5. Sự kết hợp giữa hai lĩnh vực này ngày càng được thúc đẩy mạnh mẽ hơn. Hơn 90% các doanh nghiệp sản xuất có quy mô lớn đã sử dụng hệ thống kiểm soát quy trình (PCS), giúp việc kiểm soát quy trình sản xuất được tự động hóa một cách hiệu quả. Hệ thống tối ưu hóa sản xuất (APC), hệ thống thực thi quy trình sản xuất (MES) và hệ thống quản lý kế hoạch nguồn lực doanh nghiệp (ERP) cũng đã được ứng dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp, giúp nâng cao hiệu suất sản xuất hơn nữa. Các ngành như hóa dầu, lốp xe, phân bón, hóa chất từ than đá, clorua kiềm, hóa chất flo đã tiên phong triển khai các dự án mẫu về sản xuất thông minh.   6. Kết quả hợp tác quốc tế rất đáng kể. “Trong kỳ “12.5”, mức độ mở cửa của ngành dầu khí và hóa chất đối với bên ngoài ngày càng được nâng cao. Các tập đoàn hóa chất quốc tế như BASF, Saudi Basic Industries Corporation, DuPont… đang tích cực mở rộng hoạt động kinh doanh tại Trung Quốc. Họ xây dựng các trung tâm nghiên cứu và phát triển cũng như các cơ sở sản xuất, từ đó phát triển các ngành công nghệ cao. Chất lượng sản phẩm của họ cũng được nâng cao đáng kể. Các doanh nghiệp hóa dầu và hóa chất trong nước đã thực hiện một loạt các vụ mua lại xuyên quốc gia có tác động lớn. Việc Trung Quốc mua lại các công ty như Maxim-Agan, Pirelli đã mang lại kết quả tích cực, giúp nâng cao lợi thế cạnh tranh của toàn bộ chuỗi công nghiệp trong nước. Ngành lốp xe tập trung phát triển tại các khu vực Đông Nam Á có nguồn cao su tự nhiên dồi dào, đầu tư xây dựng nhiều nhà máy. Ngành phân bón nitơ đã **chuyển giao công nghệ sản xuất amoniac tổng hợp và urê sang Bangladesh, Brazil, Việt Nam, New Zealand và các quốc gia khác. Ngành phân kali đã đầu tư hơn 20 dự án tại hơn 10 quốc gia nước ngoài, nhằm bù đắp cho tình trạng thiếu hụt nguồn cung phân kali trong nước.   (II) Các vấn đề chính: Trong kỳ “12 năm lần thứ hai”, tổng giá trị kinh tế và chất lượng phát triển của ngành dầu khí và hóa chất ở nước ta đã có những bước tiến đáng kể. Tuy nhiên, so với các nước phát triển, mức độ phát triển của ngành này vẫn còn kém.   1. Những mâu thuẫn cấu trúc khá nổi bật. Các sản phẩm truyền thống thường gặp vấn đề dư thừa công suất sản xuất; tình trạng này càng rõ rệt ở các ngành then chốt như cacbonat canxi, kiềm cao, polyvinyl clorua, phân lân và phân đạm. Tỷ lệ tự cung cấp trong nước đối với các nguyên liệu thô quan trọng như ethylene, p-xylene, ethylene glycol, cùng các vật liệu hóa học mới có tính chất công nghệ cao và các hóa chất chuyên dụng cao cấp vẫn còn thấp. Các sản phẩm cao cấp như nhựa kỹ thuật, nhựa polyolefin cao cấp, cao su đặc biệt, hóa chất dùng trong ngành điện tử vẫn phải nhập khẩu với số lượng lớn.   2. Khả năng sáng tạo trong ngành còn yếu kém. Đầu tư vào lĩnh vực công nghệ còn thấp, khả năng sáng tạo công nghệ tiên phong chưa mạnh, thiếu nguồn dự trữ về các công nghệ sáng tạo mang tính tiên phong; số lượng công nghệ cốt lõi đạt mức tiên tiến trên thế giới cũng rất ít. Khả năng phát triển các gói công nghệ cốt lõi và giải quyết các vấn đề kỹ thuật quan trọng còn yếu; việc ứng dụng các công nghệ thông tin thế hệ mới vẫn còn ở giai đoạn sơ khai. Tỷ lệ chuyển hóa các thành tựu khoa học công nghệ thành sản phẩm thực tế còn thấp, do đó sự đóng góp của đổi mới sáng tạo trong việc thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp còn hạn chế.   3. Áp lực về an toàn và môi trường khá lớn. Với sự phát triển nhanh chóng của quá trình đô thị hóa, các vấn đề như “hóa chất bao vây thành phố” và “thành phố bao vây các khu công nghiệp hóa chất” ngày càng trở nên nghiêm trọng. Thêm vào đó, một số doanh nghiệp lại thiếu ý thức về an toàn, khiến các tai nạn lao động xảy ra thường xuyên. Sự mâu thuẫn giữa sự phát triển của ngành công nghiệp hóa chất và sự phát triển của đô thị ngày càng rõ rệt. Những định kiến tiêu cực và hiệu ứng “tránh xa” cũng gây ra nhiều hạn chế cho sự phát triển của ngành này. Khi các tiêu chuẩn về ô nhiễm môi trường ngày càng được nâng cao, áp lực trong việc bảo vệ môi trường mà ngành công nghiệp phải đối mặt cũng ngày càng tăng.   4. Cơ cấu phân bố các ngành công nghiệp chưa hợp lý lắm. Số lượng các doanh nghiệp trong ngành hóa dầu và hóa chất khá nhiều, nhưng quy mô của chúng lại nhỏ; công suất sản xuất của chúng cũng được phân bố rải rác. Một số doanh nghiệp sản xuất hóa chất nguy hiểm vẫn chưa chuyển vào các khu công nghiệp hóa chất. Đồng thời, vấn đề “số lượng nhiều nhưng phân bố rải rác” tại các khu công nghiệp hóa chất khá nghiêm trọng. Một số khu công nghiệp có mức độ quy hoạch, xây dựng và quản lý còn kém; cơ sở hạ tầng phục vụ chưa đầy đủ, gây ra nhiều nguy cơ về mặt an toàn.   (III) Môi trường phát triển
Giai đoạn “Kế hoạch 5 năm lần thứ 13” là thời kỳ quan trọng để ngành công nghiệp dầu khí và hóa chất của Trung Quốc chuyển mình, phát triển thành một quốc gia mạnh về lĩnh vực sản xuất. Ngành này phải đối mặt với một môi trường phức tạp và khó khăn; các yếu tố thuận lợi và rào cản tồn tại song hành với nhau. Tiềm năng tăng trưởng và áp lực giảm sút cũng đồng thời xuất hiện.   Xét trên phạm vi quốc tế, tốc độ phục hồi của nền kinh tế thế giới vẫn còn chậm và gặp nhiều khó khăn. Những tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế vẫn còn tồn tại trong một thời gian dài, đồng thời chủ nghĩa bảo hộ thương mại ngày càng gia tăng. Mỹ đang phát triển mạnh nguồn khí đá phiến và dầu đá phiến; Iran cũng trở lại thị trường dầu thô quốc tế. Sự phát triển nhanh chóng của các công nghệ thay thế năng lượng hóa thạch đã gây ra nhiều bất ổn cho việc điều chỉnh giá dầu trên thế giới. Các nhà máy sản xuất hóa chất tại các khu vực có nguồn tài nguyên dầu khí giá rẻ như Trung Đông, Bắc Mỹ dần được đưa vào hoạt động. Do đó, trọng tâm của thị trường hóa chất toàn cầu ngày càng chuyển sang khu vực Đông Á và Nam Á. Tình trạng cạnh tranh trong một số lĩnh vực sản xuất hóa chất cũng trở nên gay gắt hơn. Đồng thời, việc triển khai sâu rộng chính sách “Một vành đai, một con đường” đã tạo ra những cơ hội mới cho các doanh nghiệp trong nước tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc tế.   Xét về mặt trong nước, kỳ “Thập kỷ thứ 13” chính là giai đoạn quyết định để xây dựng xã hội khá giả toàn diện. Với sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp hóa, số hóa, đô thị hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, cùng với việc thực hiện toàn diện các chiến lược như “Sản xuất tại Trung Quốc 2025”, sự hợp nhất khu vực Bắc Kinh – Thiên Tân – Hà Bắc, và khu vực Dải sông Dương Tử, nền kinh tế của nước ta sẽ tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho ngành hóa dầu và công nghiệp hóa học phát triển. Sự phát triển của các ngành công nghiệp mới mang tính chiến lược và ngành công nghệ quốc phòng, sự xuất hiện của những mô hình và hình thức kinh doanh mới trong lĩnh vực sản xuất, tình trạng già hóa dân số ngày càng nghiêm trọng, cùng với xu hướng cá nhân hóa và cao cấp hóa nhu cầu tiêu dùng, đều đòi hỏi có những sản phẩm hóa dầu và hóa chất chất lượng cao, an toàn và có giá cả hợp lý. Đồng thời, nền kinh tế của nước ta đang ở trong giai đoạn quan trọng, với sự thay đổi tốc độ tăng trưởng, điều chỉnh cơ cấu kinh tế và chuyển đổi nguồn lực phát triển. Ngành dầu khí và hóa chất cũng đang bước vào giai đoạn chuyển đổi, khi mà các nguồn lực phát triển mới đang được hình thành, trong khi các nguồn lực phát triển truyền thống thì dần suy yếu. Áp lực về mặt an toàn môi trường và chi phí sản xuất ngày càng trở nên nghiêm trọng. Việc thực hiện cải cách cơ cấu phía cung, nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất, cùng với việc phát triển bền vững theo hướng xanh là những nhiệm vụ rất khó khăn.   (IV) Dự báo nhu cầu: Trong giai đoạn “Kế hoạch 5 năm lần thứ 13”, nhờ vào sự phát triển ổn định của quá trình đô thị hóa mới và sự nâng cao mức tiêu dùng, nhu cầu về các sản phẩm hóa dầu và hóa chất vẫn sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh. Năm 2015, tỷ lệ đô thị hóa của Trung Quốc khoảng 56%. Dự kiến đến năm 2020, con số này sẽ vượt mức 60%. Khoảng 50 triệu người sẽ chuyển từ nông thôn sang sống ở các thành phố. Quá trình đô thị hóa và nâng cấp mức sống sẽ thúc đẩy mạnh mẽ việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng và các dịch vụ liên quan. Điều này sẽ làm tăng nhu cầu về năng lượng, vật liệu xây dựng, đồ gia dụng, thực phẩm, quần áo, ô tô và các mặt hàng tiêu dùng khác. Từ đó, nhu cầu về các sản phẩm hóa dầu và hóa chất cũng sẽ tiếp tục tăng lên. Đồng thời, vào năm 2020, Trung Quốc sẽ hoàn thành mục tiêu xây dựng xã hội khá giả toàn diện. Thu nhập bình quân đầu người sẽ tăng gấp đôi so với năm 2010; khả năng tiêu dùng của toàn xã hội sẽ tăng hơn 120%. Thói quen tiêu dùng của người dân cũng sẽ chuyển từ mức “đủ ăn, đủ mặc” sang mức “phát triển”. Nhu cầu về các sản phẩm hóa dầu chất lượng cao, an toàn và có giá cả hợp lý sẽ tăng nhanh hơn so với các ngành công nghiệp truyền thống. Lượng tiêu thụ và dự báo nhu cầu đối với các sản phẩm hóa dầu, hóa chất tiêu biểu được trình bày trong bảng sau:

**II. Tư tưởng chỉ đạo, nguyên tắc phát triển và mục tiêu kế hoạch**
**(I) Tư tưởng chỉ đạo**
Thực hiện sâu rộng tinh thần của Đảng và các kỳ họp lần thứ ba, thứ tư, thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương khóa XVIII. Xây dựng vững chắc quan điểm phát triển dựa trên các nguyên tắc sáng tạo, hài hòa, xanh, mở cửa và chia sẻ. Lấy “Trung Quốc sản xuất năm 2025” và “Chương trình chiến lược phát triển dựa trên động lực sáng tạo” làm kế hoạch hành động. Tập trung vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất, coi cải cách cơ cấu phía cung là trọng tâm. Thực hiện mạnh mẽ chiến lược phát triển dựa trên động lực sáng tạo và chiến lược phát triển bền vững theo hướng xanh. Nỗ lực cải tạo và nâng cấp các ngành công nghiệp truyền thống, đồng thời thúc đẩy việc phát triển các vật liệu hóa chất mới. Phá vỡ những rào cản kỹ thuật quan trọng, tạo ra những thương hiệu có uy tín trên trường quốc tế. Xây dựng những doanh nghiệp lớn có khả năng cạnh tranh quốc tế, các khu công nghiệp hóa chất hiện đại, cũng như những khu công nghiệp công nghệ cao lấy ngành hóa dầu, hóa chất làm trọng tâm. Nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế của ngành hóa dầu và hóa chất, giúp đất nước từ một quốc gia lớn trong lĩnh vực này trở thành một quốc gia mạnh.   (II) Các nguyên tắc phát triển 1. Kiên trì phát triển dựa trên động lực sáng tạo. Kiên trì coi đổi mới sáng tạo công nghệ là động lực hàng đầu thúc đẩy phát triển, nâng cao vai trò hỗ trợ và dẫn dắt của đổi mới sáng tạo công nghệ đối với sự phát triển của các ngành công nghiệp. Đồng thời, cần củng cố vị thế chủ đạo của các doanh nghiệp trong việc đổi mới sáng tạo công nghệ, thúc đẩy sự hợp tác đổi mới sáng tạo trong chuỗi công nghiệp. Cần tập trung phá vỡ những rào cản kỹ thuật trong lĩnh vực sản xuất thông minh và các thiết bị công nghệ cao, nhằm tạo ra nền tảng kỹ thuật vững chắc cho việc xây dựng một quốc gia mạnh về công nghiệp hóa dầu và hóa chất.   2. Kiên trì phát triển an toàn. Thực hiện triệt để chính sách quan tâm đến trách nhiệm xã hội, củng cố hệ thống trách nhiệm trong công tác an toàn sản xuất; thúc đẩy việc theo dõi toàn bộ quy trình sản xuất các chất nguy hiểm, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động trong các khu vực có mật độ dân số cao chuyển đổi mô hình kinh doanh hoặc di dời để cải tạo nhà máy của mình. Nhờ đó, mức độ an toàn của các chất nguy hiểm sẽ được nâng cao. Hoàn thiện cơ sở hạ tầng trong các khu công nghiệp hóa chất, tăng cường năng lực cơ bản về an toàn sản xuất và khả năng phòng ngừa, giảm thiểu thảm họa.   3. Kiên trì phát triển xanh. Phát triển kinh tế tuần hoàn, thúc đẩy sản xuất sạch, tăng cường nỗ lực giảm phát thải và tiết kiệm năng lượng. Ứng dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng và nước hiệu quả, ít phát thải carbon. Tìm kiếm các giải pháp thay thế cho các nguyên liệu (sản phẩm) có hại. Tăng cường kiểm soát các chất gây ô nhiễm nghiêm trọng, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và năng lượng.   4. Kiên trì phát triển tích hợp. Thúc đẩy sự kết hợp sâu rộng giữa thế hệ công nghệ thông tin mới với ngành dầu khí và hóa chất, từ đó phát triển mô hình sản xuất thông minh dựa trên các yếu tố như số hóa, kết nối mạng và trí tuệ nhân tạo. Đẩy nhanh quá trình kết hợp giữa ngành công nghiệp hóa dầu và hóa chất với các ngành dịch vụ sản xuất, thúc đẩy sự chuyển đổi từ mô hình sản xuất truyền thống sang mô hình sản xuất dựa trên dịch vụ. Đồng thời, cần phát triển các phương thức sản xuất và mô hình kinh doanh mới, nhằm mở rộng không gian phát triển cho các ngành công nghiệp này. Thúc đẩy sự kết hợp giữa quân đội và dân sự, góp phần phát triển ngành hóa dầu và hóa chất song hành cùng công nghệ quân sự và nền kinh tế quân sự.   5. Kiên trì hợp tác mở cửa. Tăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế, phối hợp hiệu quả “hai nguồn lực, hai thị trường” trong nước và quốc tế; thúc đẩy việc thu hút vốn đầu tư cũng như chuyên gia có tài năng. Hỗ trợ các doanh nghiệp có điều kiện tham gia vào việc khai thác và sử dụng các nguồn năng lượng và tài nguyên khoáng sản ở nước ngoài, tích cực tham gia vào các hoạt động mua bán và tái cơ cấu quốc tế. Xây dựng năng lực kinh doanh quốc tế, đẩy nhanh việc xây dựng các cơ sở sản xuất và khu công nghiệp tại nước ngoài, từ đó tạo ra một mô hình công nghiệp mở, với việc nhập khẩu những thứ tốt nhất và xuất khẩu những thứ tốt nhất, đồng thời kết nối giữa các yếu tố trong nước và quốc tế.   (III) Mục tiêu kế hoạch: Trong giai đoạn “Kế hoạch 5 năm lần thứ 13”, việc điều chỉnh cơ cấu và chuyển đổi mô hình phát triển của ngành công nghiệp hóa dầu và hóa chất đã đạt được những bước tiến quan trọng. Chất lượng và hiệu quả hoạt động của ngành này được nâng cao đáng kể, từ đó giúp Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành một quốc gia mạnh trong lĩnh vực hóa dầu và hóa chất.   Mục tiêu phát triển kinh tế. “Trong kỳ “13.5”, giá trị gia tăng của ngành dầu khí và hóa chất tăng trung bình 8% mỗi năm; tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh cũng tăng nhẹ, đạt 4,9% vào năm 2020.   2. Mục tiêu điều chỉnh cơ cấu. Tình trạng dư thừa công suất sản xuất các sản phẩm hóa chất truyền thống đã được giảm bớt một cách hiệu quả. Năng lực cung ứng các nguyên liệu cơ bản như olefin, aromatichydrocarbon và các vật liệu hóa chất mới cũng được nâng cao đáng kể. Sản lượng thuốc trừ sâu thân thiện với môi trường chiếm hơn 70%, trong khi tỷ trọng của các loại phân bón mới lên tới khoảng 30%. Đồng thời, đã hình thành một số tập đoàn công nghiệp lớn có khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế, cùng các khu công nghiệp hóa chất đẳng cấp thế giới. Chất lượng phát triển và khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp này cũng được nâng cao rõ rệt.   3. Mục tiêu dựa trên động lực sáng tạo. Chi phí đầu tư vào nghiên cứu khoa học chiếm 1,2% trong tổng doanh thu từ các hoạt động kinh doanh chính của toàn ngành. Hệ thống đổi mới sáng tạo thông qua sự phối hợp giữa doanh nghiệp, trường học và viện nghiên cứu ngày càng được hoàn thiện. Tại các lĩnh vực trọng yếu, đã có nhiều nền tảng đổi mới sáng tạo được xây dựng; đồng thời, nhiều công nghệ then chốt và thiết bị hiện đại cũng được phát triển. Nhờ đó, đã hình thành nên nhiều điểm tăng trưởng kinh tế mới có tiềm năng phát triển mạnh mẽ.   4. Mục tiêu phát triển xanh. “Vào cuối kế hoạch “13.5”, lượng nước sử dụng trên mỗi 10 nghìn đồng GDP giảm 23%; mức tiêu thụ năng lượng và lượng khí carbon dioxide thải ra trên mỗi 10 nghìn đồng GDP giảm 18%. Lượng chất oxy hóa hóa học và amoniac thải ra cũng giảm 10%. Lượng khí sulfur dioxide và các oxit nitơ thải ra giảm 15%. Lượng chất hữu cơ bay hơi từ các ngành công nghiệp then chốt giảm hơn 30%.   5. Mục tiêu hòa nhập giữa công nghệ số và công nghiệp hóa. Mức độ tích hợp công nghệ thông tin và công nghệ sản xuất trong các doanh nghiệp đã được nâng cao đáng kể; tỷ lệ các doanh nghiệp thực hiện được việc tích hợp toàn diện các công nghệ thông tin lên tới 35%. Hệ thống tiêu chuẩn cho các nhà máy thông minh trong lĩnh vực hóa dầu và hóa chất đã được xây dựng cơ bản; một số nhà máy thông minh và xưởng sản xuất kỹ thuật số đã được thành lập trong các lĩnh vực như hóa dầu, hóa chất từ than đá, lốp xe, phân bón, v.v. Xây dựng một số khu công nghiệp hóa chất thông minh, triển khai các dự án thí điểm về công nghệ Internet công nghiệp trong ngành hóa chất và dầu khí.   III. Các nhiệm vụ chính và các dự án trọng điểm
(1) Thực hiện chiến lược phát triển dựa trên đổi mới sáng tạo
Hoàn thiện hệ thống đổi mới công nghệ trong ngành, với doanh nghiệp làm trung tâm, thị trường làm định hướng, kết hợp giữa việc nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng công nghệ. Tăng cường sự hợp tác giữa các bên liên quan trong lĩnh vực nghiên cứu và sản xuất; đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa các công nghệ khác nhau như công nghệ chế tạo, thiết bị chuyên dụng và công nghệ thông tin. Đẩy mạnh việc đổi mới tích hợp, từ đó xây dựng được một số liên minh công nghiệp có tầm ảnh hưởng lớn. Xây dựng các nền tảng đổi mới trong các lĩnh vực trọng điểm như vật liệu hóa học mới, hóa chất tinh chế, công nghiệp hóa thạch hiện đại. Tập trung vào việc đáp ứng các nhu cầu quan trọng trong lĩnh vực công trình lớn và các lĩnh vực liên quan đến kinh tế – xã hội của đất nước; hỗ trợ việc xây dựng các nền tảng khởi nghiệp trên môi trường Internet; đồng thời nỗ lực phá vỡ những rào cản kỹ thuật và phát triển các bộ thiết bị cần thiết. Đẩy nhanh việc phát triển công nghệ ứng dụng cho các sản phẩm mới như vật liệu hóa học mới, chú trọng đến sự kết hợp với nhu cầu tiêu dùng cuối cùng, từ đó thúc đẩy việc hình thành thị trường cho các sản phẩm mới. Tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đầu tư nhiều hơn vào việc đào tạo và thu hút nhân tài, từ đó tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho việc khởi nghiệp và sáng tạo của mọi người. Chuyên mục 1: Các lĩnh vực và hướng ưu tiên trong đổi mới công nghệ
Cần tăng cường các tiêu chuẩn ngành; đồng thời nâng cao công tác xây dựng tiêu chuẩn cho các loại vật liệu hóa học mới như nhựa kỹ thuật, hóa chất đặc biệt, v.v. Cần xây dựng các tiêu chuẩn cho thế hệ hóa chất thân thiện với môi trường mới (như thuốc trừ sâu hiệu quả nhưng ít độc hại, chất nhuộm an toàn, sơn và keo thân thiện với môi trường, lốp xe xanh, v.v.). Ngoài ra, cần đẩy nhanh việc nghiên cứu các tiêu chuẩn đánh giá sản phẩm xanh, doanh nghiệp xanh và khu công nghiệp xanh. Kết hợp với việc xây dựng “Vành đai và Con đường”, cần tăng cường công tác xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế trong các lĩnh vực như cao su, nhựa, phân bón, sơn phủ, v.v.   Việc ứng dụng và phát triển các công nghệ cốt lõi quan trọng như: phương pháp xúc tác không chứa thủy ngân để tổng hợp vinyl clorua và butadien thành adiponitrile; phương pháp tổng hợp methyl methacrylate từ ethylene carbonyl; phương pháp oxy hóa trực tiếp chloroprene để tạo ra epichlorohydrin; thiết kế và sản xuất lốp xe tiết kiệm năng lượng và an toàn cao; chế tạo và ứng dụng các màng chức năng cùng các linh kiện liên quan; xử lý nước thải có hàm lượng muối và phen cao; chuyển đổi methanol thành các hợp chất thơm; chuyển đổi khí tổng hợp thành ethylene glycol dùng trong ngành polyester; quy trình methan hóa khí tổng hợp với công suất 1 tỷ mét khối/năm; các loại thuốc trừ sâu mới như methidathion; công nghệ thiết kế và chế tạo vật liệu composite dựa trên nhựa; cũng như việc sản xuất công nghiệp các sợi carbon có độ bền cao. Thúc đẩy nghiên cứu và phát triển các công nghệ như chuyển hóa khí tổng hợp trực tiếp thành olefin, chuyển hóa metan trực tiếp thành olefin.   Các công nghệ và thiết bị quan trọng bao gồm: bộ thiết bị pha trộn dầu thô và dầu đã chế biến trực tuyến; bộ thiết bị hấp phụ và tách p-xylene với khả năng xử lý hàng triệu tấn mỗi năm; nhà máy trộn, ép và tạo hạt polyethylene với công suất 300.000 tấn/năm trở lên; bộ thiết bị xử lý than cấp thấp thành dạng chất lượng cao (bằng phương pháp thủy phân) với khả năng xử lý hàng triệu tấn mỗi năm; lò gas hóa than có khả năng xử lý 3.000 tấn than mỗi ngày trở lên; lò gas hóa bột than có khả năng xử lý 4.000 tấn than mỗi ngày trở lên; các công nghệ và thiết bị dùng để tổng hợp amoniac và methanol với sản lượng hàng triệu tấn mỗi năm; các nhóm máy nén khí hiệu suất cao, thông minh; máy nén khí tự nhiên có công suất lớn, các thiết bị làm lạnh áp suất cao, máy điện chống nổ, và các thiết bị khác dùng để lỏng hóa khí tự nhiên.   (II) Thúc đẩy quá trình chuyển đổi và nâng cấp các ngành công nghiệp truyền thống. Cần kiểm soát chặt chẽ việc tăng công suất sản xuất trong các ngành có sự dư thừa như urê, phốtphat amoni, than chì, kiềm cao, polyvinyl clorua, soda cao, phốtpho vàng… Đối với các dự án cải tiến công nghệ phù hợp với các yêu cầu của chính sách, cần thực hiện việc thay thế bằng lượng tương đương hoặc ít hơn. Cần tìm cách xây dựng các cơ chế pháp lý và thị trường để loại bỏ những nguồn sản xuất lạc hậu. Đồng thời, cần hướng dẫn các doanh nghiệp tiến hành việc sáp nhập và tái cơ cấu. Cần tận dụng cơ chế cạnh tranh “ai mạnh thì sống, ai yếu thì bị loại bỏ” của thị trường, cũng như các biện pháp liên quan đến an toàn, bảo vệ môi trường, tiết kiệm năng lượng và giá cả, nhằm thúc đẩy việc loại bỏ những nguồn sản xuất lạc hậu và kém hiệu quả. Điều này sẽ tạo ra nhiều cơ hội hơn cho những nguồn sản xuất tiên tiến. Sử dụng các công nghệ tiên tiến như sản xuất sạch để cải tạo và nâng cấp các thiết bị sản xuất hiện có, giảm mức tiêu thụ, giảm lượng khí thải, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh tổng thể và khả năng phát triển bền vững. Tăng cường nghiên cứu và phát triển ứng dụng, mở rộng các lĩnh vực tiêu dùng cho các sản phẩm truyền thống, nhằm tăng khối lượng tiêu thụ. Tăng cường nhận thức về thương hiệu, nâng cao chất lượng sản phẩm, hoàn thiện hệ thống quản lý thương hiệu, từ đó xây dựng một loạt các thương hiệu quốc tế có uy tín và danh tiếng cao. Tích hợp và tối ưu hóa hệ thống dịch vụ sản xuất, tập trung phát triển các ngành dịch vụ sản xuất hiện đại như dịch vụ công nghệ, nghiên cứu và thiết kế, thầu xây dựng, dịch vụ thông tin, dịch vụ bảo vệ môi trường, cho vay tài chính, nhằm cung cấp các dịch vụ có tính xã hội hóa và chuyên nghiệp cho ngành công nghiệp. Chuyên mục 2: Các dự án nâng cao chất lượng và hiệu quả trong ngành hóa chất truyền thống. Trong lĩnh vực sản xuất clorua vinyl, cần loại bỏ hoàn toàn các thiết bị sử dụng chất xúc tác chứa thủy ngân để tổng hợp clorua vinyl. Đồng thời, cần phát triển công nghệ tổng hợp clorua vinyl từ acetylen và dichloroethane một cách có kiểm soát. Ngoài ra, cần đẩy nhanh việc nghiên cứu phát triển các chất xúc tác không chứa thủy ngân, nhằm giảm lượng chất thải chứa thủy ngân. Khuyến khích ứng dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng mới như cực điện tử có khoảng cách bằng không, cực oxy, nhằm giảm mức tiêu thụ năng lượng trong ngành. Khuyến khích phát triển các sản phẩm clo cao cấp và tinh xảo, đồng thời nâng cao mức độ tận dụng hiệu quả khí hydro clorua – sản phẩm phụ từ việc sử dụng clo.   Ở những khu vực có điều kiện phù hợp, nên áp dụng công nghệ sản xuất muối từ các chất halogen.   Ket cacbonat canxi được sử dụng để thúc đẩy việc nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ mới trong lĩnh vực hóa chất từ acetylen, như các lò sản xuất ket cacbonat canxi bằng phương pháp oxy-điện, việc tận dụng khí thải từ lò để sản xuất các hóa chất có giá trị cao, cũng như việc tận dụng triệt để nhiệt thừa. Ngoài ra, người ta cũng nỗ lực quảng bá việc sử dụng amoniac canxi như một loại thuốc trừ sâu và phân bón thân thiện với môi trường.   Muối vô cơ: Phát triển và ứng dụng các công nghệ sản xuất sạch tiên tiến, tạo ra các sản phẩm muối vô cơ chất lượng cao dùng trong ngành thực phẩm và điện tử; đồng thời tăng cường việc tận dụng nhiệt thải từ các quy trình xử lý muối vô cơ như nung ở nhiệt độ cao.   Sơn: Tăng cường nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các sản phẩm sơn thân thiện với môi trường; đẩy nhanh việc phát triển và đưa vào sản xuất các loại sơn chuyên dụng dùng trong các lĩnh vực cao cấp như hàng không vũ trụ; đồng thời áp dụng quy trình sản xuất sơn khép kín, hiệu quả.   Nhuộm màu: Nâng cao quy trình sản xuất sạch các loại thuốc nhuộm và các chất trung gian liên quan, đồng thời phát triển và ứng dụng các công nghệ xử lý “ba loại chất thải” hiệu quả. Cải tiến các kỹ thuật sử dụng thuốc nhuộm cùng các chất phụ trợ đi kèm, nhằm nâng cao giá trị dịch vụ trong ngành công nghiệp thuốc nhuộm.   Phát triển các loại lốp có hiệu suất cao như lốp dùng trong ngành hàng không, lốp thân thiện với môi trường, lốp dùng cho nông nghiệp; đồng thời phát triển các nguyên liệu phụ trợ như chất làm giảm lực cản khi lăn, sợi dây thép có độ bền cực cao, than đen được phân tán tốt cùng các chất pha loãng. Khuyến khích việc sử dụng các quy trình tiết kiệm năng lượng như quy trình sản xuất cao su bằng phương pháp ướt và quy trình lưu hóa ở nhiệt độ cao với khí nitơ. Đồng thời xây dựng các trung tâm thử nghiệm lốp. Chuyên mục 3: Dự án nâng cấp và tối ưu hóa các hóa chất sử dụng trong nông nghiệp. Trong ngành phân bón nitơ, cần điều chỉnh cơ cấu nguyên liệu và năng lượng được sử dụng; cần phát triển việc sản xuất phân bón từ than nâu, than đen và các loại than có chất lượng thấp khác. Về nguyên tắc, không nên xây dựng thêm các nhà máy sản xuất amoniac từ than antraxit và khí tự nhiên nữa ; Tận dụng lợi thế công nghiệp để phát triển và xây dựng các chuỗi công nghiệp mới như công nghiệp hóa chất từ khí carbon monoxide ; Mở rộng mạnh mẽ ứng dụng công nghiệp của các sản phẩm phân đạm. Ngành phân bón phốt pho cần xây dựng các chuỗi công nghiệp mới như hóa chất phốt pho chất lượng cao, quá trình tinh chế axit photphoric bằng phương pháp ướt và các quy trình chế biến sâu hơn nữa ; Tăng cường việc sử dụng quặng phốt pho có chất lượng thấp ; Nâng cao mức độ tận dụng toàn diện các nguồn tài nguyên đi kèm với quặng phốt pho. Ngành phân bón kali cần tăng cường việc khai thác các nguồn kali ở nước ngoài, nhằm nâng cao khả năng đảm bảo nguồn nguyên liệu ; Nâng cao mức độ tận dụng toàn diện các nguồn tài nguyên đi kèm với quặng kali. Khuyến khích phát triển các loại phân bón mới, hiệu quả và thân thiện với môi trường; trọng tâm là các loại phân bón tăng hiệu suất cây trồng, phân bón giải phóng chậm/khống chế việc giải phóng chất dinh dưỡng, phân bón hòa tan trong nước, phân bón dạng lỏng, và các loại phân bón chứa vi lượng ; Dựa trên các yếu tố về nguyên liệu, thị trường và logistics, cần tối ưu hóa cơ cấu của ngành phân bón, đồng thời đẩy mạnh việc tập trung công suất sản xuất vào các khu vực có nguồn năng lượng dồi dào hoặc các vùng trồng trọt chính.   Phát triển các loại thuốc bảo vệ thực vật hiệu quả, an toàn, tiết kiệm chi phí và thân thiện với môi trường; từ đó loại bỏ dần những loại thuốc bảo vệ thực vật có độc tính cao, gây tồn dư nhiều trong môi trường và tạo ra nhiều rủi ro cho môi trường. Đồng thời, cần tối ưu hóa cơ cấu các sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật ; Phát triển các chế phẩm thuốc trừ sâu thân thiện với môi trường cùng các chất phụ trợ mới đi kèm, tập trung vào việc phát triển các dạng thuốc dạng hạt tan trong nước, dạng hỗn dịch lơ lửng, dạng emulgel, dạng vi nang và dạng hạt lớn, nhằm thay thế các loại thuốc dạng dầu, dạng bột và dạng bột ướt ; Thúc đẩy việc thu hồi và xử lý an toàn bao bì thuốc trừ sâu ; Phát triển và áp dụng các quy trình sản xuất sạch tiên tiến cho thuốc trừ sâu và các chất trung gian liên quan, cũng như các công nghệ xử lý chất ô nhiễm hiệu quả, nhằm nâng cao mức độ bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất thuốc trừ sâu ; Đẩy nhanh việc tạo ra các loại thuốc trừ sâu mới có bản quyền sở hữu trí tuệ độc lập và đưa chúng vào ứng dụng thực tế. Mở rộng thị trường các loại thuốc trừ sâu dùng cho mục đích vệ sinh và các loại thuốc trừ sâu không dùng trong nông nghiệp ; Thúc đẩy việc sáp nhập và tái cơ cấu các doanh nghiệp sản xuất thuốc trừ sâu, nhằm nâng cao mức độ tập trung của ngành. Chuyên mục 4: Dự án phát triển xanh – Sản xuất sạch. Thực hiện các biện pháp toàn diện nhằm kiểm soát các chất hữu cơ dễ bay hơi (VOCs); đồng thời đẩy nhanh việc thay thế các chất dung môi hữu cơ trong lĩnh vực sơn phủ, keo dán, thuốc trừ sâu, và cải tạo quy trình sản xuất sao cho có tính kín khít hơn. Phát triển và quảng bá các công nghệ thay thế cho các nguyên liệu có độc tính cao như phosgene, đồng thời khuyến khích việc sử dụng các quy trình sản xuất sạch như khử hydro bằng xúc tác, nit hóa trong điều kiện cách nhiệt. Loại bỏ các loại sơn chứa chì, các sản phẩm có nguy cơ cao cần được loại bỏ theo yêu cầu của kế hoạch tổng thể nhằm thực hiện các công ước quốc tế; đồng thời loại bỏ các quy trình gây ô nhiễm nghiêm trọng như việc sản xuất kali permanganat bằng phương pháp lò điện, sản xuất khí disulfua carbon bằng phương pháp chế tạo than cốc gián đoạn, và sản xuất natri dichromat bằng phương pháp nung với canxi.   Kinh tế tuần hoàn thúc đẩy việc sử dụng toàn diện các loại chất thải rắn như thạch canxi photphat, thạch canxi flo, xỉ lò sản xuất khí, xỉ than chì, xỉ kiềm, v.v. Đồng thời, khuyến khích việc sử dụng khí từ lò nung than, khí từ lò sản xuất than chì, khí thải từ quá trình sản xuất phốt pho vàng để sản xuất hóa chất. Phát triển và quảng bá các công nghệ xử lý cũng như tái sử dụng nước thải từ các ngành như hóa chất than, thuốc nhuộm, thuốc trừ sâu. Phát triển và quảng bá các công nghệ tái chế các chất hữu cơ như nhựa thải, lốp xe, v.v. Thúc đẩy việc ứng dụng khí carbon dioxide trong các lĩnh vực như khai thác dầu mỏ, tổng hợp hóa chất hữu cơ, nuôi cấy tảo vi mô. Tăng cường việc tận dụng tổng hợp nhiệt thừa từ các thiết bị công nghệ hoạt động ở nhiệt độ cao và có khả năng phát ra nhiều nhiệt. Tăng cường việc nghiên cứu, phát triển và ứng dụng rộng rãi các sản phẩm xanh như nhựa có thể phân hủy được.   Các thiết bị công nghệ tiết kiệm năng lượng: Cần đẩy mạnh việc ứng dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng như kỹ thuật truyền chất trong môi trường trọng lực cực cao, kỹ thuật chiết xuất siêu tới hạn, v.v. Đồng thời, cần phổ biến rộng rãi các loại máy điện sử dụng nam châm vĩnh cửu không có lõi sắt, roto bằng đồng dùng trong máy điện, các loại máy điện ba pha cỡ nhỏ và trung bình có hiệu suất cao, các thiết bị dùng để cân bằng hệ thống nước và hơi trong lò hơi cũng như tái sử dụng nhiệt, các bộ trao đổi nhiệt hiệu quả cao, máy nén vít dùng để tạo điện từ nhiệt thải ở nhiệt độ thấp, cùng các thiết bị dùng để tái sử dụng hơi thải và nước ngưng tụ.   (III) Phát triển vật liệu hóa học mới
Xung quanh các lĩnh vực như hàng không vũ trụ, thiết bị cao cấp, công nghệ thông tin, năng lượng mới, ô tô, giao thông đường sắt, bảo vệ môi trường, y tế sức khỏe, cũng như quốc phòng và công nghiệp quân sự, cần phát triển các vật liệu có khả năng giảm trọng lượng, chịu được áp lực cao, chịu nhiệt tốt, ổn định, có khả năng giảm chấn và đảm bảo tính kín khít. Đồng thời, cần nâng cao công nghệ sản xuất nhựa kỹ thuật, đẩy nhanh việc phát triển các sản phẩm cao cấp như sợi carbon hiệu suất cao, vật liệu composite, cao su đặc biệt, graphene, v.v., đồng thời tăng cường nghiên cứu ứng dụng của chúng. Nâng cao trình độ công nghệ các hóa chất điện tử phục vụ cho ngành công nghiệp thông tin điện tử và năng lượng mới. Phát triển các vật liệu màng chức năng dùng cho xử lý nước, cải tạo công nghệ truyền thống và năng lượng mới. Tập trung phát triển các loại chất làm mềm có nguồn gốc sinh học mới và các vật liệu polyme có khả năng phân hủy. Chuyên mục 5: Dự án phát triển đổi mới vật liệu hóa học mới
Các loại nhựa kỹ thuật: Nâng cao công nghệ sản xuất các loại nhựa như polyaryl ether ketone/cyanide, PCT/PBT resin, polyphenylene sulfide, nylon kỹ thuật, polyimide, v.v. Đồng thời, tăng tốc việc phát triển các loại nylon có chuỗi carbon dài, nylon chịu nhiệt cao, polyester không tinh thể (PETG), cùng các sản phẩm được cải tiến từ polyoxymethylen có hiệu suất cao.   Vật liệu fluorosilicon góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa các monome silicon có nhóm phenyl. Ưu tiên phát triển các polyme fluorosilicon cao cấp (nhựa fluorosilicon, cao su fluorosilicon), các vật liệu màng chức năng chứa fluor, cùng các hóa chất tinh khiết chứa fluor và silic (hóa chất điện tử có độ tinh khiết cao, chất hoạt động bề mặt chứa fluor và silic, các chất trung gian chứa fluor và silic, v.v.). Đồng thời, cần đẩy nhanh việc phát triển các chất thay thế cho các chất gây phá hủy tầng ozone có hiệu ứng nhà kính ở nhiệt độ thấp.   Sợi hiệu suất cao: Tập trung phát triển các sản phẩm cao cấp như sợi carbon có độ bền và độ đàn hồi cao, sợi aramid, sợi polyethylene có khối lượng phân tử cực cao, sợi polyphenylene sulfide, sợi polyimide, sợi polyethylene terephthalate, v.v. Tập trung phá vỡ các rào cản kỹ thuật liên quan đến việc sản xuất sợi carbon cường độ cao với chi phí thấp, một cách ổn định và trên quy mô lớn; đồng thời đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa sợi carbon cường độ trung bình và cường độ cao. Đẩy nhanh việc phát triển các nguyên liệu phụ trợ như polyphenylene sulfide cấp sợi, propylene glycol được sản xuất bằng phương pháp sinh học, và nhựa polyethylene terephthalate propylene glycol.   Vật liệu màng chức năng: Tập trung phát triển các loại màng tách hiệu suất cao dành cho các lĩnh vực như hóa dầu, luyện kim, kỹ thuật sinh học, nhằm nâng cao các thông số kỹ thuật như điện trở của màng ion và điện áp xuyên màng trong ngành công nghiệp clorua kiềm, đưa chúng lên mức tiên tiến trên thế giới. Thúc đẩy việc ứng dụng thực tế các màng nhiên liệu và các thiết bị màng hai cực hiệu suất cao dùng trong công nghiệp. Phát triển các thiết bị khử nước bằng phương pháp thẩm phân và điện thẩm phân có chi phí thấp nhưng hiệu suất cao, nhằm ứng dụng chúng trên quy mô công nghiệp. Phát triển các loại màng ngăn pin lithium-ion cao cấp, vật liệu màng đóng gói mềm, màng nền từ polyvinyl fluoride (PVF) và polyvinylidene fluoride (PVDF), màng trao đổi proton chứa flo, cùng các tấm lọc ánh sáng dùng cho màn hình TFT-LCD.   Hóa chất điện tử: Phát triển các hóa chất điện tử dùng cho việc chế tạo mạch tích hợp, tập trung vào việc phát triển keo in ở cấp độ 248nm và 193nm, các chất reagent có độ tinh khiết cao ở cấp độ PPT, cùng các vật liệu đóng gói bằng polyimide và epoxy lỏng. Phát triển các loại nhựa epoxy đặc biệt, nhựa polyimide, nhựa polyphenylene ether có tính chất cứng dùng để chế tạo các tấm bảng mạch in; đồng thời phát triển các loại vật liệu khác như màng polyimide, màng polyester đặc biệt và sơn dẫn điện dùng để chế tạo các tấm bảng mạch mềm. Phát triển vật liệu tinh thể lỏng dùng cho màn hình phẳng. Phát triển các loại chất điện phân mới như lithium bis(fluorosulfonylimide) dùng cho pin năng lượng mới, cùng các loại dung môi điện phân mới như ethylene carbonate fluorinated.   Vật liệu có nguồn gốc sinh học thúc đẩy việc sử dụng chất làm mềm có nguồn gốc sinh học thay thế cho các chất làm mềm thuộc nhóm phenoxy. Đẩy nhanh việc phát triển các polyme có nguồn gốc sinh học như polyhydroxyalkanoate (PHA), polycaprolactone (PPC), các copolyme từ axit béo và rượu có nguồn gốc sinh học, các rượu đa chức và polyurethane, cũng như nylon có nguồn gốc sinh học. Ethanol từ cellulose với chi phí thấp cùng các sản phẩm quan trọng khác như ethylene có nguồn gốc sinh học đã đạt được những tiến bộ đáng kể, giúp thay thế một phần nguyên liệu dầu mỏ.   Vật liệu in 3D: Đẩy nhanh việc phát triển các loại nhựa nhạy sáng dùng cho công nghệ in 3D, cùng các vật liệu composite bằng nylon được tăng cường bằng sợi carbon (chịu được nhiệt độ trên 200°C), nhựa mềm có màu sắc, và vật liệu PC-ABS – những loại nhựa kỹ thuật có khả năng chịu nhiệt cao và độ bền cao. Nâng cao trình độ công nghệ in 3D như in kết dính bằng ánh sáng (SLA), in rót chảy (FDM), gia công kết tụ bằng laser theo vùng (SLS), in ba chiều (3DP), và in phun vật liệu.   (IV) Thúc đẩy sự kết hợp sâu rộng giữa công nghệ thông tin và công nghiệp hóa chất. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cho các xưởng sản xuất thông minh, nhà máy thông minh trong ngành hóa chất, cũng như các khu công nghiệp hóa chất thông minh; đồng thời đẩy nhanh việc triển khai các mô hình mẫu về nhà máy thông minh và khu công nghiệp hóa chất thông minh. Thúc đẩy ứng dụng công nghiệp Internet, thương mại điện tử và logistics thông minh, nhằm hiện đại hóa toàn bộ chuỗi hoạt động trong ngành hóa dầu và hóa chất, bao gồm việc nghiên cứu phát triển, thiết kế, mua sắm vật tư, kiểm soát sản xuất, quản lý kinh doanh, tiếp thị… Đồng thời, thúc đẩy các doanh nghiệp chuyển đổi thành các doanh nghiệp dựa trên dịch vụ và công nghệ thông minh. Xây dựng mô hình phát triển mới cho sự kết hợp giữa ngành công nghiệp hóa dầu và hóa chất với Internet. Xây dựng hệ thống phối hợp thông minh bao phủ toàn bộ quy trình sản xuất và toàn bộ chuỗi kinh doanh trong ngành hóa dầu. Trong ngành lọc hóa dầu, trọng tâm là thúc đẩy việc tối ưu hóa một cách phối hợp các khâu như pha trộn dầu thô, chế biến dầu mỏ, lưu trữ và vận chuyển, cũng như chuỗi cung ứng dịch vụ bán hàng. Xây dựng hệ thống giám sát quy trình sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu, sơn phủ, v.v., cùng hệ thống theo dõi nguồn gốc sản phẩm. Sử dụng các công nghệ thông tin như mạng Internet của vạn vật, công nghệ nhận diện bằng tần số vô tuyến, mã mã hóa sản phẩm, để xây dựng hệ thống mã hóa sản phẩm cho các doanh nghiệp sản xuất, đồng thời tạo lập cơ sở dữ liệu để theo dõi nguồn gốc sản phẩm. Triển khai tích cực các hoạt động “Internet + vật tư nông nghiệp”, khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng cơ sở dữ liệu về thông tin của nông dân, nâng cao chất lượng dịch vụ nông hóa, từ đó thúc đẩy sự phối hợp giữa nguồn cung và nhu cầu. Phát triển các mô hình kinh doanh mới như thương mại điện tử cho ngành nông nghiệp. Chuyên mục 6: Công trình sản xuất thông minh trong lĩnh vực hóa dầu và hóa chất – Hệ thống tiêu chuẩn áp dụng. Nhằm nâng cao chất lượng vật liệu và kiểm soát chất lượng, đảm bảo an toàn trong sản xuất cũng như giảm thiểu phát thải, quản lý nguyên vật liệu và chuỗi cung ứng sản phẩm, cần nhanh chóng xây dựng và ban hành một loạt tiêu chuẩn liên quan đến việc thu thập, truyền tải, trao đổi dữ liệu và các tiêu chuẩn về an ninh thông tin; đồng thời cũng cần có các tiêu chuẩn về giám sát thông minh, mã hóa và ứng dụng tem điện tử. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cho các nhà máy thông minh trong ngành dầu khí và hóa chất.   Thí điểm nhà máy thông minh: Hơn 80 nhà máy thông minh đã được xây dựng trong ngành hóa dầu và hóa chất, nhằm nâng cao mức độ tự động hóa của các doanh nghiệp trong các lĩnh vực như phân bổ nguồn lực, tối ưu hóa quy trình sản xuất, kiểm soát quy trình, quản lý chuỗi cung ứng, kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc, quản lý nhu cầu năng lượng, giảm thiểu ô nhiễm và đảm bảo an toàn lao động.   Phát triển và ứng dụng công nghệ công nghiệp: Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn hóa trên môi trường Internet trong ngành hóa dầu và hóa chất; đồng thời thúc đẩy việc nghiên cứu và phát triển các phần mềm nền tảng công nghiệp có bản quyền sở hữu trí tuệ riêng, bao gồm nền tảng điện toán công nghiệp, nền tảng dữ liệu lớn công nghiệp, nền tảng kỹ thuật số ba chiều, nền tảng kết nối Internet vạn vật, cũng như các công cụ tối ưu hóa quy trình sản xuất. Phát triển các thiết bị di động thông minh có bản quyền sở hữu trí tuệ riêng, dùng cho việc kiểm tra từ xa, thực hiện các công việc di động, giám sát khí độc hại, chỉ huy trong tình huống khẩn cấp, quản lý kho hàng thông minh, v.v.   Phát triển logistics thông minh và thương mại điện tử, hỗ trợ sự phát triển của các nền tảng thương mại điện tử quy mô lớn như các sàn giao dịch hàng hóa có sẵn, đồng thời tạo ra những mô hình kinh doanh mới. Khuyến khích các hiệp hội ngành nghề, các công ty thương mại điện tử và các doanh nghiệp sản xuất vật tư nông nghiệp cùng nhau xây dựng nền tảng thương mại điện tử dành cho vật tư nông nghiệp. Thúc đẩy sự phát triển của việc quản lý thông tin trong lĩnh vực vận chuyển sản phẩm hóa chất.   (V) Tăng cường quản lý an toàn đối với các chất nguy hiểm. Cần phải kết hợp chặt chẽ việc phát triển công nghiệp với quy hoạch xây dựng đô thị, tối ưu hóa việc quy hoạch và bố trí các nhà máy sản xuất chất nguy hiểm. Đồng thời, cần thúc đẩy việc di dời và cải tạo các nhà máy sản xuất chất nguy hiểm ở những khu vực có mật độ dân số cao trong các thị trấn và thành phố. Đẩy nhanh việc loại bỏ các sản phẩm và quy trình có mức độ rủi ro cao, đồng thời nâng cao mức độ tự động hóa trong các quy trình nguy hiểm cũng như chất lượng quản lý an toàn của doanh nghiệp. Thực hiện Hệ thống phân loại và ghi nhãn hóa chất toàn cầu (GHS), xây dựng nền tảng thông tin tổng hợp để giám sát an toàn các hóa chất nguy hiểm trong toàn bộ chuỗi sản xuất, triển khai các dự án thí điểm về quản lý các hóa chất nguy hiểm trong suốt vòng đời của chúng, nhằm nâng cao mức độ an toàn vốn có của các hóa chất này. Chuyên mục 7: Dự án nâng cao mức độ an toàn vốn có của các hóa chất nguy hiểm. Các doanh nghiệp sản xuất hóa chất nguy hiểm cần được di dời và cải tạo. Điều này nhằm thúc đẩy việc di dời các doanh nghiệp này khỏi những khu vực có mật độ dân số cao, nơi mà khoảng cách an toàn và các biện pháp bảo vệ môi trường không đáp ứng được các yêu cầu quy định, đồng thời cũng không phù hợp với quy hoạch đô thị.   Cải tạo thông minh: Khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất hóa chất nguy hiểm thực hiện việc cải tạo theo hướng số hóa và thông minh, nhằm nâng cao mức độ an toàn vốn có của chúng.   Xây dựng nền tảng giám sát tổng hợp: Theo các tiêu chuẩn, quy định và mô hình thống nhất, tích hợp và lưu trữ dữ liệu liên quan đến vòng đời của các chất nguy hiểm, cũng như dữ liệu cần thiết cho công tác giám sát của các bộ phận khác nhau. Từ đó xây dựng trung tâm dữ liệu về hóa chất ở cấp độ cao, tạo ra hệ thống ứng dụng giám sát an toàn chất nguy hiểm bao phủ toàn bộ quy trình.   Thực hiện Hệ thống phân loại và ghi nhãn hóa chất toàn cầu (GHS), tăng cường sự phối hợp giữa các bộ ngành, soạn thảo và sửa đổi các quy định pháp luật cũng như tiêu chuẩn liên quan đến GHS, đồng thời tăng cường việc giám sát và quản lý việc áp dụng GHS trong các doanh nghiệp.   (6) Quy chuẩn hóa việc xây dựng các khu công nghiệp hóa chất: Tăng cường công tác quy hoạch và xây dựng các khu công nghiệp hóa chất, đồng thời sắp xếp chúng một cách khoa học. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá để quản lý việc xây dựng các khu công nghiệp hóa chất một cách có quy định; tiến hành thanh lọc và sắp xếp lại các khu công nghiệp hóa chất hiện có. Đối với những khu công nghiệp không đáp ứng các yêu cầu quy định, cần tiến hành cải tạo hoặc buộc chúng phải ngừng hoạt động theo quy định của pháp luật. Tiến hành đánh giá rủi ro định lượng đối với các khu công nghiệp hóa chất và các khu vực có nguy cơ cao liên quan đến hóa chất nguy hiểm, nhằm xác định một cách khoa học mức độ rủi ro và khả năng chịu đựng rủi ro của từng khu vực. Hỗ trợ các khu công nghiệp hóa chất triển khai các dự án thí điểm về khu công nghiệp hóa chất thông minh. Chuyên mục 8: Dự án cải tạo và nâng cấp khu công nghiệp hóa chất – Các công trình dùng để cải thiện mức độ an toàn và bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp. Đó là việc xây dựng các trạm xử lý chất nguy hiểm, nhà máy xử lý nước thải, cơ sở xử lý rác thải chứa chất nguy hiểm, các đường ống dẫn công cộng, các bể chứa dùng trong trường hợp khẩn cấp, cùng các cơ sở quản lý xe chở chất nguy hiểm (bao gồm bãi đỗ xe dành riêng cho xe chở chất nguy hiểm và các thiết bị giám sát giao thông dành cho xe này).   Trung tâm ứng phó khẩn cấp và chỉ huy cứu hộ: Xây dựng hệ thống giám sát và cảnh báo trong khu công nghiệp (bao gồm hệ thống quản lý khu công nghiệp kín dựa trên các thiết bị quản lý xe chở hàng hóa nguy hiểm), hệ thống ứng phó khẩn cấp, và trung tâm chỉ huy cứu hộ.   Khu công nghiệp hóa chất thông minh với quản lý rủi ro tích hợp an toàn và bảo vệ môi trường – Là hệ thống quản lý thông minh dựa trên công nghệ Internet of Things, dữ liệu lớn và điện toán đám mây, nhằm tổng hợp các thông tin về các nguồn lực quan trọng cả bên trong lẫn bên ngoài khu công nghiệp. Ngoài ra, còn có các cơ sở hạ tầng cần thiết để hỗ trợ hoạt động bình thường của các hệ thống này.   Xây dựng 5–8 khu mô hình công nghiệp hóa hiện đại, với ngành công nghiệp chủ đạo là hóa dầu và hóa chất, có tầm ảnh hưởng toàn cầu. Đồng thời, xây dựng một số khu công nghiệp chuyên về hóa chất có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.   (7) Thúc đẩy xây dựng các dự án trọng điểm: Cần xem xét toàn diện các yếu tố như nguồn cung nguyên liệu, khả năng chứa đựng môi trường, an ninh, cơ sở công nghiệp, từ đó thúc đẩy một cách có trật tự việc xây dựng 7 khu công nghiệp hóa dầu lớn cùng các dự án trọng điểm khác. Điều này giúp nâng cao khả năng cung cấp các sản phẩm cơ bản như olefin, aromatic hydrocarbons, đồng thời nâng cao mức độ tích hợp trong quá trình chế biến dầu mỏ. Đẩy nhanh việc nâng cấp các nhà máy sản xuất ethylene hiện có, tối ưu hóa cơ cấu nguyên liệu, đạt được quy mô kinh tế hiệu quả, nâng cao mức độ chế biến sâu, từ đó tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Đẩy nhanh việc xây dựng các dự án về hợp chất thơm, nhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt nguồn cung. Ở các khu vực thuộc miền Trung và Tây Bắc có điều kiện tài nguyên và môi trường phù hợp, cần kết hợp việc phát triển các cơ sở khai thác than quy mô lớn với việc tuân thủ các yêu cầu về môi trường. Cần từng bước triển khai các dự án liên quan đến công nghệ hóa chất từ than hiện đại, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đồng thời, cần nâng cao khả năng cạnh tranh của các nhà máy khai thác than, góp phần vào việc sử dụng nguồn tài nguyên than một cách sạch sẽ và hiệu quả. Chuyên mục 9: Dự án tăng cường bảo đảm cho các sản phẩm cơ bản – Các loại hydrocarbon: Đẩy nhanh việc xây dựng các nhà máy hóa dầu quy mô lớn, thực hiện việc chuyển đổi nguyên liệu ethylene thành dạng nhẹ hơn, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các nhà máy này. Tiến hành các dự án mẫu nhằm nâng cấp quy trình sản xuất olefin từ than đá; tận dụng một cách hiệu quả cả nguồn tài nguyên trong nước lẫn quốc tế. Phát triển một cách vừa phải việc sản xuất olefin từ methanol và propylene từ quá trình khử hydro của propan. Nhờ đó, tỷ lệ các sản phẩm không có nguồn gốc từ dầu mỏ trong sản lượng ethylene và propylene sẽ tăng lên, từ đó nâng cao khả năng đảm bảo nguồn cung.   Theo yêu cầu của kế hoạch phát triển ngành hóa dầu, cần đẩy nhanh sự phát triển của ngành hóa dầu chứa các hợp chất thơm ; Thúc đẩy mạnh mẽ việc ứng dụng công nghệ chuyển hóa than thành các hợp chất thơm vào sản xuất công nghiệp, đồng thời đa dạng hóa các nguồn nguyên liệu sử dụng ; Thúc đẩy xây dựng cơ sở công nghiệp tích hợp các chất aromatic, ethylene glycol và polyester.   Nguyên liệu hữu cơ: Thúc đẩy sự phát triển của các sản phẩm như ethylene glycol, styrene, acrylonitrile, từ đó nâng cao khả năng cung ứng nguyên liệu hữu cơ ; Thúc đẩy sự đa dạng hóa các nguồn nguyên liệu, phát triển ổn định ethylene glycol không dựa trên dầu mỏ ; Đẩy nhanh việc áp dụng các quy trình sản xuất sạch, thúc đẩy việc cải tiến các quy trình sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ một cách bền vững. Đặc biệt cần tập trung vào việc cải thiện quy trình sản xuất các sản phẩm như epoxyclopropane, epichlorohydrin, methyl methacrylate, đồng thời tăng cường nỗ lực trong việc giảm thiểu phát thải và tiết kiệm năng lượng.   (8) Mở rộng hợp tác quốc tế: Tiếp tục thúc đẩy việc triển khai chiến lược “Một vành đai, một con đường”. Hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước tham gia vào việc khai thác các nguồn tài nguyên ở nước ngoài. Tập trung vào việc khai thác tài nguyên dầu khí, chuyển hóa khí đá phiến ở Bắc Mỹ thành methanol và ethylene cùng các sản phẩm phụ trợ; xây dựng các cơ sở sản xuất phân kali và lốp xe. Ở những khu vực có điều kiện thuận lợi, cần thực hiện việc chế biến và chuyển hóa ngay tại chỗ, nhằm tạo ra một chuỗi công nghiệp chiến lược tích hợp từ khâu đầu vào đến khâu đầu ra. Khuyến khích các doanh nghiệp trọng điểm thông qua đầu tư, mua lại, tái cơ cấu và các hình thức khác để có được công nghệ sản xuất vật liệu hóa học mới cũng như hóa chất chuyên dụng cao cấp, từ đó nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ và thúc đẩy việc nâng cấp ngành công nghiệp trong nước. Tận dụng những ưu thế về công nghệ và kinh nghiệm sản xuất của đất nước ta trong các lĩnh vực hóa chất từ than, lốp xe, phân bón, hóa chất từ muối, thuốc trừ sâu, thuốc nhuộm, v.v. Đồng thời, cần tăng cường sự hợp tác giữa các nguồn sản xuất mạnh trong nước với các quốc gia thuộc sáng kiến “Một vành đai, một con đường”, nhằm mục đích bán sản phẩm tại chỗ và mở rộng thị trường sang các thị trường mới. Tăng cường việc quảng bá các công nghệ và thiết bị trong lĩnh vực hóa dầu ra thị trường quốc tế. Thúc đẩy sự hợp tác giữa các doanh nghiệp trong lĩnh vực hóa dầu, các doanh nghiệp chuyên sản xuất thiết bị, và các công ty tư vấn thiết kế kỹ thuật. Tạo ra một cộng đồng có lợi ích chung. Thông qua việc xây dựng các dự án hóa dầu và việc tổng thầu các công trình kỹ thuật quan trọng, góp phần giúp các thiết bị công nghệ sản xuất trong nước có thể “vươn ra thị trường quốc tế”. Đẩy nhanh việc cung cấp các dịch vụ kỹ thuật, hỗ trợ những doanh nghiệp có năng lực xây dựng các khu công nghiệp hóa chất và cơ sở logistics tại địa phương, từ đó tạo ra một mô hình hợp tác toàn diện với bên ngoài. Chuyên mục 10: Các dự án hợp tác quốc tế trong khuôn khổ “Vành đai và Con đường”. Trong lĩnh vực hợp tác về năng lực sản xuất, người ta tập trung thúc đẩy sự hợp tác quốc tế trong các ngành có tỷ lệ xuất khẩu cao như ngành sản xuất lốp xe; đồng thời cũng thúc đẩy sự hợp tác trong các ngành mà sản phẩm của chúng khó vận chuyển, hoặc các ngành có thị trường hạn chế, nhằm mở rộng khả năng sản xuất ra thị trường quốc tế. Ngành lốp xe tập trung thúc đẩy hợp tác nâng cao năng lực sản xuất tại các khu vực là những nơi sản xuất cao su tự nhiên chính, hoặc những khu vực có tiềm năng thị trường lớn, chẳng hạn như Đông Nam Á. Ngành clorua kiềm chủ yếu tăng cường hợp tác về năng lực sản xuất tại các khu vực như Indonesia, Myanmar, Kazakhstan – những nơi sở hữu cả lợi thế về năng lượng lẫn thị trường khu vực. Các ngành như phân bón nitơ, hóa chất từ than đá chủ yếu tập trung thúc đẩy hợp tác nâng cao năng lực sản xuất tại các khu vực Đông Nam Á và Nam Á có lợi thế về cả nguồn tài nguyên lẫn thị trường, như Việt Nam, Indonesia, Bangladesh.   Hợp tác về nguồn tài nguyên: Nỗ lực thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực dầu khí, cao su tự nhiên và khoáng sản kali. Đồng thời, đẩy nhanh việc xây dựng các cơ sở sản xuất phân kali ở các quốc gia như Lào, Uzbekistan. Mục tiêu là đến năm 2020, sản lượng phân kali từ các cơ sở này có thể đạt 1,2 triệu tấn, qua đó nâng cao đáng kể khả năng đảm bảo nguồn cung phân kali cho đất nước. Hóa chất từ khí tự nhiên chủ yếu được phát triển thông qua hợp tác nâng cao năng lực sản xuất tại các khu vực có lợi thế về nguồn tài nguyên như Nga và Trung Đông.   Hợp tác kỹ thuật: Thúc đẩy các ngành như lọc hóa dầu, hóa chất từ than, công nghiệp clo-kiềm, phân bón… tiến hành hợp tác kỹ thuật quốc tế. Khuyến khích việc mở rộng thị trường dịch vụ kỹ thuật và xây dựng công trình ở nước ngoài. Nhờ đó, sự hợp tác về năng lực sản xuất, nguồn lực và kỹ thuật sẽ tạo thành một lực lượng tổng hợp, giúp công nghệ và thiết bị được xuất khẩu ra nước ngoài, từ đó xây dựng các khu công nghiệp hóa chất ở nước ngoài.   IV. Các biện pháp bảo đảm
(1) Hoàn thiện chính sách ngành
Xây dựng “Hướng dẫn về việc thúc đẩy việc di dời và cải tạo các doanh nghiệp sản xuất hóa chất nguy hiểm tại các khu vực có mật độ dân số cao trong đô thị”, nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp này chuyển sang các khu công nghiệp hoặc ngừng hoạt động. Nghiên cứu và xây dựng “Hướng dẫn về việc chuyển đổi và nâng cấp ngành thuốc trừ sâu”, nhằm thúc đẩy ngành này điều chỉnh cơ cấu kinh tế, nâng cao mức độ an toàn và bảo vệ môi trường, từ đó tăng cường khả năng cạnh tranh của ngành. Nghiên cứu xây dựng (sửa đổi) các tiêu chuẩn (điều kiện nhập cuộc) cho các ngành (sản phẩm) trọng yếu, cũng như các tiêu chuẩn liên quan đến các ngành công nghiệp mới nổi (sản phẩm). Hoàn thiện các tiêu chuẩn về an toàn, bảo vệ môi trường, tiết kiệm năng lượng và sức khỏe nghề nghiệp, nỗ lực nâng cao tính thích ứng và hiệu quả của các tiêu chuẩn này. Phát triển mạnh các công nghệ và hệ thống kiểm định, chứng nhận tiên tiến, tích cực tham gia vào việc xây dựng và sửa đổi các tiêu chuẩn quốc tế, thúc đẩy việc chuyển đổi song phương giữa các tiêu chuẩn của nước ta với các tiêu chuẩn quốc tế. Nghiên cứu và xây dựng các văn bản hướng dẫn nhằm quy định mô hình phát triển ngành công nghiệp hóa chất từ than hiện đại.   (II) Tăng cường giám sát trong ngành
Thực hiện việc quản lý các tiêu chuẩn ngành một cách linh hoạt, tăng cường giám sát trong quá trình hoạt động kinh doanh cũng như sau khi hoạt động kết thúc. Đồng thời, cần điều chỉnh danh sách các doanh nghiệp đáp ứng được các tiêu chuẩn yêu cầu đối với các sản phẩm như lốp xe, amoniac tổng hợp, phốtphat amoni, than chì… vào đúng thời điểm cần thiết. Tăng cường việc kiểm tra về an toàn, bảo vệ môi trường, chất lượng và tiết kiệm năng lượng. Tăng cường việc giám sát các chất gây ô nhiễm trực tuyến và quản lý chúng thông qua mạng lưới, đồng thời tăng cường trừng phạt những hành vi xả chất gây ô nhiễm trái phép và xử lý rác thải nguy hại không đúng quy định. Tăng cường quản lý nguồn gốc an toàn, thực hiện trách nhiệm chính của doanh nghiệp; áp dụng nghiêm ngặt các quy định về việc đăng ký các chất nguy hiểm và chế độ “ba đồng thời” trong các dự án xây dựng. Buộc các doanh nghiệp không đáp ứng được các tiêu chuẩn an toàn lao động phải tạm ngừng hoạt động để khắc phục sai sót, hoặc phải đóng cửa và rút khỏi thị trường. Đổi mới phương thức quản lý ngành thuốc trừ sâu, nâng cao hiệu quả trong công tác xét duyệt hành chính, kiểm soát chặt chẽ số lượng doanh nghiệp sản xuất mới và công suất sản xuất thuốc trừ sâu, tăng cường giám sát việc sản xuất thuốc trừ sâu một cách an toàn, đồng thời trừng trị nghiêm khắc các hành vi sản xuất bất hợp pháp. Bảo vệ trật tự công bằng trên thị trường, kiên quyết ngăn chặn các hành vi xấu như dùng hàng kém chất lượng thay thế hàng chất lượng tốt, sản xuất và buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, cũng như việc trốn thuế trong các lĩnh vực phân bón nông nghiệp, lốp xe, sơn phủ.   (III) Đổi mới cơ chế và thể chế: Tập trung vào việc phát huy tối đa vai trò quyết định của thị trường trong việc phân bổ nguồn lực, khơi dậy sức sống của các doanh nghiệp và các chủ thể tham gia thị trường khác. Đồng thời, tích cực thúc đẩy cải cách trong các lĩnh vực trọng yếu như quản lý dầu mỏ, khí đốt tự nhiên và các chất nguy hiểm ; Hoàn thiện hệ thống quản lý các khu công nghiệp hóa chất, giải quyết vấn đề ngưỡng thành lập thấp và sự giám sát đa phương. Khám phá mô hình quản lý danh sách các yếu tố tiêu cực, xây dựng một hệ thống thị trường các yếu tố kinh doanh thống nhất và mở cửa. Khuyến khích và thúc đẩy các doanh nghiệp tiến hành sáp nhập, tái cơ cấu thông qua nhiều hình thức như hợp nhất, góp vốn, mua lại… Nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể kinh doanh cạnh tranh công bằng, loại bỏ những doanh nghiệp yếu kém, đồng thời xây dựng cơ chế loại bỏ dần các nguồn lực sản xuất lạc hậu, từ đó nâng cao mức độ tập trung trong ngành. Thực hiện các kế hoạch khoa học công nghệ do ngân sách trung ương tài trợ (các dự án đặc biệt, quỹ đầu tư), thành lập các liên minh đổi mới công nghệ, tập trung nguồn lực để phá vỡ những rào cản kỹ thuật trong các lĩnh vực then chốt ; Đổi mới các phương thức hỗ trợ công nghệ, hướng dẫn và khuyến khích doanh nghiệp đổi mới sáng tạo về mặt công nghệ cũng như mở rộng thị trường ; Hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia nhiều hơn vào việc triển khai các dự án khoa học công nghệ quan trọng và xây dựng các nền tảng nghiên cứu khoa học trong ngành. Đồng thời, cần đẩy nhanh quá trình sử dụng, xử lý và tận dụng các thành tựu khoa học công nghệ, để các tổ chức và nhân tài sáng tạo có thể hưởng được lợi ích từ những thành tựu đó ; Thành lập các liên minh công nghiệp trong các lĩnh vực trọng yếu, thúc đẩy sự hợp tác giữa các bên liên quan trong ngành hóa chất và vật liệu mới; đồng thời nghiên cứu và xây dựng cơ chế bồi thường bảo hiểm nhằm hỗ trợ việc ứng dụng các vật liệu hóa chất mới trong các dự án đầu tiên. Các cơ quan quản lý công nghiệp và thông tin truyền thông ở các địa phương cần tuân thủ yêu cầu về việc thúc đẩy cải cách cấu trúc phía cung. Họ cần sáng tạo ra những cơ chế, chính sách mới, tăng cường mức độ cải cách, giảm bớt thủ tục hành chính, kết hợp việc kiểm soát với việc cung cấp dịch vụ tốt hơn.   (IV) Tăng cường hỗ trợ thông qua chính sách
Cần tăng cường sự kết nối giữa các chính sách về tài chính, ngân hàng, thương mại với các chính sách liên quan đến ngành công nghiệp. Đồng thời, cần thực hiện các chính sách nhằm kết nối ngân hàng với doanh nghiệp và thúc đẩy sự hợp tác giữa doanh nghiệp và lĩnh vực tài chính. Ngoài ra, cần tăng cường hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp và dự án trọng điểm. Sử dụng các kênh tài chính dành riêng hiện có (các khoản vốn đặc biệt, quỹ đầu tư, v.v.) để tiếp tục hỗ trợ công tác nâng cấp ngành công nghiệp và cải tiến công nghệ. Cần nghiên cứu kịp thời về thuế nhập khẩu/xuất khẩu đối với các sản phẩm hóa dầu và hóa chất, chính sách hoàn thuế xuất khẩu, cũng như các chính sách liên quan đến thương mại chế biến. Tăng cường việc đào tạo các nhân tài chuyên về đổi mới công nghệ trong ngành, các chuyên gia có kiến thức về an toàn trong lĩnh vực hóa dầu và hóa chất, các nhân sự quản lý khu công nghiệp, cũng như những người có kiến thức kết hợp giữa lĩnh vực hóa dầu/hóa chất và công nghệ thông tin.   (V) Tổ chức thực hiện: Kế hoạch phát triển ngành dầu khí và hóa chất của các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương cũng như các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước cần được đồng bộ hóa với kế hoạch này. Cần xây dựng các kế hoạch chi tiết để thực hiện mục tiêu đã đề ra, triển khai các biện pháp cần thiết. Đồng thời, cần điều chỉnh nội dung kế hoạch tùy theo những thay đổi trong tình hình thực tế. Xây dựng cơ chế đánh giá động đối với việc thực hiện kế hoạch, theo dõi một cách liên tục các kết quả đạt được ở từng giai đoạn của việc thực hiện kế hoạch. Khi cần thiết, nên thuê bên thứ ba để tiến hành đánh giá giữa kỳ, và căn cứ vào kết quả đánh giá để điều chỉnh nội dung kế hoạch theo đúng quy trình. Các hiệp hội ngành nghề cần đóng vai trò là cầu nối và liên kết, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm trong kế hoạch, duy trì sự tự giám sát trong ngành, đồng thời báo cáo kịp thời những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện kế hoạch.
Reply #22017-02-19
Rất tốt, có đầy đủ những nội dung cần thiết. Cảm ơn 1:D

Submit a Project

**Looking for Chemical Technology, Equipment & Solutions?** No Registration Required Broader Platform Exposure | Global Chemical Service Provider Connections

Submit Request — Free Consultation

Disclaimer

This is an automated machine translation of the original thread. Some technical terms may have inaccuracies; the original text shall prevail. Click "View Original" at the top right to access the source page, which supports IP-based automatic real-time language translation. Please watch out for contact details and sales inducements to prevent fraud. All content and translations are for reference only, representing solely the poster's personal views. For enquiries, email service@hcbbs.com.