Thread Content
Giá nguyên liệu tăng vọt, khó có thể điều chỉnh giá bán. Tình hình thị trường urê vẫn còn ổn định. Tác giả/Nguồn: Báo Hóa chất Trung Quốc. Ngày đăng: 18/10/2016. Số lần xem: 2. Kể từ đầu năm nay, giá than trong nước liên tục tăng mạnh; giá khí đốt cũng dự kiến sẽ tăng. Tuy nhiên, giá của ure được sản xuất từ than và khí đốt vẫn ở mức thấp, không thể tăng theo xu hướng tăng giá của các nguyên liệu đầu vào. Các chuyên gia phân tích thị trường cho rằng, do tình trạng dư thừa công suất sản xuất và giá cả trên thị trường quốc tế ở mức thấp, khả năng giá urê tăng lên là không cao. Tuy nhiên, hiện tại giá urê đã ở mức thấp nhất có thể. Giá khí đốt tiếp tục tăng. Kể từ đầu năm nay, do các biện pháp cắt giảm sản lượng được thực hiện mạnh mẽ và sản lượng than giảm sút, giá than trong nước liên tục tăng cao. Vào ngày 12 tháng 10, chỉ số giá than năng lượng ở khu vực Vịnh Bột Hải là 570 nhân dân tệ mỗi tấn (giá tính theo tấn; cùng hiểu như vậy). Con số này cao hơn 9 nhân dân tệ so với kỳ báo cáo trước đó. Đây là lần thứ 14 liên tiếp mà giá than tăng ; Giá đã tăng thêm 199 nhân dân tệ so với mức 371 nhân dân tệ vào đầu năm, tỷ lệ tăng tích lũy đạt 53,8%, tiếp tục phá vỡ kỷ lục cao nhất trong năm. Giá khí đốt tự nhiên cũng đang đối mặt với việc tăng giá. Ngày 12 tháng 10, **Ủy ban Phát triển và Cải cách đã chính thức ban hành “Quy định về quản lý giá vận chuyển khí đốt tự nhiên (thử nghiệm)” và “Quy định về việc giám sát chi phí để xác định giá vận chuyển khí đốt tự nhiên (thử nghiệm)”. Những quy định này nhằm cải cách cơ chế xác định giá vận chuyển khí đốt tự nhiên, dựa trên nguyên tắc “chi phí hợp lý cộng với lợi nhuận hợp lý” trong việc xác định và điều chỉnh giá vận chuyển khí đốt tự nhiên. Và tại hội thảo được tổ chức vào cuối tháng 9 bởi PetroChina và Trung tâm Giao dịch Dầu khí Thượng Hải, các quan chức thuộc Cục Giá của Ủy ban Phát triển và Cải cách cho biết rằng mức giá khí đốt trong mùa đông năm 2016 sẽ tăng lên trong khoảng 20%. Các doanh nghiệp sản xuất khí đốt cần phải thảo luận kỹ lưỡng với các doanh nghiệp sử dụng khí đốt để quyết định mức giá mới. Ở nước ta, khoảng 70% lượng urê được sản xuất từ than đá. Gần đây, giá than ở một số khu vực đã tăng gần 100 nhân dân tệ mỗi tấn, trong khi chi phí sản xuất urê cũng tăng khoảng 100 nhân dân tệ mỗi tấn. Ngoài ra, khoảng 30% lượng urê được sản xuất trong nước sử dụng khí tự nhiên làm nguyên liệu. Nếu giá khí tự nhiên tăng thêm 0,1 nhân dân tệ cho mỗi mét khối, chi phí sản xuất mỗi tấn urê dự kiến sẽ tăng thêm 60 nhân dân tệ. Nếu giá khí tự nhiên tăng 20%, chi phí sản xuất mỗi tấn urê sẽ tăng thêm 120–240 nhân dân tệ. Urea vẫn ổn định. Tuy nhiên, việc giá nguyên liệu tăng không ảnh hưởng đến thị trường urea. Kể từ nửa sau năm nay, giá urê trong nước liên tục dao động ở mức khoảng 1200 đồng. Ngày 12 tháng 10, mức giá bán ra chính thức của urea tại thị trường trong nước là 1220–1270 nhân dân tệ. Giá urea giảm mạnh tạo nên sự tương phản lớn so với mức giá than ngày càng tăng. Tại sao giá ure không tăng theo? Chủ tịch công ty Hồ Nam Toyota Nông Tư, ông Chu Đông Bình, đã tiến hành phân tích. Thứ nhất là yếu tố mùa vụ. Việt Nam sử dụng phân bón chủ yếu trong nửa đầu năm, đặc biệt là vào mùa cấy lúa, lượng phân sử dụng lúc này rất lớn. Trong nửa sau của năm, lượng phân sử dụng chỉ chiếm chưa đến 40% tổng lượng phân được sử dụng trong cả năm. Việc bón phân cho lúa mì mùa đông là giai đoạn cần nhiều phân nhất vào nửa sau năm; hiện tại, công tác chuẩn bị phân đã gần hoàn tất. Ngoài ra, vào mùa thu và mùa đông còn có nhu cầu sử dụng phân bón cho các loại cây trồng có giá trị kinh tế như rau củ, cây ăn quả. Tuy nhiên, do giá các sản phẩm nông nghiệp năm nay thấp, nên người nông dân không mấy hào hứng trong việc trồng trọt. Hơn nữa, tình hình dự trữ phân bón vào mùa đông năm nay cũng không mấy khả quan ; Do giá cả trên thị trường quốc tế thấp, dự kiến lượng hàng xuất khẩu trong quý cuối năm sẽ không cao, và khó có tin tức tích cực nào trên thị trường. Do đó, các nhà phân phối không mấy nhiệt tình trong việc nhập hàng, khiến thị trường trở nên trì trệ. Thứ hai là tỷ lệ khởi công không giảm mà còn tăng. Năm nay, giá urê ở mức thấp, khiến các doanh nghiệp phải chịu tổn thất nặng nề. Về lý thuyết, tỷ lệ hoạt động của các doanh nghiệp này lẽ ra phải giảm dần. Tuy nhiên, theo thống kê, vào cuối tháng 9, khi một số doanh nghiệp sản xuất urê khôi phục lại hoạt động, tỷ lệ hoạt động tổng thể của ngành sản xuất urê trong nước đã tăng từ 55% lên khoảng 57%. Điều này làm tăng thêm sự nghi ngờ của các đại lý – có vẻ như khả năng chịu áp lực của các nhà sản xuất urê vượt quá mức tưởng tượng; một số doanh nghiệp vẫn tiếp tục sản xuất dù phải chịu lỗ. Các nhà phân phối lo ngại rằng sản lượng phân bón sẽ tiếp tục tăng trong tương lai, vì vậy họ trở nên thận trọng hơn. Thứ ba là đồng bộ hóa với giá cả quốc tế. Hiện nay, giá phân bón ở nước ta ngày càng gần với mức giá trên thị trường quốc tế, trong khi giá phân bón trên thị trường quốc tế hiện đang ở mức thấp. Trên thị trường quốc tế, giá ure khi xuất khẩu chỉ khoảng 180–195 đô la Mỹ; giá amoni photphat đạm là 320–340 đô la Mỹ; còn giá kali clorua thì nằm trong khoảng 192–240 đô la Mỹ. Giá thế giới thấp đến vậy, nên giá phân bón trong nước cũng khó có thể tăng được. Bốn là phản ứng chậm trễ. Sau khi giá năng lượng tăng, thường phải mất một thời gian nữa thì giá phân bón mới tăng theo. Một mặt, thị trường cần xác nhận xem việc giá năng lượng tăng lên có thực sự xảy ra hay không ; Mặt khác, hầu hết các doanh nghiệp sản xuất đều có một lượng hàng tồn kho nguyên vật liệu nhất định. Doanh nghiệp chỉ phải chịu chi phí tăng thực sự sau khi đã tiêu thụ hết lượng hàng tồn kho được mua với giá thấp trước đó. Chỉ lúc đó, nhu cầu tăng giá của doanh nghiệp mới trở nên cấp bách hơn. Vẫn ở mức đáy thị trường. Vào cuối tháng 9, Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ đã đạt được thỏa thuận giảm sản lượng, đồng ý giảm lượng dầu thô sản xuất ra mỗi ngày khoảng 1 triệu thùng, tức là giữ mức sản lượng ở mức 32,5 triệu thùng mỗi ngày. Thỏa thuận này sẽ được áp dụng tại cuộc họp vào tháng 11. Đây là thỏa thuận giảm sản lượng đầu tiên kể từ khi giá dầu sụt giảm mạnh cách đây hai năm do tình trạng cung vượt cầu. Chịu ảnh hưởng bởi điều này, giá dầu thế giới đã ghi nhận mức tăng phần trăm theo ngày lớn nhất kể từ tháng 4 năm nay. Tính đến ngày 13 tháng 10, giá dầu thế giới đã ổn định ở mức 50 đô la mỗi thùng. Lý Duyệt Minh, giám đốc công ty Guangxi Lục Thực Phân Công Nghiệp, cho rằng việc giá dầu tăng đã mang lại hy vọng cho thị trường urê. Vì giá dầu là yếu tố chi phối giá cả của các loại năng lượng khác, nên giá của than đá, khí đốt tự nhiên và các nguồn năng lượng khác thường dao động theo giá dầu. Nếu giá dầu có xu hướng tăng ổn định nhờ các thỏa thuận mà OPEC đạt được, thì giá than và khí đốt cũng sẽ tăng theo. Điều này sẽ khiến chi phí sản xuất urê tiếp tục tăng lên. Lý Dược Minh cho rằng không nên quá bi quan về thị trường urê trong giai đoạn tiếp theo. Mặc dù hiện tại việc tăng giá urê gặp nhiều khó khăn, nhưng nhìn chung, cùng với sự tăng cao của chi phí, sức hỗ trợ cho mức giá urê ngày càng mạnh mẽ hơn; do đó, việc giá urê tiếp tục giảm mạnh là điều không thể xảy ra. Đến mùa cấy trồng vào mùa xuân năm sau, giá urê có thể tăng thêm từ một đến hai trăm nhân dân tệ mỗi tấn. Các chuyên gia trong ngành cũng nhận định rằng, hiện nay, các nhà máy sản xuất urê còn hoạt động tại nước ta thường là những công ty niêm yết trên sàn chứng khoán, hoặc là những nhà máy có chi phí sản xuất thấp và công nghệ tiên tiến, hoặc là các doanh nghiệp kết hợp việc sản xuất phân bón từ than đá, hoặc là các doanh nghiệp nhà nước lớn. Vì vậy, khả năng loại bỏ những nhà máy này trong tương lai là rất nhỏ. Ngay cả khi tỷ lệ hoạt động giảm như dự đoán, thì đó cũng chỉ là trạng thái “ngủ đông” mà thôi; chúng sẽ tỉnh dậy ngay khi giá than giảm hoặc giá urê tăng. Do đó, chỉ bằng cách sử dụng mức giá cao của than đá hiện nay để giảm mạnh lượng ure được cung ứng, và chuyển lượng ure dư thừa sang kho tồn trữ cho năm tới, thì thị trường ure mới có thể có bước chuyển biến thực sự.