HCBBS Forum (Tiếng Việt)
Submit Chemical Projects / Find Solutions
Amplify Your Requirements on a Broader Chemical Platform *Engineering · Technology · Equipment · Solutions*
Submit Request

Công nghệ hỗn hợp nước và than phiên bản 3.0 mang lại lợi ích cho ngành hóa chất từ than

2016-10-18View Original

Thread Content

Công nghệ bột than nước phiên bản 3.0 mang lại lợi ích cho ngành hóa chất từ than / Nguồn: Báo Hóa chất Trung Quốc, ngày 18/10/2016. Số lần truy cập: 18. Nồng độ bột than có thể lên tới 70%, giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường một cách hiệu quả. Ngày 14/10, phóng viên của Báo Hóa chất Trung Quốc nhận được thông tin từ Viện Nghiên cứu Khoa học Than rằng công nghệ sản xuất bột than nước thế hệ thứ ba do viện này tự nghiên cứu và phát triển đã hoàn thành giai đoạn thử nghiệm. Nồng độ bột than đạt 70%, khối lượng khí tổng hợp được tạo ra cũng tăng lên đáng kể. Điều này giúp giải quyết vấn đề mà ngành hóa chất từ than luôn mong muốn – đó là tăng nồng độ bột than lên mức cao. Đây quả là tin vui cho ngành hóa chất từ than, vốn đang gặp nhiều khó khăn trong thời gian gần đây. “Lưu hóa than là trọng tâm của công nghiệp hóa chất từ than; lò lưu hóa bột than nước thực chất chính là một lò có sự cân bằng nhiệt. Nồng độ hỗn hợp than có mối quan hệ mật thiết với hàm lượng khí hiệu quả và hiệu suất chuyển hóa than thành khí. Cứ tăng thêm 1% nồng độ hỗn hợp than, thì hàm lượng khí hiệu quả sẽ tăng thêm 0,7–0,8%. ”Lý Phát Lâm, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ Hỗn hợp Than và Nước thuộc Viện Khoa học Than, nói rằng: “Nếu hỗn hợp than chứa quá nhiều nước, thì điều đó chắc chắn sẽ làm tiêu hao lượng nhiệt trong hệ thống.” Để duy trì nhiệt độ bên trong lò ở mức không đổi, người ta chỉ có thể tăng lượng oxy cung cấp, từ đó tạo ra nhiều CO2 hơn. Nếu giảm lượng nước đưa vào lò xuống 1 tấn, có thể tăng sản lượng khí hữu ích lên 450 mét khối tiêu chuẩn. Đồng thời, lượng oxy cần sử dụng sẽ được tiết kiệm 225 mét khối tiêu chuẩn, và lượng khí CO2 thải ra cũng sẽ giảm 450 mét khối tiêu chuẩn. ” Công nghệ chế tạo hỗn hợp nước than thế hệ thứ ba, được gọi là phiên bản 3.0, là công nghệ kiểm soát kích thước hạt của hỗn hợp nước than. Đây là kết quả của việc nâng cấp thiết bị và quy trình sản xuất, dựa trên công nghệ nghiền phân tầng của thế hệ thứ hai do Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ Hỗn hợp Nước Than phát triển. Kết quả thí nghiệm cho thấy, đối với một số loại than chất lượng tốt (như than Yuheng, than Heishan ở Tân Cương), nồng độ bột than có thể đạt từ 69% đến 71%. Trong khi đó, đối với các loại than dùng để khí hóa thông thường, nồng độ bột than chỉ dao động trong khoảng 66% đến 68%. Nếu kết hợp với công nghệ khí hóa bằng nhiều vòi phun, tỷ lệ khí được tạo ra có thể đạt 86%–88%, gần bằng mức của quá trình khí hóa than bột. Điều này mở ra những khả năng mới cho các doanh nghiệp trong ngành hóa chất than trong việc lựa chọn quy trình khí hóa.   Lý Phát Lâm cho biết, nhóm nghiên cứu tại **Trung tâm Công nghệ Sản xuất hỗn hợp nước và than của Viện Khoa học Than** đã vận dụng các nguyên lý liên quan đến việc sắp xếp các hạt theo từng tầng và tính lưu động của chúng, từ đó giải quyết được những vấn đề nan giải trong ngành sản xuất hỗn hợp nước và than, cụ thể là vấn đề về hiệu suất sắp xếp các hạt (nồng độ) và tính lưu động của chúng. Nhờ đó, kích thước các hạt trong hỗn hợp nước và than có thể được kiểm soát một cách chính xác ; Để khắc phục sự thiếu khoa học trong việc mô tả tính lưu động của hỗn hợp than bằng chỉ số độ nhớt, người ta đã chế tạo ra các thiết bị đo tính lưu động riêng. Lý Phát Lâm nói với phóng viên rằng các nhà máy hóa chất từ than hiện có cũng có thể được cải tạo bằng cách kết hợp với hệ thống xay bột bằng que hiện có. Lấy dự án sản xuất methanol với công suất 600.000 tấn/năm làm ví dụ, khi lượng than sử dụng không thay đổi, nếu nồng độ hỗn hợp than được nâng từ 60% lên 68%, thì lượng nước cần thêm vào mỗi giờ sẽ giảm 23,33 tấn. Điều này giúp tăng sản lượng khí tổng hợp hiệu quả lên 10.500 mét khối tiêu chuẩn (đồng thời giảm lượng CO2 thải ra 10.500 mét khối tiêu chuẩn). Ngoài ra, sản lượng methanol cũng tăng thêm 5,05 tấn/giờ, và lượng oxy cần sử dụng giảm xuống 5.249 mét khối tiêu chuẩn/giờ. Với mức giá 1800 nhân dân tệ cho mỗi tấn methanol, mỗi năm có thể tăng thu nhập thêm 72,72 triệu nhân dân tệ. Nếu tính thêm lợi ích từ việc tiết kiệm oxy và các yếu tố khác, tổng giá trị kinh tế hàng năm sẽ vượt quá 100 triệu nhân dân tệ. Trong khi đó, chi phí đầu tư để cải tạo chỉ khoảng hơn 30 triệu nhân dân tệ mà thôi. Hiện tại, trung tâm này đã hoàn thành việc phát triển bộ quy trình sản xuất xơ gỗ đi kèm với công suất 600.000 tấn methanol mỗi năm, và đang chuẩn bị cho việc thử nghiệm trên quy mô công nghiệp.
Reply #22016-10-18
Hiệu quả giảm phát thải rất rõ rệt, hy vọng sẽ có thể công nghiệp hóa một cách thuận lợi
Reply #32016-10-19
Hiệu quả cuối cùng thế nào thì vẫn cần phải xem thêm. Không biết liệu có thể nâng nồng độ của hỗn hợp than chỉ ở mức 47% lên thành 60% được hay không?

Submit a Project

**Looking for Chemical Technology, Equipment & Solutions?** No Registration Required Broader Platform Exposure | Global Chemical Service Provider Connections

Submit Request — Free Consultation

Disclaimer

This is an automated machine translation of the original thread. Some technical terms may have inaccuracies; the original text shall prevail. Click "View Original" at the top right to access the source page, which supports IP-based automatic real-time language translation. Please watch out for contact details and sales inducements to prevent fraud. All content and translations are for reference only, representing solely the poster's personal views. For enquiries, email service@hcbbs.com.