HCBBS Forum (Tiếng Việt)
Submit Chemical Projects / Find Solutions
Amplify Your Requirements on a Broader Chemical Platform *Engineering · Technology · Equipment · Solutions*
Submit Request

Bức tranh “Cảnh sông vào dịp Tết Thanh Minh”

2016-10-24View Original

Thread Content

Bài viết này cuối cùng được chỉnh sửa bởi Thanh・Tuyết vào ngày 10-11-2016 lúc 15:15. “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” mô tả cảnh vật của kinh đô Đông Kinh thời Bắc Tống (nay là thành phố Khai Phong, tỉnh Hà Nam). Bức tranh chủ yếu khắc họa vẻ đẹp thiên nhiên và sự thịnh vượng của vùng đất Bích Kinh cùng hai bên bờ sông Bích. Tết Thanh Minh Thượng Hà là phong tục dân gian thời bấy giờ, giống như các lễ hội ngày nay, mọi người tập trung lại để tham gia các hoạt động mua bán. Toàn bộ bức tranh được chia thành ba phần chính: cảnh vật mùa xuân ở ngoại ô Bích Kinh, khung cảnh sông Bích Hà, và các khu chợ trong thành phố. Bến tàu gấp lại trên sông Biện là một **trung tâm giao thông vận chuyển quan trọng vào thời Bắc Tống, đồng thời cũng là con đường thương mại quan trọng. Trong bức tranh có thể thấy nơi đây có dân cư đông đúc, tàu thuyền buôn tấp nập. Mọi người có người nghỉ ngơi trong các quán trà, có người xem bói toán, và có người ăn uống tại các quán ăn. Còn có “Cửa hàng giấy dùng để cúng tế của gia tộc Vương”, nơi bán các vật phẩm dùng để cúng tế người chết. Trên sông, các con thuyền lướt qua nhau liên tục; có thuyền do người kéo, có thuyền do người chèo mái chèo. Một số thuyền chở đầy hàng hóa, chèo ngược dòng nước; một số khác thì cập bến và đang bận rộn bốc dỡ hàng hóa. Bắc ngang sông Biện là một cây cầu vòm bằng gỗ vô cùng hoành tráng; cấu trúc của nó rất tinh xảo và kiểu dáng thì rất đẹp. Giống như cầu vồng, vì thế mới có tên là Cầu Hồng. Có một con tàu lớn đang chuẩn bị qua cầu. Những người chèo thuyền dùng các cây gậy bằng tre để đẩy thuyền ; Dùng cần dài để móc vào cầu ; Dùng dây thừng để buộc thuyền lại ; Còn vài người đang bận rộn hạ cột buồm xuống, để con tàu có thể đi qua. Những người trên tàu bên cạnh cũng đang chỉ trỏ và nói chuyện ầm ĩ, như thể họ đang hét lớn điều gì đó vậy. Cả bên trong lẫn bên ngoài con tàu đều đang bận rộn chuẩn bị cho việc con tàu vượt cầu. Những người trên cầu nheo mắt nhìn xuống, lo lắng chứng kiến cảnh tượng hỗn loạn khi tàu đi qua. Đây chính là khu bến cảng Hồng Kiều nổi tiếng khắp nơi. Dọc theo đầu cầu có rất nhiều quầy bán dao kéo, quán ăn và các loại hàng hóa khác nhau. Hai người bán hàng đang cố gắng thu hút sự chú ý của những người qua đường để họ xem sản phẩm của mình. Nơi đây thực sự là điểm gặp gỡ của giao thông đường thủy và đường bộ, có thể coi là khoảnh khắc đỉnh cao của bức tranh này. Phố phường được sắp xếp xoay quanh những tòa tháp cao lớn; hai bên đường là những ngôi nhà san sát nhau, gồm có quán trà, quán rượu, tiệm giày, tiệm thịt, chùa chiền, các cơ quan hành chính, v.v. Trong các cửa hàng, có nơi chuyên bán các loại vải lụa đẹp, trang sức, gia vị, giấy cúng… Ngoài ra còn có phòng khám y tế, xưởng sửa chữa xe cộ, dịch vụ xem tướng số, làm đẹp khuôn mặt… Có đủ mọi thứ mà con người có thể cần. Ở trước cửa các cửa hàng lớn, người ta treo những cổng hoa rực rỡ và lá cờ quảng cáo để thu hút khách hàng. Trên đường phố, người qua kẻ lại không ngừng, có những thương nhân buôn bán, những quý tộc ngắm cảnh, những quan lại cưỡi ngựa, những người bán hàng rong, những người giàu có đi xe kiệu, những tu sĩ mang theo giỏ đồ, những du khách từ nơi xa đến hỏi đường, những đứa trẻ nghe kể chuyện trên phố, những người con nhà giàu uống rượu trong quán ăn, những người già khuyết tật xin ăn bên lề đường… Có đủ mọi người, mọi tầng lớp trong xã hội. Phương tiện giao thông: có kiệu, lạc đà, xe bò, xe ngựa; còn có cả xe Thái Bình và xe Tóc cắt ngắn nữa. Đủ loại phương tiện khác nhau, tạo nên khung cảnh sầm uất của một thành phố thương mại, khiến mọi người có thể hình dung rõ ràng về vẻ đẹp ấy. Hình ảnh được gấp lại: http://p4.qhmsg.com/dr/220__/t010ccf043617ae8d64.png
Đây là bản sao của bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ”. Khi mở bức tranh ra, có thể thấy trên con đường bên cạnh dòng suối, có một đoàn lạc đà đang di chuyển. Đoàn lạc đà này đến từ phía đông bắc, từ thành phố Biện Kinh. Năm con lừa chở đầy hàng hóa; người lái ngựa dẫn đầu đoàn lạc đà tiến về phía cây cầu ở khúc quanh đường. Những người chăn dắt lạc đà dùng roi để thúc chúng tiếp tục di chuyển về phía trước. Có vẻ như họ là những người chuyên nghiệp trong việc chăn dắt lạc đà, vì họ xử lý công việc một cách điêu luyện. Bên cạnh cây cầu nhỏ, có một chiếc thuyền nhỏ được buộc vào gốc cây. Một vài ngôi nhà của người nông dân được xây dựng một cách có trật tự giữa các bụi cây. Trên những cành cây cao, có bốn tổ chim; cách chúng xây tổ và vị trí của các tổ này cũng giống hệt như cách mà các loài chim khác xây tổ vậy. Trên bãi đập lúa có vài chiếc cối đá, được dùng để giã hạt vào mùa thu hoạch; hiện tại chúng vẫn còn nằm im ở đó. Trong chuồng cừu có vài con cừu. Bên cạnh chuồng cừu dường như là chuồng gà vịt; có vẻ như ở đó nuôi rất nhiều gà vịt. Thật là một khung cảnh yên bình của làng quê. Thật đáng ngạc nhiên khi biết rằng vào hơn một nghìn năm trước, thời nhà Tống, ngành nông nghiệp và chăn nuôi đã phát triển đến mức này. Khi nhìn lại, ta thấy đó chính là nơi giao thoa giữa nông nghiệp và thương mại. Ở phía trên bên phải, có một đoàn người đang đi đón cô dâu; họ từ từ di chuyển từ phía Bắc vào. Phía sau chú rể là một người cưỡi ngựa màu đỏ; phía sau ngựa là người mang theo đồ dùng cưới của cô dâu. Phía trước ngựa là người ôm chiếc hộp chứa đồ trang điểm của cô dâu. Còn phía trước nữa là chiếc kiệu mà cô dâu sẽ ngồi trên đó; bề mặt chiếc kiệu được trang trí bằng nhiều loại hoa cỏ khác nhau. Đó chính là “kiệu hoa”“ ; Từ “kiệu hoa” chính là phương tiện mà cô dâu sử dụng khi đi lấy chồng; nguồn gốc của từ này có lẽ bắt nguồn từ phong tục tập quán này. Phía sau chiếc kiệu, có một người gánh hàng, mang theo một gánh cá và thịt; đó là biểu tượng cho lời chúc của gia đình phụ nữ dành cho chồng rằng anh ta sẽ giàu có và luôn có đủ cá để ăn. Từ thời vua Chu Nguyên Chương trở đi, việc đi thăm mộ vào dịp Tết Thanh Minh bắt đầu phổ biến. Vì vậy, chỉ dựa vào hai chữ “Thanh Minh” thôi thì không thể kết luận rằng đây là đoàn người trở về sau khi viếng mộ được. Có lẽ đây là đoàn người đi dự lễ cưới thôi. Ở một ngôi nhà nông thôn nằm gần quán trà, có hai con bò được nuôi ở đó. Mặc dù có một sự kiện khủng khiếp xảy ra ngay gần đó, nhưng hai con bò vẫn tỏ ra thờ ơ; chúng vẫn tiếp tục nhai cỏ một cách thoải mái. Ở những cánh đồng xa xôi kia, cây lúa đang phát triển tốt; người nông dân đang tưới nước và bón phân cho cây lúa. Một cặp vợ chồng ở phía nam đi du lịch, họ thuê hai con vật để kéo xe, cùng một người phụ trách việc chở đồ. Ngoài ra, còn có một người khác mang theo những đồ dùng cần thiết cho họ, và cùng nhau họ tiến về phía đông nam. Đối diện với quán trà, có một khách sạn. Vì khách sạn này không kinh doanh bữa sáng nên họ mới chậm trễ trong việc treo cờ để thu hút khách hàng. Khách sạn này nằm ngay tại bến cảng vận chuyển hàng hóa, vì vậy hoạt động kinh doanh của họ rất thuận lợi. Tuy nhiên, hiện tại các vị khách đang bận rộn với công việc kinh doanh, chưa đến lúc ăn uống. Bạn có thể thấy rằng các chủ hàng đang kiểm tra số lượng hàng hóa cần gửi đi, còn nhân viên bến cảng thì đang sắp xếp hàng hóa để chuẩn bị cho việc vận chuyển. Nói chung, họ phải sắp xếp mọi thứ trước khi hàng hóa được đưa lên tàu. Một con tàu khác cũng đang bốc dỡ hàng hóa. Giữa những tán lá của những cây có tuổi đời hàng trăm năm ấy, người ta có thể nhìn thấy những cột buồm và dây thừng to lớn; chắc hẳn đó là những con tàu có trọng lượng khoảng sáu, bảy mươi tấn. Ở giữa con phố nối giữa khách sạn và quán trà, có một người đang gọi một vị thầy bói. Có lẽ người đó muốn nhờ ông ấy dự đoán điều gì đó, có thể là chuyện hôn nhân, gia đình hoặc công việc kinh doanh. Khi nghe rằng người đó muốn xin ông ấy dự đoán về chuyện kinh doanh, vị thầy bói liền bước đi một cách vui vẻ, cho thấy ông ấy rất vui mừng. Nhìn vào phía trong con phố, có một cửa hàng bán đồ ăn đang trò chuyện với một người buôn bán mang theo gánh hàng. Có vẻ như chúng ta có thể nghe thấy cuộc trò chuyện của họ: họ đang bàn xem ngày mai nên đặt mua thêm những thứ gì như dầu, muối, nước tương, giấm… và khi nào thì thanh toán tiền. Phía xa hơn nữa là vài cửa hàng khác; con đường lớn này kéo dài ra xa, và có nhiều người đi bộ, lạc đà, ngựa di chuyển trên đó. Vài cửa hàng nữa thôi là sẽ đến con đường chính Bìn Liang Đại Lộ rồi. Hai bên con đường này có rất nhiều cửa hàng, tất cả đều tập trung quanh khu vực bến cảng và các kho hàng. Vị trí của khu vực này rất thuận lợi; các con phố xung quanh đều dễ đi lại. Phía nam là bến cảng sâu, có vài chiếc tàu đang neo đậu ở đó để bốc dỡ hàng hóa. Một chiếc tàu đang được dùng để bốc dỡ hàng hóa; một số công nhân đang mang những bao tải chứa ngũ cốc xuống khỏi tàu. Trong khoang tàu, có người đang sắp xếp hàng hóa. Có vẻ như có thể nghe thấy tiếng lao động của họ khi họ mang những bao tải hàng lên vai. Ngay bên cạnh bến tàu của kho hàng, có những con tàu đang chờ được dỡ hàng hoặc chất hàng lên. Khi thuyền trưởng lên tàu xong, họ sẽ ăn uống rồi khởi hành. Ngay phía trước kho hàng, vị thuyền trưởng vừa thanh toán xong hóa đơn và chuẩn bị lên tàu thì tình cờ gặp một người quen. Dù muốn nhanh chóng lên tàu để tiếp tục hành trình, nhưng anh ta cũng không thể để người quen hay bạn bè phải chờ lâu. Vì vậy, anh ta vội vàng trò chuyện ngắn gọn với người đó, rồi chào tạm biệt. Lúc này bước chân đã quay ngay, dáng vẻ vội vã chạy lên thuyền hiện rõ một cách rành mạch. Trên tuyến đường thủy chính của bến cảng, có một con tàu chở hàng đang di chuyển ngược dòng. Các thủy thủ trên boong tàu luôn theo dõi chặt chẽ tình hình, nhằm tránh va chạm với các con tàu đang đậu ở đó. Việc đảm bảo an toàn khi di chuyển trên sông rất quan trọng. Có một con thuyền đang đậu ở bến phía trước con thuyền đang di chuyển. Một thủy thủ đã ra khỏi thuyền để theo dõi tình hình di chuyển của các con thuyền, nhằm ngăn chặn việc va chạm giữa chúng. Có vẻ như con thuyền đang di chuyển sắp cập bến rồi; người dẫn đầu đội người kéo dây đã quay lại và ra hiệu cho các đồng nghiệp của mình dừng việc kéo dây. Nhìn về phía thượng nguồn của dòng sông, có một chiếc thuyền với tám người chèo mái chèo. Có thể thấy rằng tốc độ dòng nước khá nhanh. Người lái thuyền thì liên tục quan sát tình hình dòng nước và tình trạng của con thuyền để điều chỉnh hướng di chuyển. Chiếc tàu du lịch phía trước đang cố gắng cập bến. Đây là bến tàu dành cho các chuyến tàu du lịch. Trên tàu có hơn hai mươi người đang làm việc hăng say. Một số thủy thủ trên boong tàu đang thu dọn cánh buồm và hạ cột buồm xuống. Những thủy thủ khác thì đang nhận những sợi dây được ném từ cầu xuống, nhằm kéo tàu vào bến. Sau đó, tàu sẽ được buộc chặt vào các cột neo trên bờ, nhằm tăng độ ổn định cho tàu. Các thủy thủ ở phía bên trái tàu dùng mái chèo để đẩy tàu về phía bến, nhằm tăng lực đẩy giúp tàu tiến gần bến hơn. Hai thủy thủ ở mũi tàu thì vừa đẩy tàu sang phải, vừa quan sát bến để điều chỉnh lực đẩy sao cho tàu có thể cập bến một cách chính xác. Người thủy thủ còn lại thì cầm mái chèo và vẫy tay ra hiệu cho các thủy thủ ở bến phối hợp cùng mình. Có vẻ như anh ta chính là thủy thủ trưởng của con tàu này. Thân tàu du lịch có kích thước rộng lớn và độ ổn định khá tốt. Các thủy thủ đều làm việc một cách thành thạo, phối hợp nhịp nhàng với nhau; rõ ràng đây là những thủy thủ có trình độ cao. Các khoang trên tàu được ngăn cách riêng biệt, và có cửa ra vào để hành khách dễ dàng ra vào. Cửa khoang sẽ không được mở cho đến khi tàu dừng hẳn. Các biện pháp an toàn được thực hiện một cách nghiêm ngặt; có thể khẳng định đây là một con tàu du lịch dài hạn có chất lượng an toàn rất tốt. Trên bến cảng, vẫn còn nhiều người vẫy tay gọi những chiếc thuyền khách. Họ đang cố gắng gặp lại người thân hoặc bạn bè của mình. Một số người còn leo lên các cầu để có thể vẫy tay từ trên cao, nhằm gặp người thân sớm hơn. Trên một chiếc thuyền khách nhỏ hơn, cũng có người vẫy tay gọi mọi người; đó là cách họ cố gắng thu hút khách hàng, kêu gọi những ai muốn đến bến cảng ở khu vực sông Phân Hà. Có thể thấy rằng vào thời đó, hệ thống giao thông ở lưu vực sông Bính rất phát triển, với cả đường thủy lẫn đường bộ tạo nên một mạng lưới giao thông vận chuyển khá hoàn chỉnh. Cầu Hồng Kiều thật ấn tượng: chiều cao của nó lớn đến mức ngay cả những con thuyền lớn nhất trong lưu vực sông Biện cũng có thể di chuyển qua một cách dễ dàng. Độ rộng và độ vững chắc của cầu cũng rất lớn, đủ để nhiều chiếc xe chở hàng có thể chạy song song trên cầu. Về mặt kết cấu, đây quả là một thành tựu vĩ đại. Toàn bộ cầu được xây dựng từ gỗ. Có lẽ do dòng nước sông Biện quá mạnh, nên việc xây dựng các trụ cầu trở nên khó khăn. Nhưng các kỹ sư thời bấy giờ đã sử dụng trí thông minh của mình để ghép các khúc gỗ lại với nhau, tạo thành một cấu trúc vững chắc. Mặt cầu cũng được gia cố bằng các thanh gỗ, giúp tạo thành một khối vững chắc và đồng đều. Hãy tưởng tượng, cách đây hơn một nghìn năm, khi chưa có máy móc xây dựng, việc đặt những khúc gỗ lớn như vậy lên trên sông quả là một công việc vô cùng khó khăn. Thật là một công trình vĩ đại! Bên cạnh cầu có những hàng rào chắc chắn, nhằm bảo vệ an toàn cho người đi xe và người đi bộ. Nhờ đó, hiệu suất và chất lượng của công trình đạt mức hoàn hảo, không còn điểm gì để chê trách. Cầu Hồng Kiều là con đường huyết mạch nối hai khu vực lại với nhau. Trên cầu, lượng xe cộ và người qua lại rất đông. Do có nhiều người qua lại, các tiểu thương cũng tận dụng cơ hội này để bán hàng. Có người bán hàng rong, có người bán thực phẩm; còn có cả những chiếc quầy bán các vật dụng kim khí như dao, kéo, khóa… Để sản phẩm của mình nổi bật hơn, các tiểu thương thiết kế quầy hàng theo kiểu dốc. Cảnh tượng này kéo dài đến tận đầu cầu, tạo nên một khu thương mại đặc sắc. Dưới cầu, có một con thuyền đang di chuyển ngược dòng sông, có vẻ như nó muốn cập bến. Người lái thuyền ở phía mũi thuyền đang kiểm tra độ sâu của dòng sông. Bởi vì ở chỗ gần đầu cầu, thường phải đặt vài tảng đá lớn xuống lòng sông, nhằm ngăn dòng nước xói mòn bờ sông và tránh tình trạng sụp đổ. Vì vậy, khi di chuyển thuyền ở vị trí này, cần phải hết sức cẩn thận để tránh việc thuyền mắc cạn và bị hư hại. http://p2.qhmsg.com/dr/220__/t01cdd3a004c98724ac.png Đây là một phần của bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” – cảnh các quán rượu nằm dọc theo bờ sông. Không xa đó, có vài chiếc thuyền đang neo đậu bên bờ. Trên dòng sông chính, có hai chiếc thuyền đang di chuyển. Tiếng hát của những người chèo thuyền vang vọng khắp nơi. Những cảnh tượng này, cùng với vẻ đẹp của dòng sông, tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp về phong tục tập quán của con người. Vì vậy, đây là nơi mà các nhà văn, quý tộc thích đến tham quan. Ở khu vực bên kia sông, các thương nhân đã chuẩn bị sẵn hai chiếc thuyền để mọi người có thể ngồi trên đó uống rượu, ca hát và ngắm cảnh dòng sông. Tiếp tục đi về phía trước, cảnh vật chuyển thành khu chợ sầm uất ngoại ô thành phố. Đây là khu vực nằm giữa bến sông Bian và cổng thành, rất thuận lợi cho các hoạt động thương mại. Nhờ không có chiến tranh trong nhiều năm, các quán trà, khách sạn dần được xây dựng lên. Có rất nhiều cửa hàng mọc lên san sát nhau; xe ngựa, lừa cũng di chuyển liên tục. Có thể thấy rõ hai thợ mộc đang miệt mài chế tạo một chiếc xe ngựa. Ở góc phố, có một thương nhân đang thuê lừa để chở hàng hóa; một người phụ nữ thì đang muốn thuê một chiếc kiệu để di chuyển. Phía trước nữa là một quảng trường nhỏ, đây cũng là con đường bắt buộc phải đi qua khi vào thành phố. Vì vậy, các hoạt động thương mại diễn ra rất sôi nổi. Một vị thầy bói cũng tận dụng cơ hội này để xây dựng một ngôi nhà ở đây; có rất nhiều người đến nhờ ông ta dự đoán về tuổi thọ và tài vận của mình, nên công việc kinh doanh của ông ta rất phát đạt. Bên dưới cây cầu nhỏ bắc qua con suối, có khá nhiều người lao động đang nghỉ ngơi. Một số người ngồi nghỉ, một số người thì ngủ gật; còn một số khác thì nằm xuống nghỉ. Bên trong chỗ này còn có cả lừa và ngựa được buộc lại ở đó. Có vẻ như họ đang tích trữ sức lực để có thể làm việc hăng say khi có việc phải làm. Dù hiện tại chưa có việc gì để làm, nhưng họ cũng không tranh giành khách hàng của người khác. Họ rất tuân thủ các quy tắc của nơi này. Nhìn vào khu chợ, có thể thấy rằng các công nhân ở đây rất bận rộn: một chiếc kiệu đã được mang lên vai người chở, còn một chiếc kiệu khác thì đang chờ được thuê. Trên cây cầu, có một người bán hàng đã bán hết hàng và trở về nhà. Phía bên kia, còn có vài con lừa ở gần cầu. Bên cạnh nhà, có một người phụ nữ đang ôm một đứa trẻ; gần đó còn có vài con lợn béo tốt nữa. Rẽ ở Quảng trường Lao động là Cầu Hào thành, các thương nhân không bỏ lỡ cơ hội mà dựng quầy bán hàng ngay tại đây. Có một người bán hàng đang bày bán những chiếc giỏ được làm từ mây và tre. Những chiếc giỏ này vừa nhẹ lại vừa bền chắc. Còn những chiếc đèn lồng thì càng được ưa chuộng hơn nữa; khi thắp sáng, chúng vừa tỏa ánh sáng tốt lại vừa chống được gió, rất phù hợp để sử dụng làm nguồn sáng vào ban đêm. Bạn có thể thấy có người vừa mua xong một chiếc đèn lồng rồi chuẩn bị rời đi, trong khi người bán hàng lại tiếp tục mời gọi khách hàng khác. Trên cầu, người qua kẻ lại tấp nập; ở hai bên cầu, cũng có nhiều người nhìn xuống dòng sông, hy vọng sẽ thấy ai đó đang câu được con cá lớn nào đó. Trước cổng thành có một gian hàng nhỏ thật thú vị. Người bán hàng đó đang cố gắng thu hút sự chú ý của những người đi bộ, dường như anh ta không muốn bỏ lỡ cơ hội nào để bán những món đồ kỳ lạ của mình. Những người đứng phía sau cũng đang quan sát xem anh ta làm ăn ra sao; có vẻ như họ đang giúp anh ta trong việc kinh doanh. Cổng thành rất cao lớn và hùng vĩ. Mấy con lạc đà từ từ bước ra khỏi thành. Loài vật này không có ở vùng đất này; chúng là đặc sản của vùng sa mạc Gobi. Người ta dùng chúng làm phương tiện vận chuyển hàng hóa. Có lẽ đó là những thương nhân từ vùng Tây Vực đến Bianliang để buôn bán; họ thuộc những nhóm thương nhân hoạt động trong các tuyến đường thương mại quốc tế dọc theo Con đường Tơ lụa. Trong thành phố còn có một cửa hàng đặc biệt: có vẻ như đó là nơi chuyên kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng hóa. Dịch vụ vận chuyển hàng hóa ở đây đã bắt đầu được phát triển. Bên cạnh đó, còn có một xưởng chế biến dầu thơm; việc bán dầu thơm diễn ra rất tốt. Ngoài ra, còn có xe ngựa để vận chuyển hàng hóa, và nguồn hàng cũng khá dồi dào. Có vẻ như cơ sở kinh doanh này đã bắt đầu phát triển ổn định rồi. Còn có một khách sạn gồm vài tầng; trước cửa khách sạn luôn có rất nhiều khách qua lại, bên trong cũng có khá nhiều khách. Chắc hẳn đó là nơi ở của các thương nhân giàu có. Ngay bên kia đường còn có một tiệm làm đẹp; ở trong thành phố này, mọi người đều rất chú trọng đến vẻ bề ngoài của mình. Chức năng của thành phố thật là đầy đủ; mọi thứ cần thiết cho cuộc sống như ăn, mặc, ở, dùng đều có sẵn. Có một cửa hàng bán vải lụa rất lớn, bên trong chứa đầy các loại vải lụa đủ màu sắc. Điều này cho thấy rằng nghề nuôi tằm và dệt vải vào thời đó rất phát triển. Nghề cung cấp nước cũng rất phổ biến; nước ngầm thì ngon ngọt và mát lành như nước khoáng vậy. Chỉ trong khu vực nhỏ này của thành phố đã có hai phòng khám. Bác sĩ Dương rất giỏi trong lĩnh vực phẫu thuật các bệnh về da; còn bác sĩ Triệu thì có tay nghề cao hơn nữa. Ông ấy giỏi chữa trị cả bệnh cho nam giới, phụ nữ và trẻ em. Các loại thuốc dạng viên, bột đều có sẵn, nên trình độ y tế vào thời đó khá cao. Từ hướng nội thành, có một đoàn người đang tiến tới. Phía trước đoàn người ấy là những người mang theo vũ khí để dẫn đường; thật oai phong lắm. Như người ta thường nói, quan văn thì ngồi trên kiệu, còn quan võ thì cưỡi ngựa. Đúng là một vị quan võ thật sự; phía sau ông ta còn có người cầm giúp ông ta thanh đao nữa. Còn có hai người nữa đang nắm chặt dây cương ở bến tàu; đó là cách hiệu quả nhất để tránh làm con ngựa hoảng sợ hoặc mất thăng bằng. Ở đây, hình ảnh có sự mâu thuẫn so với phần trước. Làm sao một sĩ quan như vậy có thể chiến đấu được chứ? Họ sống trong cảnh xa hoa, thoải mái như vậy. Còn các quan lại trong kinh thành thì chẳng biết tình hình ra sao nữa. Thưởng thức nội dung được gấp lại: http://p1.qhmsg.com/dr/220__/t013a81f69354d5a0e4.png. Tác phẩm “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” của họa sĩ Triệu Trạch Đoan thời Bắc Tống (phần cầu cầu vồng). Trong bức tranh này, người ta có thể nhận thấy một số đặc điểm nghệ thuật rất nổi bật: kỹ thuật vẽ vừa tinh xảo vừa tự nhiên; màu sắc được sử dụng rất thanh nhã. Đây không phải là kiểu tranh minh họa thông thường, mà có thể coi là một phong cách nghệ thuật riêng biệt. Cách bố cục sử dụng góc nhìn từ trên cao, giúp mô tả một cách chân thực và toàn diện khu vực ở góc đông nam của thành phố Biện Kinh vào thời điểm đó. Tác giả sử dụng hình thức cuộn tranh truyền thống, áp dụng phương pháp “tầm nhìn rải rác” để sắp xếp các yếu tố trong bức tranh. Hình ảnh dài nhưng không rườm rà, phức tạp nhưng không lộn xộn, được sắp xếp gọn gàng, như thể được tạo ra một cách liền mạch. Những cảnh vật được ghi lại trong bức tranh, từ những cánh đồng yên tĩnh, những dòng sông mênh mông, cho đến những bức tường thành cao chót vót ; Từ những con người trên thuyền xe, đến các món hàng được bày bán trên quầy, và cả những dòng chữ trên biển hiệu, tất cả đều được thể hiện một cách chi tiết và rõ ràng. Trong khung cảnh với hơn 500 nhân vật, có nhiều tình tiết được xen kẽ vào nhau một cách có trật tự, đồng thời mang lại sự thú vị cho bức tranh tổng thể. Nội dung gấp lại rất phong phú, mô tả vô số sự vật. Về mặt kỹ thuật thể hiện, bức “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” sử dụng phương pháp di chuyển điểm nhìn liên tục, tức là “phương pháp phối cảnh từ nhiều điểm khác nhau”, để ghi lại những cảnh vật cần được thể hiện. Từ những cánh đồng rộng lớn, những dòng sông mênh mông, những bức tường thành cao vút, cho đến những chi tiết nhỏ như đinh ốc trên các phương tiện di chuyển, những món hàng nhỏ của các người bán hàng rong, hay chữ viết trên các biển hiệu… tất cả đều được kết hợp hài hòa thành một tổng thể thống nhất. Trong bức tranh này có hình ảnh của các nhân vật như quan lại, nông dân, thương nhân, bác sĩ, thầy bói, tu sĩ, phụ nữ, trẻ em, người lái thuyền, người kéo dây thừng… cùng với các loài vật như lừa, bò, lạc đà. Có những tình tiết như đi chợ, mua bán, dạo chơi, uống rượu, trò chuyện, đẩy thuyền, kéo xe, ngồi kiệu, cưỡi ngựa, v.v. Trong bức tranh, có những con phố và ngõ hẻm dày đặc cửa hàng; có khách sạn, quán trà, tiệm bánh và vô số cơ sở kinh doanh khác. Ngoài ra còn có các tháp canh, bến sông, cầu cống, tàu chở hàng, cùng với những dinh thự của quan lại và những ngôi nhà tồi tàn của người dân nghèo. Trong bức “Thanh Minh Thượng Hà Đồ”, có hình ảnh của 1695 người, hơn sáu mươi con vật khác nhau, hơn hai mươi chiếc thuyền gỗ, hơn ba mươi tòa nhà và lầu các. Ngoài ra còn có hơn hai mươi chiếc xe đẩy và kiệu nữa. Nội dung phong phú và đa dạng như vậy là điều hiếm thấy trong các bức tranh cổ qua các thời đại. Các nhân vật với đủ màu sắc tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau; không chỉ trang phục của họ khác nhau mà cả vẻ ngoài và tính cách cũng riêng biệt. Các hoạt động này được sắp xếp xen kẽ với nhau, tạo nên những tình huống kịch tính đầy xung đột. Điều này khiến người xem có cảm giác thú vị và muốn suy ngẫm mãi sau khi xem xong. Cấu trúc gấp khúc rất chặt chẽ, phức tạp nhưng không lộn xộn, dài nhưng không rườm rà, các đoạn văn được phân chia rõ ràng. Điều đáng quý là nội dung vô cùng phong phú và đa dạng, chủ đề được nhấn mạnh rõ ràng, phần đầu và phần cuối liên kết chặt chẽ với nhau, khiến toàn bộ tác phẩm trở nên hài hòa thống nhất. Mỗi nhân vật, cảnh vật và chi tiết trong bức tranh đều được sắp xếp một cách hợp lý. Các mối quan hệ giữa các yếu tố trong bức tranh như mật độ, mức độ phức tạp, chuyển động và sự tập trung cũng được xử lý một cách vừa phải, giúp bức tranh trở nên đẹp mà không rối rắm. Điều này thể hiện rõ khả năng nhìn thấu đời sống xã hội một cách sâu sắc, cũng như khả năng tổ chức và kiểm soát bố cục hình ảnh xuất sắc của họa sĩ. Xét về nội dung, bức tranh này thuộc thể loại tranh mô tả phong tục, và cũng mang đầy đủ các đặc điểm của thể loại tranh này. Kỹ thuật gấp kết hợp giữa những đường nét mạnh mẽ và tinh xảo trong kỹ thuật thực hiện. Giỏi trong việc lựa chọn những thứ, khung cảnh và tình tiết vừa có tính hình tượng cao, đầy chất thơ mộng, vừa mang đậm đặc trưng bản chất để thể hiện. Những quan sát chi tiết về cuộc sống, khắc họa từng nhân vật và vật dụng. Mỗi người đều có địa vị riêng, vẻ mặt riêng, và câu chuyện riêng. Các công trình như nhà ở, cầu cống có kết cấu chắc chắn, được vẽ một cách tỉ mỉ. Xe ngựa thuyền đều được mô tả tỉ mỉ, chi tiết nhưng vẫn giữ được bức tranh toàn cảnh, không mất đi vẻ hùng vĩ của nó. Chẳng hạn, các vật dụng trên tàu, phương pháp đóng ốc vít, thậm chí cả cách buộc dây thì đều được mô tả một cách rõ ràng, khiến người ta phải kinh ngạc. Lịch sử của việc gấp giấy đã kéo dài 1101 năm; bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” do Trương Tạp Đoan vẽ cũng được lưu giữ trong cung điện hoàng gia. Tại phần đầu cuốn sách, Tống Huy Tông Triệu Cát đã viết năm dòng chữ lên đó, đồng thời khắc dấu ấn hình hai con rồng lên đó (dấu ấn này hiện đã bị mất). Năm 1127, sau sự kiện Jingkang, bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” rơi vào tay người Kim. Năm 1186, Zhang Zhu, Zhang Gongyao, Li Quan, Wang Jian cùng Zhang Shiji đã viết lời bình dưới phần cuối của bức tranh này. Năm 1260, sau khi nhà Nguyên được thành lập, bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” được lưu giữ trong kho báu của triều đình. Những người phụ trách xây dựng hồ trong cung đã dùng những bản sao giả để thay thế những bản gốc. Bán cho một vị quan cao cấp, nhưng giữa chừng lại bị người giữ hàng lén bán cho Trần Ngạn Liêm ở Hàng Châu. Năm 1351, Dương Chuẩn mua nó từ Trần. Trong bản ghi chép đi kèm có mô tả chi tiết về toàn bộ quá trình mua bán này. Năm sau, Lưu Hán ở Giang Tây đã xem tác phẩm này từ tay Dương Chuẩn, và viết lời bình luận về nó, gọi đó là “tác phẩm nghệ thuật xuất sắc vô song”. Năm 1365, Lý Kỳ thuộc triều Nguyên đã vẽ bản đồ của gia tộc họ Chu ở núi Tĩnh Sơn. Khoảng năm 1461, Ngô Khoan thuộc triều Minh đã ghi rằng bức tranh này nằm trong nhà của Chu Hạc Pha, người giữ chức quan tại Đại Lý Tự. “Chu Công Vân nói: “Bản vẽ này có bản thảo, ở nhà của Trương Anh Công.” ’”Năm 1451, Lý Đông Dương thuộc triều Minh đã viết hai bản chú thích dài ở phía sau bức tranh, ghi chi tiết nội dung của bức tranh cũng như quá trình lưu truyền nó trong triều đại nhà Minh. Sau thời Hồng Chí, bức tranh lại thuộc sở hữu của Từ Phủ, một vị quan cao cấp trong cung điện Hoa Cái. Khi sắp qua đời, Từ đã tặng nó cho Lý Đông Dương. Năm 1524, vùng đất này thuộc quyền quản lý của Lục Hoàn, người giữ chức Bộ trưởng Bộ Binh. Lục Tác viết lời tựa. Sau khi Lục Hoàn mất, con trai ông đã bán ngôi nhà đó cho gia đình Cố Đỉnh Thần ở Côn Sơn. Không lâu sau đó, ngôi nhà lại thuộc về cha con Yên Tung và Yên Thế Phan. Trong thời gian đó, có rất nhiều tin đồn lan truyền trong xã hội về việc cha con họ Yan Gao sử dụng bức “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” để hãm hại quan Đô sát Vương Bảo. Những tin đồn này sau được ghi chép lại trong các tác phẩm ghi chép lịch sử thời bấy giờ. Yan Song thất bại, tài sản của ông bị tịch thu và đưa vào cung điện. Năm 1578, Phùng Bảo, người thuộc cơ quan Si Lý Giám dưới triều Minh, đã viết những dòng chữ này. Bức tranh được chuyển từ cung đình sang tay Phùng Bảo. Năm 1644, sau khi Trung Quốc thuộc về nhà Thanh, tác phẩm này lần lượt được lưu giữ bởi các nhân vật như Lục Phí Chi và Tất Nguyên. Năm 1799, bốn năm sau khi Bi Yuan qua đời, tài sản của ông bị tịch thu. Các bức tranh của ông được mang về cung điện nhà Thanh, và được ghi chép trong cuốn “Thiết Khúc Bảo Cập Tam Biên”. Sau năm 1911, bức “Thanh Minh Thượng Hà Đồ”, cùng với các tác phẩm hội họa và thư pháp quý giá khác, đã bị Phổ Nghi, vị hoàng đế cuối cùng của triều đại nhà Thanh, lấy trộm ra khỏi cung điện dưới danh nghĩa tặng cho Phổ Kiệt. Ban đầu, chúng được lưu giữ tại vườn Trương ở khu thuộc sở hữu người nước ngoài ở Thiên Tân. Năm 1921, Puyi dùng cái cớ ban thưởng cho Pujie để lén mang các di vật như bức “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” ra khỏi cung điện. Những di vật này sau đó được chuyển từ Thiên Tân đến cung điện giả của Manchukuo ở Trường Xuân. Năm 1932, dưới sự hỗ trợ của người Nhật, Puyi đã thành lập nước Mãn Châu Quốc giả tạo. Vì vậy, bức tranh nổi tiếng này lại được đưa về Trường Xuân, và được lưu giữ trong thư viện thuộc khu vực phía đông của cung điện giả tạo đó. Tháng 8 năm 1945, Thế chiến thứ hai sắp kết thúc, và ngày tận thế của bọn xâm lược Nhật Bản cũng đã đến. Khi nhận ra tình hình nguy cấp, Phổ Nghi cùng chủ nhân người Nhật của mình lập tức bay trốn đến Đại Lý Tử Câu. Cung điện Mãn Châu giả bị cháy rụi, trở thành đống đổ nát. Trong cảnh hỗn loạn ấy, có nhiều kẻ lợi dụng cơ hội để xâm nhập vào cung điện và “cướp bóc”. Rất nhiều vật phẩm quý giá trong cung điện đã bị rơi vào tay người dân trong cuộc hỗn loạn này. Trong số đó có cả bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ”. Bị chặn lại ở Thông Hóa. Bức tranh được lưu giữ tại Bảo tàng Đông Bắc, sau đó được chuyển giao cho Bảo tàng Cố Cung ở Bắc Kinh. Năm 1948, Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã giải phóng thành phố Trường Xuân. Cán bộ của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc là Trương Kế Uy đã thông qua các cán bộ địa phương để thu thập được hơn mười cuộn tranh và tác phẩm nghệ thuật quý giá bị lạc mất từ Cung điện Mãn Châu Thụy Đức. Trong số đó có bức “Thanh Minh Thượng Hà Đồ”. Năm 1949, đồng chí Trương Kế Uy được điều đến làm việc tại Ủy ban Hành chính Đông Bắc. Trước khi rời đi, ông đã giao mười mấy cuộn giấy này cho đồng chí Lâm Phong – một trong những người chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng căn cứ cách mạng ở Đông Bắc lúc bấy giờ. Bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” đã được Lin Feng chuyển đến Bảo tàng Đông Bắc. Sau đó, bức tranh này lại được chuyển đến Bảo tàng Cố Cung ở Bắc Kinh để lưu giữ. Bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” của Song Zhang Zeduan được vẽ ở nhiều phiên bản khác nhau; đây là một tác phẩm hội họa hiện thực nổi tiếng khắp thế giới. Trong hơn một nghìn năm qua, bức tranh này đã có danh tiếng lừng lẫy, được yêu thích rộng rãi, và có rất nhiều người cố gắng sao chép nó. Ở nhiều nơi, cả các nhà sưu tập tư nhân lẫn công cộng đều còn giữ nhiều bản sao và bản giả của bức tranh này. Theo thống kê, hiện có hơn 30 bản “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” còn tồn tại; trong đó, Trung Quốc đại lục sở hữu hơn 10 bản, Đài Loan sở hữu 9 bản, Hoa Kỳ sở hữu 5 bản, Pháp sở hữu 4 bản; Anh và Nhật Bản mỗi nước sở hữu 1 bản. Chỉ riêng Bảo tàng Cố cung ở Đài Bắc đã sở hữu tới 7 bản. Bản in gấp tinh xảo nhất: http://p3.qhmsg.com/dr/220__/t01b9a8df86a7d6ae08.png. Đây là tác phẩm của Zhang Zeduan thời Bắc Tống, có tựa đề “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” (cảnh phố ở trung tâm thành phố Kaifeng). Tác giả của bức tranh này chính là Zhang Zeduan; hiện bức tranh được lưu giữ tại Bảo tàng Cố Cung. Vì vậy, nó được gọi là “Thanh Minh Thượng Hà Đồ – bản lưu giữ tại Cố Cung”. “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất trong lịch sử hội họa Trung Quốc. Không chỉ có chất lượng nghệ thuật xuất sắc, mà xung quanh tác phẩm này còn tồn tại rất nhiều câu chuyện thú vị. Trong lịch sử hội họa, có rất nhiều bức tranh mang tên “Thanh Minh Thượng Hà Đồ”, nhưng bản gốc thì chỉ có một thôi. Sau nhiều năm nghiên cứu về chủ đề này bởi các học giả và chuyên gia, mọi người đều có chung quan điểm rằng bức tranh hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Cố Cung ở Bắc Kinh chính là tác phẩm gốc của Trương Trạch Đoan thời Bắc Tống. Các tác phẩm nghệ thuật cùng tên khác đều là những bản sao được tạo ra sau này, hoặc là những tác phẩm giả mạo do người khác tự bịa đặt dựa trên tên của Trương Tạp Điện. Bản tranh được vẽ theo kiểu gấp lại còn được gọi là “bản của Qiu Ying”. Đây là một trong bốn họa sĩ nổi tiếng thuộc trường phái Wumen. Qiu Ying, một họa sĩ nổi tiếng thời nhà Minh, đã dựa trên chủ đề “Thanh Minh Thượng Hà”, kết hợp với cấu trúc bố cục của các bản tranh thời nhà Tống. Ông lấy thành phố Tô Châu thời nhà Minh làm bối cảnh, sử dụng kỹ thuật tô màu xanh lá cây để tạo ra một bức tranh hoàn toàn mới. Phong cách của bức tranh này khác biệt rõ rệt so với các bản tranh thời nhà Tống. ““Chou Ben” cũng chính là nguồn cảm hứng cho vô số tác phẩm được sao chép sau này. Theo ghi chép của người đời Minh, lúc bấy giờ có rất nhiều tác phẩm được tạo ra dựa trên mẫu này; chúng trở thành những món quà cao cấp mà các quan lại và gia đình giàu có thường tặng cho nhau. Được gọi là bản sao của Qiu Ying. Hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Cố cung Đài Bắc. Hiện nay, rất nhiều hình ảnh toàn cảnh về bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” được lan truyền trên Internet thực chất chính là phiên bản tác phẩm này. Bản tranh “Thanh Viện Bản” có thể được xem tại địa chỉ: http://p8.qhmsg.com/dr/220__/t012a917e45cef39838.png. Đây là bản tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” (phần một). Có ba phiên bản của bức tranh này; chúng được vẽ vào năm đầu tiên của triều đại Qianlong (năm 1736) bởi năm họa sĩ thuộc Viện Họa thuật hoàng gia nhà Thanh: Chen Mei, Sun Hu, Jin Kun, Dai Hong và Cheng Zhidao. Có thể coi đây là những tác phẩm được vẽ dựa trên các mẫu tranh từ các triều đại trước, kết hợp những ưu điểm của từng họa sĩ. Ngoài ra, bức tranh còn thể hiện những phong tục đặc trưng của thời Minh và Thanh, như việc đi dạo ngoài trời, các buổi biểu diễn giải trí… Do đó, bức tranh chứa đựng rất nhiều chi tiết thú vị, như các vở kịch, màn trình diễn của khỉ, các màn trình diễn kỹ năng đặc biệt… Mặc dù bức tranh đã mất đi những đặc điểm của thời nhà Tống, nhưng nó vẫn là tài liệu quan trọng để nghiên cứu về phong tục xã hội trong thời kỳ Minh và Thanh. Đồng thời, dưới ảnh hưởng của phong cách hội họa phương Tây, các công trình nhà cửa trên đường phố đều được vẽ theo nguyên lý phối cảnh, và có nhiều tòa nhà kiểu phương Tây được xây dựng ở đó. Cuốn tranh này có màu sắc rực rỡ và tươi sáng; nét vẽ tinh xảo và chuẩn xác. Các chi tiết như cầu, nhà cửa, con người đều được vẽ một cách tỉ mỉ và chính xác. Đây quả là một tác phẩm xuất sắc trong số các bức tranh thuộc thể loại này. Phiên bản này hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Cố cung Đài Bắc. Được gọi là bản Qingyuan của bức tranh Thanh Minh Thượng Hà Đồ. Các nhà phê bình thời sau đánh giá rằng tác giả đã sử dụng kỹ thuật vẽ dạng cuộn dài, áp dụng phương pháp tổ chức khung hình theo kiểu nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, nhờ đó mà những cảnh vật phức tạp được kết hợp thành một bức tranh thống nhất nhưng đầy sự biến hóa. Trong bức tranh này, người ta có thể thấy rõ vị trí xa gần, độ cao thấp của các tòa nhà, cầu, nhà ở; kích thước của cỏ cây, bò, lừa, lạc đà; cũng như hành vi của những người sống ở đó, những người đi lại, và sự di chuyển của thuyền bè. Tất cả những yếu tố này đều được miêu tả một cách chi tiết đến mức khó có thể liệt kê hết được. Toàn bộ bức tranh mang vẻ đẹp hùng vĩ, cấu trúc tỉ mỉ, và kỹ thuật vẽ tinh xảo. Điều này cho thấy khả năng quan sát sâu sắc của họa sĩ về cuộc sống xã hội, cùng khả năng nghệ thuật xuất sắc của ông. “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật hiện thực tuyệt vời, mà còn cung cấp cho chúng ta những thông tin chi tiết về hoạt động thương mại, công nghiệp thủ công, phong tục tập quán, kiến trúc, phương tiện di chuyển trong các thành phố lớn của triều đại Bắc Tống. Vì vậy, tác phẩm này có giá trị lớn với tư cách là tài liệu lịch sử quan trọng. Nội dung tư tưởng phong phú, góc nhìn thẩm mỹ độc đáo cùng kỹ thuật biểu đạt hiện thực chủ nghĩa đã khiến tác phẩm này trở thành kiệt tác trong lịch sử hội họa của Trung Quốc và cả thế giới. Cuốn “Lịch sử Trung Quốc (phiên bản có hình minh họa)” do Bạch Thọ Dã làm cố vấn biên soạn, đã đánh giá về bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” như sau: Trong toàn bộ bức tranh, có hơn 500 nhân vật được khắc họa, hơn 50 con vật, hơn 20 loại xe thuyền khác nhau, rất nhiều ngôi nhà, và vô số vật dụng khác. Cảnh tượng trong bức tranh rất rộng lớn, cấu trúc được sắp xếp một cách có tổ chức và ngăn nắp. Kỹ thuật điêu luyện, cách vẽ tinh tế, đường nét mạnh mẽ, trầm ổn và chuyên nghiệp. Phản ánh trình độ vẽ tay cực kỳ tinh xảo và những thành tựu nghệ thuật xuất sắc. Đồng thời, vì những bức tranh này là minh chứng cho đời sống xã hội thời bấy giờ, chúng đã cung cấp những tài liệu lịch sử quan trọng giúp các thế hệ sau nghiên cứu về đời sống xã hội trong các thành phố thời nhà Tống. Trong mục viết về “Trương Trạch Đoan” của Bách khoa toàn thư Anh ngắn gọn, tác phẩm “Bức tranh miêu tả cảnh đời sống vào dịp Tết Thanh Minh” được đánh giá là một bức tranh có giá trị lịch sử quan trọng. Họa sĩ đã khắc họa một cách xuất sắc cuộc sống của các tầng lớp xã hội trong thành phố Biện Kinh và các vùng lân cận vào dịp Tết Thanh Minh. Chủ yếu thể hiện ở người lao động và tầng lớp tiểu tư sản. Cách xử lý mối quan hệ tương tác giữa các nhân vật, công trình kiến trúc, phương tiện di chuyển, cây cối và dòng nước vô cùng tinh tế, tạo nên một tổng thể hài hòa; điều này mang lại giá trị nghiên cứu lịch sử rất lớn. Kể từ đó, tất cả các bức tranh mô tả phong tục thành thị được vẽ trong các thời kỳ sau đều chịu ảnh hưởng từ nó. Bí ẩn của bức tranh: Cảnh mùa thu được vẽ theo kiểu gấp lại http://p6.qhmsg.com/dr/220__/t01006e169466dca462.png Bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” do họa sĩ triều Bắc Tống là Trương Trạch Đoan vẽ, được coi là tác phẩm nghệ thuật quý giá, nổi tiếng khắp thế giới. Nó cũng giống như bức “Bức tranh năm con bò” do họa sĩ người Hán là Hàn Hàng sáng tác, đều được coi là “bảo vật quốc gia” trong thế giới hội họa. Người sưu tập bức tranh này đầu tiên chính là Hoàng đế Tống Huy Tông (Triệu Cát). Bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” được viết bằng chữ thư pháp “Thiểu Kim Thể”, cùng với con dấu hình rồng kép – những vật dụng mà các hoàng đế triều Đường sử dụng để ghi dấu khi thưởng thức hay sưu tầm các tác phẩm nghệ thuật. Những điều này cho thấy rằng ban đầu bức tranh được lưu giữ trong cung điện. Vào năm 1126, khi Bính Kinh thất thủ, tất cả các di vật quý giá trong cung điện, bao gồm cả bức tranh nổi tiếng này, đều bị người Kim chiếm đoạt. Ban đầu, người Kim không nhận ra giá trị của bức tranh này. Thêm 59 năm nữa trôi qua, tức là vào năm Đại Định thứ 26 của vua Kim Thế Tông (năm 1186), người Kim tên là Trương Chú đã viết lời bình cho bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ”. Trong lời bình đó, ông trích dẫn tác phẩm “Hướng Thị Bình Luận Đồ Họa Ký” để xác nhận rằng người Song tên là Trương Trạch Đoan chính là tác giả của hai bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” và “Tây Hồ Tranh Tiêu”. Nhờ vậy, tên gọi của bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” mới được xác định rõ ràng. Trong lịch sử, đã từng có nhiều tranh luận về thời điểm mà Trương Trạch Đoan sáng tác bức “Thanh Minh Thượng Hà Đồ”, cũng như ý nghĩa của từ “Thượng Hà”. Tuy nhiên, kể từ thời nhà Kim trở đi, dường như không còn ai phản đối việc bức tranh miêu tả cảnh vật vào dịp lễ Thanh Minh nữa. Trong “Nhật ký Vị Thủy Hiên” thời Minh có ghi chép rằng bức tranh này không chỉ có dòng chữ được viết bằng phong cách chữ “Thui Kim Thể” của Hoàng đế Tống Huy Tông, cùng với con dấu hình hai con rồng, mà còn có cả những bài thơ do chính Hoàng đế Tống Huy Tông sáng tác nữa ; Trong bài thơ có câu “Nước trên sông, mùa xuân đến”. Như vậy, chắc chắn bức tranh này mô tả cảnh vật của mùa xuân. Các nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật thời hiện đại như Trịnh Chấn Đạc, Từ Bang Đạt, Trương An Trị đều cho rằng đó chính là cảnh vật mùa xuân. Tuy nhiên, cũng có người phản đối điều này. Người đầu tiên nghi ngờ về lời kể về cảnh sắc mùa xuân chính là thầy giáo ở thành phố Kaifeng, ông Kong Xianyi. Vào năm 1981, ông đã đăng bài viết có tựa đề “Nghi vấn về khái niệm ‘Thanh Minh’ trong bức tranh Thanh Minh Thượng Hà Đồ” trên số thứ hai của tạp chí Mỹ Thuật. Trong bài viết này, ông đưa ra tám lý do để chứng minh rằng những gì được vẽ trong bức tranh Thanh Minh Thượng Hà Đồ thực chất là cảnh vật vào mùa thu. I. Ở phía bên phải của bức tranh, có con lừa đang chở 10 giỏ than củi. Theo ghi chép trong cuốn “Đông Kinh Mộng Hoa Lục” của Mạnh Nguyên Lão thời Bắc Tống, vào tháng 10 theo lịch âm hàng năm, kinh đô Biện Kinh bắt đầu sử dụng than để làm ấm không gian sống; mọi người cũng tổ chức những buổi tiệc uống rượu để ấm lòng. Việc sử dụng than để làm ấm vào khoảng thời gian trước và sau Tết Thanh Minh là điều trái với phong tục sinh hoạt của người dân thời đó. Meng Yuanlao và Zhang Zeduan sống cùng thời đại. “Đông Kinh Mộng Hóa Lục” là tài liệu quan trọng để nghiên cứu về phong tục tập quán của vùng Bianliang thời nhà Bắc Tống; những gì được ghi chép trong cuốn sách này có lẽ là đáng tin cậy. Thứ hai, trên khung hình có một khu vườn nông thôn với những bụi cây mọc um tùm; những cây này trông giống như cà tím. Điều thú vị hơn nữa là có vài đứa trẻ đang chạy nhảy, chơi đùa trong tình trạng khỏa thân. Tất cả những điều này đều không phải là những cảnh tượng thường thấy vào dịp Tết Thanh Minh. III. Trên hình ảnh, có hơn mười người cầm quạt; có người dùng quạt để quạt gió, có người dùng quạt để che nắng. Theo kiến thức thông thường, vào mùa hè người ta thường sử dụng quạt, còn vào đầu mùa xuân thì hiếm khi có ai dùng quạt. IV. Mũ rơm và mũ tre xuất hiện nhiều lần trong bức tranh. “Mũ rơm, mũ tre là những vật dụng dùng để chống nóng và chống mưa. Trong bức tranh này không có mưa, vì vậy chắc hẳn chúng được dùng để chống nắng. Xét theo khí hậu của Bình Lương vào thời đó, có vẻ như không cần thiết phải sử dụng chúng vào dịp Tết Thanh Minh. Điều này đáng để chúng ta nghi ngờ. ”V. Trên màn hình, có nhiều quán rượu; trên cờ hiệu của các quán ấy ghi dòng chữ “rượu mới”. Theo cuốn “Đông Kinh Mộng Hóa Lục”, vào trước Tết Trung Thu, tất cả các quán đều bán rượu mới… Người ta tranh nhau uống rượu ấy (xem mục “Tết Trung Thu” trong cuốn sách này). ”Vào thời nhà Tống, khi lúa mới được thu hoạch, người ta sẽ chế biến rượu từ lúa đó để ăn mừng mùa màng bội thu; nếu không thì sẽ không có rượu mới để uống. VI. Trên mặt đường có một quán trà nhỏ, trên biển hiệu của quán ghi dòng chữ “Kǒu Shǔ Yǐn Zǐ”. “Nếu chữ “thử” trong “Khẩu Thử Uống Tử” là chính xác, thì điều đó đã đủ để cho biết mùa của nó rồi. ”VII. Dọc theo bờ sông và trên các cây cầu, có nhiều quầy hàng của các tiểu thương, trên đó đều có những quả dưa hấu đã được cắt thành từng miếng. Vào đầu mùa xuân ở kinh đô cổ Biện Lương thời nhà Tống, thời tiết vẫn còn lạnh giá, nên không thể có những loại trái cây tươi như dưa hấu được. VIII. Hình ảnh những người đi thuyền, cưỡi ngựa cùng đoàn tùy tùng của họ; phía sau những ngôi mộ đất là khu vực dẫn đến thành phố. Nếu phân tích kỹ, mặc dù những người này có thể đến viếng mộ, nhưng thực ra việc đó giống như sau chuyến đi săn vào mùa thu hơn. Bởi vì việc viếng mộ có thể xảy ra trong cả bốn mùa; còn việc đặt hoa trên mộ thì có thể được giải thích thông qua hai mùa xuân và thu. Nhìn vào các hiện tượng trên hình ảnh, có vẻ như mùa thu mới là phù hợp với thực tế hơn. Quan điểm cho rằng “Thanh Minh” là một thuật ngữ dùng để chỉ lời ca ngợi được đưa ra sau bài viết “Nghi vấn về khái niệm ‘Thanh Minh’ trong bức tranh ‘Thanh Minh Thượng Hà Đồ’ của Khổng Hiến Dị”. Vào giữa những năm 1980, ông Tô Thân Thành đã trình bày bài nghiên cứu có tựa đề “Ý nghĩa xã hội của các tài liệu mô tả về thời đại nhà Tống” tại Hội nghiên cứu lịch sử nhà Tống ở Trung Quốc. Ông cho rằng “Thanh Minh” không phải là tên của một mùa vụ, cũng không phải là tên của một địa danh. Ở đây, từ “Thanh Minh” vốn là lời ca ngợi mà họa sĩ Trương Trạch Đoan đã viết khi dâng tặng bức tranh này. Vì vậy, có người cho rằng “Thanh Minh” ở đây nên được hiểu theo nghĩa rộng. Trong “Hậu Hán Thư” có ví dụ như thế này: “Thật may mắn khi được sống trong thời đại ‘minh quang’…” Nhìn từ giọng văn, từ “minh quang” ở đây ám chỉ việc chính sách được thực hiện một cách khôn ngoan và công bằng. Dòng chữ “Thanh Minh” được ghi trên bức tranh, vốn là lời khen ngợi mà Trương Tạp Đoan dâng lên các vị hoàng đế để họ cảm nhận được giá trị của tác phẩm này. Người Kim để lại lời ghi trên bức tranh rằng: “Vào ngày đó, các học sĩ đã trình lên bức tranh này; cảnh vật trong tranh thật xứng đáng được lưu truyền.” ”Nêu rõ chủ đề của bức tranh này là thể hiện cảnh vật yên bình. Về thời điểm Zhang Zeduan qua đời, ông từng làm việc tại Học viện Hội họa và Thư pháp dưới triều đại của Hoàng đế Huizong. Người sở hữu bức tranh này đầu tiên chính là Hoàng đế Huizong của nhà Song. Rõ ràng, họa sĩ vẽ bức tranh này với mục đích ca ngợi thời kỳ thịnh trị, nhằm lấy lòng vị quân chủ tối cao. Biết được bối cảnh này, rõ ràng từ “Thanh Minh” không chỉ đơn thuần là tên của một mùa trong năm. Có những luận điệu về tính xác thực của bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ”. Ngay từ thời Minh và Thanh đã có nhiều tin đồn về điều này. Trong cuốn “Thức Tiểu Lục” của Xu Shupi thời nhà Thanh, có ghi rằng trong bức tranh có bốn người đang chơi xúc xắc; hai quân xúc xắc cho kết quả là sáu điểm, còn một quân xúc xắc thì đang quay. Những người chơi xúc xắc này mở miệng ra và hô “sáu”, hy vọng sẽ có thêm một quân xúc xắc cho kết quả sáu điểm nữa. Bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” mô tả cảnh vật ở Bích Liêng. Có một người thợ làm tranh tên là Thang Cần cho rằng, người dân ở Bích Liêng phát âm chữ “lục” bằng giọng đặc biệt; trong khi đó, những người trong bức tranh lại mở miệng để phát âm chữ “lục”. Điều này cho thấy đó là giọng điệu của người Mân (Phúc Kiến). Ông nghi ngờ rằng bức tranh này là tác phẩm giả mạo. Trong cuốn “Tiêu Hạ Nhàn Ký” của Yên Công Khánh cũng có ghi chép tương tự. Sử sách ghi rằng Thang Cần còn nghiên cứu kỹ đôi chân của con chim sẻ trong bức tranh; con chim ấy đang đặt chân lên hai góc ngói. Có lẽ đó chính là điểm yếu trong tác phẩm của người vẽ bản sao này. Người tên Tang Qins, không mấy nổi tiếng, những gì anh ta nói có thực sự hợp lý không? Có vẻ cần phải nghiên cứu thêm. Bí ẩn về ý nghĩa của việc gấp lại: Bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” của Trương Trạch Đoan là một tác phẩm vĩ đại; chắc hẳn nó mang một ý nghĩa sâu xa nào đó. Vậy, “Thanh Minh” và “Thượng Hà” trong bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” có ý nghĩa gì nhỉ? Các chuyên gia và học giả nghiên cứu về bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” đã đưa ra ba quan điểm khác nhau thông qua việc nghiên cứu ý nghĩa của ngày “Thanh Minh”. Thứ nhất, ý nghĩa của ngày Thanh Minh là…” ; Hai, ý nghĩa của “Thanh Minh Phường”” ; Ba, tức là “ý nghĩa của thời đại thịnh vượng, yên bình”. Các chuyên gia và học giả có quan điểm về “Tết Thanh Minh” bao gồm cố chuyên gia đánh giá di vật là ông Trịnh Chấn Đạc, cùng với chuyên gia đánh giá tranh thư pháp là ông Từ Bang Đạt, v.v. Ông Trịnh Chấn Đạc thậm chí còn chỉ ra rằng chính là vào ngày Tết Thanh Minh. Chuyên gia và học giả theo quan điểm “Qingming Fang” chính là cố ông Khổng Hiến Dịch, từng giảng dạy tại trường trung học Khai Phong ở tỉnh Hà Nam. Năm 1981, ông Khổng Hiến Dịch đã đăng bài viết có tựa đề “Bức tranh Qingming Shanghe Tu – Những thắc mắc” trên tạp chí Mỹ thuật. Trong bài viết của mình, ông Khổng Hiến Dịch đã tiến hành nghiên cứu và phân tích các vật phẩm như than củi, đá lăn, quạt, dưa hấu, trang phục, v.v., và kết luận rằng đó chính là bức tranh miêu tả cảnh mùa thu. Ý nghĩa của Qingming chính là “Khu phố Qingming”. Theo đó, vào thời điểm đó, thành phố Tokyo được chia thành 136 khu dân cư. Khu vực ngoại ô phía đông của thành phố lại được chia thành 3 khu, và khu đầu tiên trong số đó chính là “Khu Qingming”. Những chuyên gia và học giả có quan điểm “thời đại thịnh vượng”, trong số đó có ông Thị Thụ Thanh – một chuyên gia đánh giá nổi tiếng. Ông Thị Thụ Thanh cho rằng: “‘Thanh Minh’ không chỉ đơn thuần là tên của ngày lễ Thanh Minh, mà còn là biểu tượng để ca ngợi một thời đại thịnh vượng, ổn định. Nói cách khác, ‘Thanh Minh’ chính là biểu hiện của sự ổn định trong chính trị.” ”Nhiều chuyên gia và học giả đã đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau về ý nghĩa của từ “Thanh Minh” trong bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ”. Vậy thì, “Thượng Hà” trong bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” có nghĩa là gì nhỉ? Trong thời gian dài, một số chuyên gia và học giả cũng đã đưa ra nhiều cách giải thích về ý nghĩa của hai chữ “Thượng Hà”. Về ý nghĩa của “Thượng Hà”, có một vài quan điểm khác nhau. Một số chuyên gia cho rằng “Thượng Hà” có nghĩa là “phần thượng nguồn của con sông”” ; Có chuyên gia và học giả cho rằng “Thượng Hà” có nghĩa là “di chuyển ngược dòng nước” ; Cũng có các chuyên gia và học giả cho rằng “thượng hà” chính là ý nghĩa của việc “đi thăm mộ”” ; Còn có các chuyên gia và học giả cho rằng “Thượng Hà” chính là ý nghĩa của việc ra phố để mua bán. Theo ghi chép trong “Tokyo Menghua Lu”, sông Bian bắt nguồn từ khu vực Luo Kou thuộc Tây Kinh, sau đó chảy vào kinh thành. Từ đó, dòng sông tiếp tục chảy về phía đông, qua tỉnh Si Zhou để đổ vào sông Huai. Sông này được dùng để vận chuyển lương thực từ các vùng phía đông nam. Theo đoạn văn này, từ tây bắc sang đông nam là dòng nước chảy xuống, ngược lại là dòng nước chảy lên. Do đó, một số chuyên gia và học giả cho rằng “thượng hà” chính là việc đi thuyền ngược dòng sông Bian. Tuy nhiên, cũng có các chuyên gia và học giả đưa ra quan điểm khác nhau. Theo ghi chép trong lời tựa của Lý Đông Dương thời nhà Minh dành cho bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ”, có viết rằng: “‘Thượng hà’ là cách mà người đời xưa thường sử dụng để chỉ việc chôn cất người chết; giống như việc chôn cất người chết ngày nay vậy. Vì vậy mà mới có cách gọi này.” ”Đây chính là cơ sở quan trọng mà một số chuyên gia và học giả đưa ra để lập luận rằng “lên sông” chính là “lên mộ”. Tuy nhiên, vẫn có các chuyên gia và học giả đưa ra quan điểm khác, cho rằng “Thượng Hà” không thể được hiểu như một động từ, mà nên được coi là một danh từ riêng. Nếu hiểu theo nghĩa của một danh từ, thì “Thượng Hà” chính là tên của con sông Ngự Hà. Cũng có các học giả đặt ra nghi vấn: Mặc dù bức “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” miêu tả một cảnh tượng thịnh vượng, rực rỡ, nhưng trong bức tranh này cũng có hình ảnh của những kẻ ăn xin, những con lợn chạy lung tung trên đường phố, và những người lính lười biếng ngồi trước cửa dinh quan. Làm sao có thể giải thích những hình ảnh này, vốn trái ngược hoàn toàn với khung cảnh thái bình thịnh vượng được miêu tả trong bức tranh? Giới thiệu về tác giả: http://p9.qhmsg.com/dr/220__/t019fe716b9415b7b48.png. Trương Tạc Đoan, sinh năm 1085 – mất năm 1145; tự là Chính Đạo. Người Hán, đến từ Đông Vũ, Lãng Dương (nay là Chuzheng, tỉnh Sơn Đông). Họa sĩ nổi tiếng thời Bắc Tống. Bức tranh mô tả phong tục “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” của ông là một trong những bức tranh nổi tiếng thế giới, đồng thời cũng là tác phẩm tiêu biểu nhất của ông. Từ nhỏ đã ham học hỏi, thời trẻ đã đi du học tại Bính Kinh (nay là Khai Phong, tỉnh Hà Nam), sau đó chuyên về hội họa. Vào thời vua Tống Huy Tông, ông làm việc tại Viện Hội họa Hàn Lâm, chuyên vẽ các kiến trúc cung điện. Ông đặc biệt giỏi trong việc vẽ các loại thuyền bè, cửa hàng, cầu cống, con đường và tường thành. Sau đó, ông phải sống trong cảnh nghèo khó, kiếm sống bằng nghề bán tranh. Ông đã vẽ những tác phẩm nổi tiếng như “Bức tranh mô tả cảnh tranh giành quyền sở hữu hồ Tây” và “Bức tranh mô tả cảnh phố xá vào dịp Tết Thanh Minh”. Ông là một họa sĩ hiện thực xuất sắc vào cuối triều Bắc Tống. Hầu hết các tác phẩm của ông đều đã bị thất lạc; chỉ còn lại hai tác phẩm là “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” và “Kim Minh Trì Tranh Tiêu Đồ”, những tác phẩm này được coi là những báu vật nghệ thuật quý giá của Trung Quốc cổ đại. “Bức tranh Minh Thanh Thượng Hà Đồ” hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Cố Cung ở Bắc Kinh. Ngoài ra, Bảo tàng Nghệ thuật Thiên Tân còn lưu giữ một bức tranh nhỏ có chữ ký “Trương Trạch Đoan”, mang tựa đề “Cảnh tranh giành quyền sở hữu hồ Tây”. Đây là tác phẩm được vẽ theo yêu cầu của người khác; hiện tác phẩm này đã được chuyển sang Bảo tàng Thiên Tân. “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Đây chính là minh họa tuyệt vời cho các tác phẩm như “Đông Kinh Mộng Hoa Lục”, “Thánh Kỳ Phú”, “Biện Đô Phú”… Tác phẩm này có giá trị lớn trong việc nghiên cứu lịch sử. Nó không chỉ kế thừa và phát triển truyền thống hội họa mô tả phong tục cổ đại của Trung Quốc – những truyền thống đã bị thất lạc từ lâu – mà còn kế thừa được những giá trị tốt đẹp từ các tác phẩm hội họa mô tả phong tục thời Bắc Tống. Trương Tạp Đoan đã khắc họa rất chân thực và sống động những cử chỉ và biểu cảm của từng nhân vật. Điều này chứng tỏ rằng Zhang Zeduan có nền tảng sống vô cùng vững chắc, và kỹ năng sáng tạo của ông cũng rất điêu luyện. Bản gốc được trưng bày. Từ tháng 9 năm 2015, Cố Cung sẽ tiếp tục đóng cửa vào mỗi thứ Hai. Và cùng với dịp kỷ niệm 90 năm của Cố Cung, một loạt các triển lãm quan trọng sẽ lần lượt được tổ chức. Trong số đó, nổi bật nhất là triển lãm đặc biệt về “Thạch Khúc Bảo Cập” bắt đầu từ ngày 8 tháng 9. Những bảo vật quý giá như “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” sẽ được đưa trở lại kho để “nghỉ ngơi” vào ngày 12 tháng 10. Bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” của Trương Trạch Đoan thời nhà Tống sẽ được trưng bày toàn bộ sau mười năm. Giám đốc Bộ mỹ thuật và thư pháp của Cung điện Hoàng gia, ông Tăng Quân, cho biết rằng hầu hết các tác phẩm trưng bày lần này đều là những cổ vật hạng nhất từ thời nhà Tống và nhà Nguyên; chúng sẽ được trưng bày chủ yếu tại Điện Vũ Anh. Sau triển lãm, những bảo vật quốc gia này sẽ được cất giữ “ngủ đông”, và ít nhất là 3 năm nữa chúng mới xuất hiện trước công chúng.
Reply #22016-10-24
Đáng thương thay, nhà Bắc Tống quá coi trọng kinh tế và văn hóa, lại không chú trọng đến quốc phòng; coi trọng văn học mà khinh thường quân sự, điều này dẫn đến sự diệt vong của họ.
Reply #32016-10-25
Nỗi nhục Kinh Khang vẫn chưa được báo thù; nỗi oán hận của các quan lại, khi nào mới có thể tan biến? 。 。 Đáng thương
Reply #42016-10-25
Tôi đã đến Công viên Qingming Shanghe ở Kaifeng. Nơi này được đầu tư rất nhiều tiền để xây dựng, và chất lượng khá tốt. Nghe nói nơi này còn được niêm yết trên sàn giao dịch New Third Board nữa.
Reply #52016-10-27
Bức tranh “Thanh Minh Thượng Hà Đồ” là một tác phẩm hội họa khổng lồ, chất lượng vô cùng xuất sắc
Reply #62016-10-28
Đã từng thấy tác phẩm điêu khắc gỗ “Thanh Minh Thượng Hà Đồ”, những nghệ nhân giỏi ở trong dân gian

Submit a Project

**Looking for Chemical Technology, Equipment & Solutions?** No Registration Required Broader Platform Exposure | Global Chemical Service Provider Connections

Submit Request — Free Consultation

Disclaimer

This is an automated machine translation of the original thread. Some technical terms may have inaccuracies; the original text shall prevail. Click "View Original" at the top right to access the source page, which supports IP-based automatic real-time language translation. Please watch out for contact details and sales inducements to prevent fraud. All content and translations are for reference only, representing solely the poster's personal views. For enquiries, email service@hcbbs.com.