Việc lưu trữ hóa chất nguy hiểm phải tuân theo những quy định nào?
Thread Content
Vẫn là GB 15603-1995 phải không? Điều chỉnh cho có vẻ ngoài cổ kínhSắc lệnh số 591 của Hội đồng Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. “Quy định về quản lý an toàn hóa chất nguy hiểm” đã được sửa đổi tại cuộc họp thường kỳ lần thứ 144 của Hội đồng Nhà nước vào ngày 16 tháng 2 năm 2011. Bản quy định đã được sửa đổi này nay được công bố, và sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Thủ tướng Chính phủ **
Ngày 2 tháng 3 năm 2011
Quy định về quản lý an toàn hóa chất nguy hiểm
(Được ban hành theo Nghị định số 344 của Hội đồng Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày 26 tháng 1 năm 2002; được sửa đổi và thông qua tại phiên họp thường kỳ lần thứ 144 của Hội đồng Nhà nước ngày 16 tháng 2 năm 2011)
Chương I: Những quy định chung
Điều 1: Nhằm tăng cường việc quản lý an toàn hóa chất nguy hiểm, ngăn ngừa và giảm thiểu các tai nạn liên quan đến hóa chất nguy hiểm, bảo vệ tính mạng và tài sản của người dân, cũng như bảo vệ môi trường, nên có những quy định này. Điều 2: Các quy định về quản lý an toàn trong việc sản xuất, lưu trữ, sử dụng, kinh doanh và vận chuyển các chất nguy hiểm đều được áp dụng theo quy định của điều lệ này. Việc xử lý các chất nguy hiểm bị loại bỏ phải được thực hiện theo các luật pháp về bảo vệ môi trường, các quy định hành chính liên quan, cũng như các quy định khác có liên quan. Điều 3: Các chất nguy hiểm được đề cập trong quy định này là những chất có tính chất độc hại, ăn mòn, gây nổ, cháy nổ, hoặc kích thích sự cháy nổ; những chất này gây nguy hiểm cho con người, cơ sở vật chất và môi trường. Danh mục các hóa chất nguy hiểm được xác định và công bố bởi cơ quan quản lý an toàn lao động thuộc Hội đồng Nhà nước, phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan như Bộ Công nghiệp và Công nghệ thông tin, Bộ Công an, Bộ Bảo vệ môi trường, Bộ Y tế, cơ quan giám sát chất lượng và kiểm dịch, Bộ Giao thông vận tải, ngành đường sắt, ngành hàng không dân dụng, và ngành nông nghiệp. Danh mục này được xác định dựa trên các tiêu chuẩn để phân loại và xác định mức độ nguy hiểm của các hóa chất, đồng thời được điều chỉnh định kỳ. Điều 4: Việc quản lý an toàn đối với các chất nguy hiểm cần tuân thủ nguyên tắc “an toàn là ưu tiên hàng đầu, phòng ngừa là chìa khóa, và cần có biện pháp quản lý toàn diện”. Đồng thời, cần tăng cường và thực hiện rõ trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc đảm bảo an toàn. Người chịu trách nhiệm chính của các đơn vị sản xuất, lưu trữ, sử dụng, kinh doanh và vận chuyển hóa chất nguy hiểm (sau đây gọi chung là các đơn vị hóa chất nguy hiểm) phải chịu trách nhiệm toàn diện về công tác quản lý an toàn liên quan đến hóa chất nguy hiểm trong đơn vị mình. Các đơn vị sản xuất, kinh doanh chất nguy hiểm phải đáp ứng các điều kiện an toàn được quy định trong luật pháp, các văn bản quy phạm hành chính, cũng như các tiêu chuẩn và quy định của ngành. Các đơn vị này cần xây dựng và hoàn thiện các quy chế quản lý an toàn cùng hệ thống trách nhiệm an toàn tại từng vị trí công việc. Đồng thời, cần tổ chức các buổi đào tạo về an toàn, kiến thức pháp luật và kỹ năng chuyên môn cho những người làm việc tại đó. Nhân viên làm việc trong lĩnh vực này cần phải được đào tạo và huấn luyện; chỉ sau khi vượt qua các kỳ kiểm tra thì họ mới được phép bắt đầu làm việc ; Đối với các vị trí yêu cầu phải có chứng chỉ năng lực, cần bổ nhiệm những người đã có chứng chỉ tương ứng theo quy định của pháp luật. Điều 5: Không một tổ chức hay cá nhân nào được phép sản xuất, kinh doanh hoặc sử dụng các chất nguy hiểm bị cấm sản xuất, kinh doanh và sử dụng. **Đối với các chất nguy hiểm, có những quy định hạn chế về việc sử dụng chúng. Bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào cũng không được vi phạm các quy định này khi sử dụng chất nguy hiểm. Điều 6: Các cơ quan chịu trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn trong việc sản xuất, lưu trữ, sử dụng, kinh doanh và vận chuyển các chất nguy hiểm (sau đây gọi chung là các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn đối với các chất nguy hiểm) phải thực hiện các nhiệm vụ của mình theo các quy định sau:
(1) Cơ quan giám sát và quản lý an toàn trong sản xuất chịu trách nhiệm về công tác giám sát và quản lý tổng thể liên quan đến an toàn của các chất nguy hiểm. Cơ quan này chịu trách nhiệm xác định, công bố và điều chỉnh danh mục các chất nguy hiểm; kiểm tra các dự án xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng các cơ sở sản xuất, lưu trữ các chất nguy hiểm (bao gồm cả việc sử dụng các đường ống dẫn để vận chuyển các chất nguy hiểm); cấp giấy phép sản xuất an toàn cho các chất nguy hiểm, giấy phép sử dụng an toàn cho các chất nguy hiểm và giấy phép kinh doanh các chất nguy hiểm. Ngoài ra, cơ quan này còn chịu trách nhiệm về việc đăng ký các chất nguy hiểm. (II) Cơ quan công an chịu trách nhiệm quản lý an toàn công cộng đối với các hóa chất nguy hiểm. Họ cấp giấy phép mua các hóa chất cực độc, cũng như giấy phép cho việc vận chuyển các hóa chất này bằng đường bộ. Ngoài ra, cơ quan công an còn chịu trách nhiệm quản lý an toàn giao thông đường bộ đối với các phương tiện vận chuyển hóa chất nguy hiểm. (III) Các cơ quan giám sát chất lượng, kiểm tra và kiểm dịch chịu trách nhiệm cấp giấy phép sản xuất cho các doanh nghiệp sản xuất hóa chất nguy hiểm cùng các vật liệu đóng gói, bao bì của chúng (không bao gồm các bồn chứa lớn dùng để lưu trữ hóa chất nguy hiểm; xem thêm mục sau). Đồng thời, các cơ quan này cũng có trách nhiệm giám sát chất lượng sản phẩm theo quy định của pháp luật, và kiểm tra các hóa chất nguy hiểm cũng như các vật liệu đóng gói của chúng khi chúng được nhập khẩu hoặc xuất khẩu. (IV) Cơ quan chuyên trách về bảo vệ môi trường có trách nhiệm giám sát việc xử lý các chất hóa học nguy hiểm đã hết hạn sử dụng. Cơ quan này cũng tổ chức việc đánh giá mức độ nguy hiểm của các chất hóa học đối với môi trường và mức độ rủi ro mà chúng gây ra. Ngoài ra, cơ quan này còn chịu trách nhiệm ghi nhận thông tin về các chất hóa học cần được quản lý chặt chẽ, cũng như thông tin về các chất hóa học mới được tạo ra ; Theo phân công nhiệm vụ, tiến hành điều tra các vụ tai nạn gây ô nhiễm môi trường do hóa chất nguy hiểm và các sự cố gây tổn hại đến hệ sinh thái; đồng thời chịu trách nhiệm giám sát môi trường tại hiện trường các vụ tai nạn liên quan đến hóa chất nguy hiểm. (5) Cơ quan quản lý giao thông chịu trách nhiệm cấp phép cho việc vận chuyển các chất nguy hiểm bằng đường bộ và đường thủy, đồng thời quản lý an toàn của các phương tiện vận chuyển. Cơ quan này cũng giám sát việc vận chuyển các chất nguy hiểm bằng đường thủy. Ngoài ra, cơ quan này còn chịu trách nhiệm xác định trình độ chuyên môn của các nhân viên lái xe, thủy thủ, nhân viên quản lý việc bốc dỡ hàng hóa, nhân viên hộ tống, nhân viên khai báo, và nhân viên kiểm tra hàng hóa trong quá trình đóng gói hàng hóa vào container. Cơ quan quản lý đường sắt chịu trách nhiệm về việc quản lý an toàn trong việc vận chuyển các chất nguy hiểm bằng đường sắt. Cơ quan này cũng chịu trách nhiệm xét duyệt các điều kiện của những đơn vị vận chuyển và người gửi hàng, đồng thời quản lý an toàn của các phương tiện vận chuyển. Cơ quan quản lý hàng không dân dụng chịu trách nhiệm về việc vận chuyển các chất nguy hiểm bằng đường hàng không, cũng như quản lý an toàn của các doanh nghiệp vận tải hàng không và các phương tiện vận chuyển của họ. (6) Cơ quan quản lý y tế chịu trách nhiệm về việc đánh giá mức độ độc hại của các chất nguy hiểm. Ngoài ra, cơ quan này còn chịu trách nhiệm tổ chức và phối hợp các hoạt động cứu trợ y tế dành cho những người bị thương trong các vụ tai nạn liên quan đến chất nguy hiểm. (7) Cơ quan quản lý công nghiệp và thương mại sẽ cấp giấy phép kinh doanh cho các doanh nghiệp sản xuất, lưu trữ, kinh doanh và vận chuyển hóa chất nguy hiểm, dựa trên các giấy phép do các cơ quan liên quan cấp. Đồng thời, cơ quan này cũng sẽ xử lý những hành vi vi phạm của các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất nguy hiểm trong việc mua bán hóa chất này một cách trái phép. (8) Cơ quan quản lý bưu chính có trách nhiệm xử lý các hành vi vận chuyển hàng hóa nguy hiểm theo đúng pháp luật. Điều 7: Các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn đối với các chất nguy hiểm phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát theo đúng quy định của pháp luật. Các cơ quan này có thể áp dụng các biện pháp sau: (1) Đi vào nơi sản xuất, sử dụng các chất nguy hiểm để kiểm tra tại chỗ; tìm hiểu tình hình từ các đơn vị và cá nhân liên quan; xem xét, sao chép các tài liệu, thông tin liên quan ; (II) Khi phát hiện những nguy cơ liên quan đến chất nguy hiểm, phải yêu cầu khắc phục ngay lập tức hoặc trong thời hạn quy định ; (III) Đối với các thiết bị, máy móc, dụng cụ, phương tiện vận chuyển không đáp ứng các quy định của pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật, hoặc các tiêu chuẩn, quy định ngành, thì buộc phải ngừng sử dụng chúng ngay lập tức ; (IV) Với sự phê duyệt của người chịu trách nhiệm cao nhất trong cơ quan này, có thể niêm phong các địa điểm sản xuất, lưu trữ, sử dụng hoặc kinh doanh các chất nguy hiểm một cách trái phép. Đồng thời, có thể tịch thu các chất nguy hiểm được sản xuất, lưu trữ, sử dụng hoặc vận chuyển một cách trái phép, cũng như các nguyên vật liệu, thiết bị và phương tiện vận chuyển dùng để sản xuất, sử dụng hoặc vận chuyển các chất nguy hiểm đó ; (5) Khi phát hiện những hành vi vi phạm ảnh hưởng đến an toàn của các chất nguy hiểm, cần khắc phục ngay tại chỗ hoặc yêu cầu bên vi phạm khắc phục trong thời hạn quy định. Các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn đối với các chất nguy hiểm phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát theo đúng pháp luật. Số lượng nhân viên tham gia công tác kiểm tra, giám sát không được ít hơn 2 người, và họ phải xuất trình giấy tờ chứng minh quyền hạn khi thực hiện nhiệm vụ ; Các đơn vị và cá nhân liên quan phải hợp tác với các hoạt động kiểm tra, giám sát được thực hiện theo pháp luật; không được từ chối hay cản trở. Điều 8: Các cơ quan nhân dân ở cấp huyện trở lên phải thành lập cơ chế phối hợp trong công tác giám sát và quản lý an toàn đối với các chất nguy hiểm. Các cơ quan này cần hỗ trợ và giám sát các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn đối với các chất nguy hiểm, để họ thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Đồng thời, các cơ quan này cũng cần phối hợp nhằm giải quyết các vấn đề quan trọng trong công tác giám sát và quản lý an toàn đối với các chất nguy hiểm. Các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn đối với các chất nguy hiểm cần phải phối hợp với nhau một cách chặt chẽ, từ đó thực hiện việc giám sát và quản lý an toàn đối với các chất nguy hiểm một cách nghiêm ngặt theo đúng pháp luật. Điều 9: Bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào phát hiện ra hành vi vi phạm các quy định của quy chế này, đều có quyền báo cáo cho cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn đối với các chất nguy hiểm. Các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn đối với các chất nguy hiểm, khi nhận được tin báo, phải xử lý vấn đề đó một cách kịp thời và theo đúng pháp luật ; Đối với những vấn đề không thuộc thẩm quyền xử lý của bộ phận mình, cần phải chuyển giao kịp thời cho các bộ phận có thẩm quyền để xử lý. Điều 10: **Khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất hóa chất nguy hiểm và các doanh nghiệp sử dụng hóa chất nguy hiểm trong quá trình sản xuất áp dụng những công nghệ, quy trình, thiết bị tiên tiến cũng như hệ thống kiểm soát tự động nhằm nâng cao mức độ an toàn. Đồng thời, khuyến khích việc lưu trữ hóa chất nguy hiểm một cách có hệ thống, phân phối chúng một cách thống nhất và bán chúng tại những địa điểm được quy định.** Chương 2: An toàn trong sản xuất và lưu trữ
Điều 11: **Việc sản xuất và lưu trữ các chất nguy hiểm cần được quy hoạch một cách tổng thể và có sự bố trí hợp lý.** Cơ quan quản lý ngành công nghiệp và công nghệ thông tin thuộc Hội đồng Nhà nước, cùng với các cơ quan liên quan khác của Hội đồng Nhà nước, sẽ phụ trách việc lập kế hoạch và sắp xếp các hoạt động sản xuất, lưu trữ hóa chất nguy hiểm, theo phạm vi trách nhiệm của mình. Các tổ chức dân cư địa phương khi xây dựng kế hoạch phát triển đô thị và nông thôn, cần dựa trên tình hình thực tế của khu vực mình, và tuân theo nguyên tắc đảm bảo an toàn. Họ cần quy hoạch ra những khu vực phù hợp để sản xuất và lưu trữ các chất nguy hiểm. Điều 12: Các dự án xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng các cơ sở sản xuất, lưu trữ hóa chất nguy hiểm (sau đây gọi là các dự án xây dựng) phải được cơ quan quản lý an toàn lao động kiểm tra về các điều kiện an toàn. Đơn vị xây dựng phải tiến hành đánh giá các điều kiện an toàn liên quan đến dự án xây dựng. Đồng thời, họ cần ủy thác cho các tổ chức có đủ năng lực theo quy định để thực hiện việc đánh giá mức độ an toàn của dự án. Kết quả của việc đánh giá các điều kiện an toàn và việc đánh giá mức độ an toàn này phải được báo cáo lên cơ quan quản lý an toàn lao động thuộc cấp thành phố nơi dự án được triển khai ; Cơ quan quản lý, giám sát an toàn sản xuất phải đưa ra quyết định xem xét trong vòng 45 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo, và phải thông báo bằng văn bản cho đơn vị thực hiện dự án. Các biện pháp cụ thể sẽ do cơ quan quản lý, giám sát an toàn lao động thuộc Hội đồng Nhà nước xây dựng. Các dự án xây dựng, cải tạo hoặc mở rộng các cảng dùng để lưu trữ và bốc dỡ hóa chất nguy hiểm sẽ được cơ quan quản lý cảng kiểm tra về các điều kiện an toàn, theo quy định của cơ quan quản lý giao thông vận tải thuộc Chính phủ. Điều 13: Các đơn vị sản xuất, lưu trữ hóa chất nguy hiểm phải đặt những dấu hiệu rõ ràng trên các đường ống chứa hóa chất nguy hiểm đó. Đồng thời, các đơn vị này cũng cần kiểm tra và đo lường các đường ống này một cách định kỳ. Khi tiến hành các công việc xây dựng có thể gây nguy hiểm đến an toàn của các đường ống chứa chất nguy hiểm, đơn vị thi công phải thông báo bằng văn bản cho đơn vị quản lý đường ống trước 7 ngày khởi công. Đồng thời, hai bên cần cùng nhau xây dựng kế hoạch ứng phó khẩn cấp và áp dụng các biện pháp bảo vệ an toàn cần thiết. Đơn vị sở hữu đường ống cần phải cử nhân viên chuyên trách đến hiện trường để hướng dẫn các biện pháp bảo vệ an toàn cho đường ống. Điều 14: Trước khi bắt đầu sản xuất, các doanh nghiệp sản xuất hóa chất nguy hiểm phải tuân thủ các quy định trong “Quy định về giấy phép an toàn sản xuất”, và phải có giấy phép an toàn sản xuất hóa chất nguy hiểm mới được phép hoạt động. Các doanh nghiệp sản xuất các hóa chất nguy hiểm thuộc danh mục các sản phẩm công nghiệp phải có giấy phép sản xuất, thì phải tuân theo quy định tại “Quy định về quản lý giấy phép sản xuất sản phẩm công nghiệp của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” để có được giấy phép sản xuất đó. Các cơ quan chịu trách nhiệm cấp giấy phép an toàn trong sản xuất các chất nguy hiểm và giấy phép sản xuất sản phẩm công nghiệp, cần phải báo cáo kịp thời về việc cấp giấy phép này cho các cơ quan quản lý ngành công nghiệp và thông tin truyền thông cùng cấp, cơ quan quản lý môi trường, cũng như cơ quan công an. Điều 15: Các doanh nghiệp sản xuất hóa chất nguy hiểm phải cung cấp tờ hướng dẫn an toàn về hóa chất tương ứng với loại hóa chất mà họ sản xuất. Ngoài ra, họ còn phải dán hoặc gắn nhãn an toàn tương ứng lên bao bì của hóa chất nguy hiểm (bao gồm cả bao bì bên ngoài), sao cho nhãn đó phù hợp với loại hóa chất bên trong bao bì. Nội dung được ghi trong tờ hướng dẫn an toàn hóa chất và nhãn an toàn hóa chất phải tuân thủ các yêu cầu của **tiêu chuẩn**. Các doanh nghiệp sản xuất hóa chất nguy hiểm, khi phát hiện ra rằng các hóa chất mà họ sản xuất có thêm những đặc tính nguy hiểm mới, thì phải ngay lập tức công bố thông tin này, đồng thời sửa đổi kịp thời các tài liệu hướng dẫn an toàn về hóa chất và nhãn mác an toàn của chúng. Điều 16: Các doanh nghiệp sản xuất các chất nguy hiểm cần được quản lý một cách chặt chẽ về mặt môi trường phải báo cáo cho cơ quan quản lý môi trường về các thông tin liên quan đến việc thải các chất nguy hiểm này ra môi trường, theo quy định của cơ quan quản lý môi trường thuộc Chính phủ. Cơ quan quản lý bảo vệ môi trường có thể áp dụng các biện pháp kiểm soát rủi ro môi trường phù hợp tùy theo tình hình. Điều 17: Bao bì của các chất nguy hiểm phải tuân thủ các quy định của pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật, cũng như các tiêu chuẩn và quy định của ngành. Vật liệu dùng để đóng gói các chất nguy hiểm, cũng như kiểu dáng, kích thước, phương pháp đóng gói và trọng lượng của từng bao bì, đều phải phù hợp với tính chất và mục đích sử dụng của chất nguy hiểm được đóng gói. Điều 18: Các doanh nghiệp sản xuất bao bì, thiết bị chứa đựng các hóa chất nguy hiểm thuộc danh mục các sản phẩm công nghiệp phải có giấy phép sản xuất, thì phải tuân theo quy định tại “Quy định về việc cấp giấy phép sản xuất sản phẩm công nghiệp của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” để có được giấy phép sản xuất ; Các bao bì và thiết bị chứa chất nguy hiểm do công ty này sản xuất phải trải qua kiểm tra bởi các cơ quan kiểm định được Bộ Giám sát Chất lượng, Kiểm tra và Kiểm dịch của Chính phủ phê duyệt; chỉ khi vượt qua các tiêu chuẩn kiểm tra thì mới được đưa ra thị trường để bán. Các tàu vận chuyển hóa chất nguy hiểm cùng các thùng chứa được sử dụng trên tàu đó phải được sản xuất theo **tiêu chuẩn kiểm tra tàu thuyền**, và phải qua kiểm tra của cơ quan kiểm tra tàu thuyền được cơ quan quản lý hàng hải công nhận, thì mới có thể được đưa vào sử dụng. Đối với các bao bì, thiết bị chứa chất nguy hiểm được sử dụng lại, đơn vị sử dụng cần tiến hành kiểm tra chúng trước khi tái sử dụng ; Nếu phát hiện có nguy cơ an toàn, cần phải sửa chữa hoặc thay thế. Đơn vị sử dụng phải ghi chép lại kết quả kiểm tra; thời hạn lưu trữ các bản ghi chép này không được ít hơn 2 năm. Điều 19: Các thiết bị sản xuất hóa chất nguy hiểm, hoặc các cơ sở lưu trữ hóa chất nguy hiểm với khối lượng lớn đến mức tạo thành nguồn nguy cơ nghiêm trọng (không bao gồm các trạm xăng, trạm nạp khí dùng để vận chuyển hóa chất), phải tuân thủ các quy định liên quan về khoảng cách giữa chúng và các khu vực, cơ sở sau đây: (i) các khu dân cư, trung tâm thương mại, công viên và các nơi có mật độ dân cư cao khác ; (II) Các cơ sở công cộng như trường học, bệnh viện, rạp chiếu phim, sân vận động (đài thể thao), v.v ; (III) Nguồn nước uống, các nhà máy xử lý nước và khu vực bảo vệ nguồn nước ; (IV) Các nhà ga, bến cảng (trừ những nơi được phép theo luật định để thực hiện các hoạt động bốc dỡ hóa chất nguy hiểm), sân bay, cùng với các tuyến đường truyền thông, các trung tâm truyền thông, đường sắt, các tuyến đường giao thông trên bộ, các tuyến đường giao thông trên sông, các khu vực thông gió trong tàu điện ngầm và lối vào/ra của các ga tàu điện ngầm ; (5) Các khu bảo vệ đất nông nghiệp cơ bản, các vùng thảo nguyên cơ bản, các khu bảo vệ nguồn gen gia súc và gia cầm, các trang trại chăn nuôi gia súc và gia cầm quy mô lớn (các khu chăn nuôi), các vùng nuôi trồng thủy sản, cùng các cơ sở sản xuất hạt giống, vật giống gia súc và gia cầm, giống thủy sản ; (VI) Các con sông, hồ nước, khu danh lam thắng cảnh, khu bảo tồn thiên nhiên ; (7) **Khu cấm,** khu quản lý ; (8) Các địa điểm, cơ sở, khu vực khác được quy định bởi luật pháp và các văn bản quy phạm pháp luật. Các thiết bị sản xuất hóa chất nguy hiểm đã được xây dựng, hoặc các cơ sở lưu trữ hóa chất nguy hiểm với khối lượng lớn đến mức tạo thành nguồn nguy cơ nghiêm trọng, nếu không tuân thủ các quy định nêu trên, thì cơ quan quản lý an toàn lao động thuộc chính quyền thành phố nơi cơ sở đó tọa lạc sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan để yêu cầu đơn vị đó khắc phục sai phạm trong thời hạn quy định ; Trong trường hợp cần chuyển sang sản xuất mặt hàng khác, ngừng sản xuất, di dời hoặc đóng cửa, thì việc này sẽ do cơ quan nhân dân cấp đó quyết định và tổ chức thực hiện. Vị trí xây dựng các cơ sở lưu trữ hóa chất nguy hiểm, vốn có khả năng gây ra những mối nguy hiểm nghiêm trọng do lượng hóa chất được lưu trữ quá nhiều, cần được chọn sao cho tránh xa các đường đứt gãy địa chấn và những khu vực dễ xảy ra lũ lụt hay các thảm họa địa chất khác. Theo quy định của điều lệ này, nguồn nguy hiểm nghiêm trọng là những đơn vị (bao gồm cả các địa điểm và cơ sở) có hoạt động sản xuất, lưu trữ, sử dụng hoặc vận chuyển hóa chất nguy hiểm, và lượng hóa chất đó bằng hoặc vượt quá mức ngưỡng cho phép. Điều 20: Các đơn vị sản xuất, lưu trữ hóa chất nguy hiểm phải, dựa vào loại hình và đặc tính nguy hiểm của các hóa chất mà mình đang xử lý, thiết lập các thiết bị an toàn cần thiết tại nơi làm việc, như thiết bị giám sát, kiểm soát, thông gió, chống nắng, điều chỉnh nhiệt độ, chống cháy, chữa cháy, chống nổ, giảm áp lực, chống độc, trung hòa chất độc, chống ẩm, chống sét, chống tĩnh điện, chống ăn mòn, ngăn chặn rò rỉ, cùng các công trình bảo vệ khác. Đồng thời, các đơn vị này phải thường xuyên bảo trì, duy tu các thiết bị an toàn này theo các tiêu chuẩn, quy định ngành hoặc các quy định liên quan, nhằm đảm bảo chúng hoạt động bình thường. Các đơn vị sản xuất, lưu trữ hóa chất nguy hiểm phải lắp đặt các biển cảnh báo an toàn rõ ràng tại nơi làm việc cũng như trên các thiết bị, công trình an toàn của mình. Điều 21: Các đơn vị sản xuất, lưu trữ chất nguy hiểm phải lắp đặt các thiết bị liên lạc và báo động tại nơi làm việc của mình, đồng thời đảm bảo rằng các thiết bị này luôn hoạt động bình thường. Điều 22: Các doanh nghiệp sản xuất, lưu trữ hóa chất nguy hiểm phải ủy thác cho các tổ chức có đủ điều kiện theo quy định để tiến hành đánh giá mức độ an toàn trong hoạt động sản xuất của mình mỗi 3 năm một lần, và phải gửi báo cáo về kết quả đánh giá đó. Nội dung báo cáo đánh giá an toàn cần bao gồm kế hoạch khắc phục các vấn đề liên quan đến điều kiện an toàn trong quá trình sản xuất. Các doanh nghiệp sản xuất, lưu trữ hóa chất nguy hiểm phải nộp báo cáo đánh giá an toàn cùng với kết quả thực hiện các biện pháp khắc phục lên cơ quan quản lý an toàn lao động thuộc cấp huyện nơi doanh nghiệp đó hoạt động, để được ghi nhận vào hồ sơ. Các doanh nghiệp lưu trữ hóa chất nguy hiểm trong khu vực cảng phải nộp báo cáo đánh giá an toàn cùng với thông tin về việc thực hiện các biện pháp khắc phục lên cơ quan quản lý cảng để lưu trữ. Điều 23: Các đơn vị sản xuất, lưu trữ các hóa chất cực độc, hoặc các hóa chất nguy hiểm khác mà Bộ Công an của Chính phủ quy định là có thể được sử dụng để chế tạo vũ khí (sau đây gọi là các hóa chất dễ gây nổ), phải ghi chép chính xác số lượng và hướng di chuyển của các hóa chất cực độc, các hóa chất dễ gây nổ này. Đồng thời, các đơn vị này cần áp dụng các biện pháp phòng ngừa cần thiết nhằm ngăn chặn việc các hóa chất này bị mất mát hoặc bị đánh cắp ; Nếu phát hiện ra các chất hóa học cực độc, hoặc các chất nguy hiểm dễ gây nổ bị mất hoặc bị đánh cắp, cần phải báo ngay cho cơ quan công an địa phương. Các đơn vị sản xuất, lưu trữ các hóa chất cực độc hoặc các hóa chất dễ gây nổ phải thành lập bộ phận bảo vệ an ninh, và bố trí nhân viên chuyên trách về công tác bảo vệ an ninh. Điều 24: Các chất nguy hiểm cần được lưu trữ trong các kho chuyên dụng, khu vực chuyên dụng hoặc phòng lưu trữ chuyên dụng (sau đây gọi chung là kho chuyên dụng). Việc quản lý các chất này phải do người được chỉ định đảm nhiệm ; Các hóa chất cực độc, cùng những hóa chất nguy hiểm khác mà lượng tồn trữ của chúng tạo thành nguồn nguy cơ nghiêm trọng, cần được lưu trữ riêng trong các kho chuyên dụng. Đồng thời, cần áp dụng quy định về việc hai người phụ trách việc nhận và giao hàng, cũng như hai người khác phụ trách việc bảo quản chúng. Cách thức lưu trữ, phương pháp bảo quản cũng như số lượng chất nguy hiểm được lưu trữ phải tuân thủ các **tiêu chuẩn** hoặc các quy định liên quan. Điều 25: Các đơn vị lưu trữ hóa chất nguy hiểm phải thiết lập hệ thống kiểm tra và ghi chép việc nhập xuất hóa chất nguy hiểm. Đối với các hóa chất cực độc và những hóa chất nguy hiểm khác mà lượng tồn trữ của chúng tạo thành nguồn nguy cơ nghiêm trọng, đơn vị lưu trữ phải báo cáo về số lượng hóa chất được lưu trữ, địa điểm lưu trữ cũng như thông tin về người quản lý cho cơ quan quản lý an toàn sản xuất thuộc cấp huyện nơi đó (nếu hóa chất được lưu trữ trong khu cảng, thì phải báo cáo cho cơ quan quản lý cảng). Ngoài ra, cũng cần báo cáo cho cơ quan công an nữa. Điều 26: Kho chứa các chất nguy hiểm phải tuân thủ các tiêu chuẩn quy định, cũng như các yêu cầu của ngành. Ngoài ra, cần có các biển báo rõ ràng để chỉ dẫn. Các kho chuyên dùng để lưu trữ hóa chất độc hại cao, các hóa chất dễ gây nổ cần được trang bị các thiết bị phòng ngừa kỹ thuật phù hợp, theo **những quy định liên quan**. Các đơn vị lưu trữ hóa chất nguy hiểm cần thường xuyên kiểm tra, đánh giá các thiết bị và công trình an toàn trong kho chứa hóa chất nguy hiểm của mình. Điều 27: Các đơn vị sản xuất, lưu trữ hóa chất nguy hiểm, khi chuyển sang sản xuất loại hàng hóa khác, ngừng sản xuất, ngừng kinh doanh hoặc giải thể, phải có biện pháp hiệu quả để xử lý kịp thời và đúng cách các thiết bị dùng để sản xuất hóa chất nguy hiểm, các cơ sở lưu trữ hóa chất nguy hiểm, cũng như lượng hóa chất nguy hiểm còn tồn kho. Không được vứt bỏ hóa chất nguy hiểm ; Kế hoạch xử lý cần được gửi đến cơ quan quản lý an toàn lao động ở cấp huyện nơi dự án được thực hiện, cùng với các cơ quan chức năng phụ trách công nghiệp và thông tin truyền thông, cơ quan quản lý môi trường, và cơ quan công an để lưu hồ sơ. Cơ quan quản lý an toàn sản xuất phải phối hợp với cơ quan quản lý môi trường và cơ quan công an để kiểm tra tình hình xử lý các sự cố. Nếu phát hiện rằng việc xử lý chưa được thực hiện đúng theo quy định, thì cần yêu cầu họ phải xử lý ngay lập tức. Chương 3: An toàn trong quá trình sử dụng
Điều 28: Các đơn vị sử dụng hóa chất nguy hiểm phải đảm bảo rằng các điều kiện sử dụng của mình (bao gồm cả quy trình sản xuất) phải tuân thủ các quy định của pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật, cũng như các tiêu chuẩn và quy định của ngành. Ngoài ra, các đơn vị này cần xây dựng và hoàn thiện các quy định về quản lý an toàn và quy trình thao tác an toàn phù hợp với loại hóa chất nguy hiểm được sử dụng, đặc tính nguy hiểm của chúng, cùng với lượng và cách thức sử dụng. Những biện pháp này nhằm đảm bảo việc sử dụng hóa chất nguy hiểm một cách an toàn. Điều 29: Các doanh nghiệp hóa chất sử dụng chất nguy hiểm trong quá trình sản xuất, và lượng chất nguy hiểm được sử dụng vượt quá mức quy định (không bao gồm các doanh nghiệp sản xuất chất nguy hiểm; xem thêm phần sau), phải có giấy phép sử dụng an toàn chất nguy hiểm theo quy định của các quy định này. Tiêu chuẩn về lượng hóa chất nguy hiểm được sử dụng, như đã quy định ở khoản trên, sẽ do cơ quan quản lý an toàn lao động thuộc Chính phủ phối hợp với cơ quan công an và cơ quan quản lý nông nghiệp của Chính phủ để xác định và công bố. Điều 30: Các doanh nghiệp hóa chất muốn xin giấy phép sử dụng an toàn các chất nguy hiểm, ngoài việc phải tuân thủ các quy định tại Điều 28 của quy định này, còn phải đáp ứng các điều kiện sau: (1) Phải có đội ngũ kỹ thuật viên chuyên môn phù hợp với loại chất nguy hiểm mà họ sử dụng ; (II) Có cơ quan quản lý an toàn và nhân viên chuyên trách về an toàn ; (III) Có kế hoạch ứng phó khẩn cấp đối với các sự cố liên quan đến hóa chất nguy hiểm, phù hợp với các quy định hiện hành; đồng thời có đầy đủ trang thiết bị và dụng cụ cần thiết để ứng phó trong trường hợp khẩn cấp ; (IV) Đã tiến hành đánh giá an toàn theo đúng quy định của pháp luật. Điều 31: Các doanh nghiệp hóa chất muốn xin giấy phép sử dụng an toàn các chất nguy hiểm phải nộp đơn lên cơ quan quản lý an toàn sản xuất thuộc chính quyền thành phố nơi doanh nghiệp đó hoạt động. Đồng thời, các doanh nghiệp này cũng phải nộp các tài liệu chứng minh rằng mình đáp ứng được các điều kiện quy định tại Điều 30 của quy định này. Cơ quan quản lý, giám sát an toàn sản xuất thuộc cấp thành phố có quyền tổ chức kiểm tra theo đúng quy định của pháp luật. Cơ quan này phải đưa ra quyết định chấp thuận hoặc từ chối trong vòng 45 ngày kể từ ngày nhận được các tài liệu chứng minh cần thiết. Nếu được phê duyệt, sẽ cấp giấy phép sử dụng an toàn các chất nguy hiểm ; Nếu không được chấp thuận, sẽ thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn và nêu rõ lý do. Cơ quan quản lý, giám sát an toàn sản xuất phải báo cáo kịp thời về việc cấp giấy phép sử dụng an toàn các chất nguy hiểm cho cơ quan quản lý môi trường cùng cấp và cơ quan công an. Điều 32: Các quy định tại Điều 16 của quy chế này liên quan đến các doanh nghiệp sản xuất các hóa chất nguy hiểm cần được quản lý một cách nghiêm ngặt về mặt môi trường, cũng được áp dụng cho các doanh nghiệp sử dụng các hóa chất nguy hiểm này trong quá trình sản xuất ; Điều 20, Điều 21, khoản 1 của Điều 23 và Điều 27 – những quy định liên quan đến các đơn vị sản xuất, lưu trữ hóa chất nguy hiểm – cũng được áp dụng đối với các đơn vị sử dụng hóa chất nguy hiểm ; Điều 22 quy định về các doanh nghiệp sản xuất, lưu trữ hóa chất nguy hiểm cũng được áp dụng đối với những doanh nghiệp sử dụng hóa chất nguy hiểm trong quá trình sản xuất. Chương 4: An toàn trong hoạt động kinh doanh
Điều 33: **Hoạt động kinh doanh các chất nguy hiểm (bao gồm cả việc lưu trữ chúng, được hiểu tương tự như vậy) phải tuân theo chế độ cấp phép.** Không một tổ chức hay cá nhân nào được phép kinh doanh các chất nguy hiểm mà không có sự cho phép. Các doanh nghiệp sản xuất hóa chất nguy hiểm được thành lập theo quy định của pháp luật, khi bán các loại hóa chất nguy hiểm mà mình sản xuất trong khuôn viên nhà máy của mình, thì không cần phải có giấy phép kinh doanh hóa chất nguy hiểm. Theo quy định của Luật Cảng của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, những đơn vị kinh doanh cảng đã có giấy phép kinh doanh cảng thì không cần phải xin thêm giấy phép để kinh doanh các chất nguy hiểm trong khu vực cảng. Điều 34: Các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất nguy hiểm phải đáp ứng các điều kiện sau: (1) Phải có cơ sở kinh doanh đáp ứng các tiêu chuẩn quy định; nếu lưu trữ hóa chất nguy hiểm, thì còn phải có cơ sở lưu trữ đáp ứng các tiêu chuẩn tương ứng ; (II) Nhân viên phải trải qua đào tạo chuyên môn và vượt qua kỳ kiểm tra ; (III) Có hệ thống quy định và chính sách quản lý an toàn chặt chẽ ; (IV) Có nhân viên chuyên trách về quản lý an toàn ; (V) Có kế hoạch ứng phó khẩn cấp đối với các sự cố liên quan đến hóa chất nguy hiểm, phù hợp với các quy định hiện hành; đồng thời có đầy đủ trang thiết bị cần thiết để ứng phó trong tình huống khẩn cấp ; (6) Các điều kiện khác được quy định bởi luật pháp và các văn bản pháp luật. Điều 35: Các doanh nghiệp kinh doanh các chất hóa học cực độc hoặc các chất hóa học dễ gây nổ phải nộp đơn xin cấp phép cho cơ quan quản lý an toàn lao động thuộc chính quyền cấp thành phố tại nơi doanh nghiệp đó hoạt động. Còn các doanh nghiệp kinh doanh các loại chất hóa học khác thì phải nộp đơn xin cấp phép cho cơ quan quản lý an toàn lao động thuộc chính quyền cấp huyện tại nơi doanh nghiệp đó hoạt động (trong trường hợp doanh nghiệp có cơ sở lưu trữ chất hóa học, thì phải nộp đơn xin cấp phép cho cơ quan quản lý an toàn lao động thuộc chính quyền cấp thành phố). Người nộp đơn phải nộp các tài liệu chứng minh rằng mình đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 34 của quy chế này. Cơ quan quản lý, giám sát an toàn sản xuất thuộc cấp thành phố có quận hoặc cấp huyện phải tiến hành xem xét theo đúng quy định của pháp luật. Các cơ quan này cũng cần kiểm tra trực tiếp địa điểm kinh doanh và cơ sở lưu trữ của người nộp đơn. Họ phải đưa ra quyết định chấp thuận hay từ chối trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được các tài liệu chứng minh. Nếu được phê duyệt, sẽ cấp giấy phép kinh doanh hóa chất nguy hiểm ; Nếu không được chấp thuận, sẽ thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn và nêu rõ lý do. Các cơ quan quản lý an toàn sản xuất thuộc cấp thành phố có quyền hành chính và các cơ quan quản lý an toàn sản xuất thuộc cấp huyện phải báo cáo kịp thời về việc cấp giấy phép kinh doanh các chất nguy hiểm cho cơ quan quản lý môi trường và cơ quan công an cùng cấp. Người nộp đơn chỉ được phép tham gia vào các hoạt động kinh doanh chất nguy hiểm sau khi đã có giấy phép kinh doanh chất nguy hiểm và hoàn tất thủ tục đăng ký tại cơ quan quản lý công thương. Nếu theo quy định của pháp luật, các văn bản quy phạm hành chính hoặc quy định của Hội đồng Nhà nước, việc kinh doanh các chất nguy hiểm còn đòi hỏi phải có sự cho phép từ các cơ quan liên quan khác, thì khi nộp đơn xin đăng ký tại cơ quan quản lý công thương, người nộp đơn cũng phải mang theo các giấy phép tương ứng. Điều 36: Các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất nguy hiểm khi lưu trữ các loại hóa chất này phải tuân thủ các quy định liên quan đến việc lưu trữ hóa chất nguy hiểm được nêu trong Chương 2 của quy định này. Trong cửa hàng hóa chất nguy hiểm, chỉ được lưu trữ những loại hóa chất nguy hiểm có bao bì nhỏ dành cho mục đích sử dụng dân dụng. Điều 37: Các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất nguy hiểm không được mua hóa chất nguy hiểm từ những doanh nghiệp chưa có giấy phép để sản xuất hoặc kinh doanh hóa chất nguy hiểm. Đồng thời, các doanh nghiệp này cũng không được kinh doanh những loại hóa chất nguy hiểm không có tờ hướng dẫn an toàn hoặc nhãn báo hiệu an toàn tương ứng. Điều 38: Các doanh nghiệp đã được cấp giấy phép sản xuất an toàn đối với hóa chất nguy hiểm, giấy phép sử dụng an toàn đối với hóa chất nguy hiểm, và giấy phép kinh doanh hóa chất nguy hiểm theo quy định của pháp luật, thì có thể mua các loại hóa chất cực độc hoặc hóa chất dễ gây nổ với sự hỗ trợ của các giấy phép tương ứng. Các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa dân dụng mua các chất hóa học nguy hiểm dễ gây nổ với giấy phép sản xuất hàng hóa dân dụng. Các đơn vị không thuộc diện được quy định tại khoản trên, nếu muốn mua các chất hóa học cực độc, thì phải nộp đơn xin giấy phép mua chất hóa học cực độc cho cơ quan công an cấp huyện tại nơi mình đặt trụ sở ; Những người muốn mua các chất hóa học dễ gây nổ cần phải có giấy xác nhận về mục đích sử dụng hợp pháp do chính đơn vị mình cấp. Cá nhân không được mua các hóa chất cực độc (trừ các loại thuốc trừ sâu thuộc nhóm hóa chất cực độc) và các hóa chất dễ gây nổ. Điều 39: Khi nộp đơn xin cấp giấy phép mua các hóa chất có độc tính cao, người nộp đơn phải nộp các tài liệu sau cho cơ quan công an cấp huyện tại nơi cư trú của mình: (1) Bản sao giấy phép kinh doanh hoặc giấy chứng nhận pháp nhân (giấy chứng nhận đăng ký) ; (II) Giải thích về loại và số lượng hóa chất độc hại dự định mua ; (III) Giải thích mục đích mua các hóa chất cực độc ; (IV) Giấy tờ chứng minh danh tính của người thực hiện công việc. Cơ quan công an nhân dân cấp huyện phải đưa ra quyết định chấp thuận hoặc từ chối trong vòng 3 ngày kể từ ngày nhận được các tài liệu theo quy định tại khoản trên. Nếu được phê duyệt, sẽ cấp giấy phép mua hóa chất độc hại ; Nếu không được chấp thuận, sẽ thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn và nêu rõ lý do. Quy định về việc cấp giấy phép mua hóa chất độc hại do cơ quan công an thuộc Chính phủ quyết định. Điều 40: Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hóa chất nguy hiểm khi bán các loại hóa chất cực độc hoặc hóa chất dễ gây nổ, phải kiểm tra các giấy phép hoặc chứng từ liên quan được quy định tại các khoản 1 và 2 của Điều 38 của Quy định này. Không được bán các loại hóa chất cực độc hoặc hóa chất dễ gây nổ cho những đơn vị không có các giấy phép hoặc chứng từ cần thiết. Đối với những người mua các chất hóa học cực độc thông qua giấy phép mua chúng, thì việc bán các chất này phải tuân theo loại và số lượng được ghi trong giấy phép. Cấm bán các hóa chất cực độc cho cá nhân (trừ các loại thuốc trừ sâu thuộc nhóm hóa chất cực độc) cũng như các hóa chất dễ gây nổ. Điều 41: Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hóa chất nguy hiểm khi bán các loại hóa chất cực độc hoặc hóa chất dễ gây nổ, phải ghi chép đầy đủ thông tin về tên, địa chỉ của đơn vị mua hàng, tên người liên hệ, số chứng minh thư nhân dân của họ, cũng như loại, số lượng và mục đích sử dụng của các loại hóa chất cực độc hoặc hóa chất dễ gây nổ đó. Thời hạn lưu trữ các hồ sơ bán hàng, bản sao chứng minh nhân dân của người phụ trách, bản sao các giấy phép liên quan hoặc các tài liệu chứng minh khác không được ít hơn 1 năm. Các doanh nghiệp bán các chất hóa học cực độc, các chất dễ gây nổ, cùng các đơn vị mua những chất này phải trong vòng 5 ngày kể từ lúc bán hoặc mua, báo cáo thông tin về loại chất, số lượng và hướng di chuyển của chúng cho cơ quan công an cấp huyện tại nơi mình đang hoạt động, đồng thời nhập dữ liệu vào hệ thống máy tính. Điều 42: Các đơn vị sử dụng các chất hóa học cực độc, các chất dễ gây nổ không được cho mượn hoặc chuyển nhượng những chất hóa học cực độc, chất dễ gây nổ mà mình đã mua ; Trong trường hợp cần chuyển nhượng do thay đổi ngành sản xuất, ngừng sản xuất, di dời hoặc đóng cửa doanh nghiệp, thì phải chuyển nhượng cho các đơn vị có giấy phép hoặc giấy tờ chứng minh theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều 38 của quy định này. Sau khi chuyển nhượng, cần báo cáo kịp thời về tình hình liên quan cho cơ quan công an cấp huyện nơi doanh nghiệp đóng trụ sở. Chương 5: An toàn vận chuyển
Điều 43: Những ai tham gia vào việc vận chuyển hàng hóa nguy hiểm bằng đường bộ hoặc đường thủy, phải tuân thủ các quy định của luật pháp và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ và đường thủy. Họ cần có giấy phép vận chuyển hàng hóa nguy hiểm bằng đường bộ hoặc đường thủy, đồng thời phải tiến hành thủ tục đăng ký tại cơ quan quản lý công thương. Các doanh nghiệp vận chuyển hàng hóa nguy hiểm bằng đường bộ và đường thủy cần phải có nhân viên quản lý an toàn chuyên trách. Điều 44: Những người làm việc tại các doanh nghiệp vận chuyển hàng hóa nguy hiểm bằng đường bộ hoặc đường thủy, bao gồm tài xế, thủy thủ, nhân viên phụ trách việc bốc dỡ hàng hóa, nhân viên hộ tống hàng hóa, nhân viên khai báo thông tin, cũng như nhân viên kiểm tra quá trình đóng gói hàng hóa vào container, đều phải trải qua kỳ kiểm tra do cơ quan quản lý giao thông vận tải tổ chức. Chỉ những người vượt qua kỳ kiểm tra này mới có thể được cấp giấy phép hành nghề. Các biện pháp cụ thể sẽ do cơ quan quản lý giao thông vận tải thuộc Quốc vụ viện đề ra. Các hoạt động bốc dỡ chất nguy hiểm cần tuân thủ các tiêu chuẩn, quy trình và quy định về an toàn lao động; đồng thời phải được thực hiện dưới sự chỉ huy hoặc giám sát trực tiếp của những người quản lý công tác bốc dỡ. Công việc đóng gói các thùng chứa chất nguy hiểm bằng đường thủy phải được thực hiện dưới sự chỉ đạo hoặc giám sát của nhân viên kiểm tra tại hiện trường, đồng thời phải tuân thủ các quy định và yêu cầu về cách sắp xếp và phân loại các thùng chứa này ; Sau khi hoàn tất công việc đóng gói, nhân viên kiểm tra tại hiện trường đóng gói container phải ký vào giấy chứng nhận đóng gói. Điều 45: Khi vận chuyển các chất nguy hiểm, cần phải áp dụng các biện pháp bảo vệ an toàn phù hợp với tính chất nguy hiểm của chúng. Đồng thời, cần trang bị đầy đủ các thiết bị bảo hộ cần thiết và các phương tiện cứu hộ khẩn cấp. Các bồn chứa và các thiết bị dùng để vận chuyển hóa chất nguy hiểm phải được đóng kín chặt chẽ, nhằm ngăn không cho hóa chất bị rò rỉ hoặc tràn ra ngoài trong quá trình vận chuyển do sự thay đổi về nhiệt độ, độ ẩm hoặc áp suất ; Các thiết bị ngăn chặn tình trạng tràn và xả áp lực của các bồn chứa cũng như các loại thùng chứa khác cần được lắp đặt một cách chính xác và hoạt động một cách linh hoạt. Những người lái xe vận chuyển hóa chất nguy hiểm, thủy thủ đoàn, nhân viên quản lý việc bốc dỡ hàng hóa, nhân viên hộ tống, nhân viên khai báo thông tin, cùng các nhân viên kiểm tra tình trạng đóng gói hàng hóa trong container, đều cần phải nắm rõ các đặc tính nguy hiểm của các hóa chất được vận chuyển, cũng như các yêu cầu liên quan đến việc sử dụng bao bì và thiết bị chứa đựng chúng. Ngoài ra, họ cũng cần biết cách xử lý khẩn cấp trong trường hợp xảy ra sự cố nguy hiểm. Điều 46: Khi vận chuyển các chất nguy hiểm bằng đường bộ, người gửi hàng phải ủy thác việc vận chuyển cho những doanh nghiệp đã được cấp giấy phép hợp pháp để vận chuyển hàng nguy hiểm bằng đường bộ. Điều 47: Khi vận chuyển các chất nguy hiểm bằng đường bộ, cần phải chở các chất này trong giới hạn trọng lượng cho phép của phương tiện vận chuyển; không được vượt quá giới hạn đó. Xe vận chuyển hóa chất nguy hiểm phải đáp ứng các điều kiện kỹ thuật an toàn theo **tiêu chuẩn quy định**, đồng thời phải được kiểm tra kỹ thuật về mặt an toàn định kỳ theo **các quy định liên quan**. Xe vận chuyển hóa chất nguy hiểm phải được gắn hoặc sơn các biển cảnh báo đáp ứng các yêu cầu của **tiêu chuẩn. Điều 48: Khi vận chuyển các chất nguy hiểm bằng đường bộ, cần phải có nhân viên hộ tống, đồng thời phải đảm bảo rằng các chất nguy hiểm được vận chuyển luôn nằm dưới sự giám sát của những nhân viên này. Trong quá trình vận chuyển các chất nguy hiểm, nếu cần dừng xe trong thời gian dài do lý do ở lại nghỉ ngơi hoặc do những tình huống ảnh hưởng đến việc vận chuyển bình thường, thì tài xế và nhân viên hộ tống phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa an toàn cần thiết ; Khi vận chuyển các hóa chất cực độc hoặc các hóa chất dễ gây nổ, cần phải báo cáo cho cơ quan công an địa phương nữa. Điều 49: Không được phép cho các phương tiện vận chuyển hóa chất nguy hiểm vào các khu vực mà việc di chuyển của các phương tiện này bị hạn chế, nếu không có sự cho phép của cơ quan công an. Các khu vực mà xe vận chuyển hóa chất nguy hiểm bị cấm lưu thông sẽ được cơ quan công an cấp huyện xác định, đồng thời có các biển báo rõ ràng được đặt tại đó. Điều 50: Khi vận chuyển các hóa chất cực độc bằng đường bộ, người gửi hàng phải nộp đơn xin giấy phép vận chuyển các hóa chất cực độc bằng đường bộ cho cơ quan công an cấp huyện tại nơi khởi hành hoặc nơi đến. Khi nộp đơn xin giấy phép vận chuyển các hóa chất cực độc bằng đường bộ, người gửi hàng phải nộp các tài liệu sau cho cơ quan công an cấp huyện:
(1) Thông tin về loại và số lượng hóa chất cực độc dự kiến sẽ được vận chuyển ; (II) Giải thích về địa điểm xuất phát, địa điểm đến, thời gian vận chuyển và tuyến đường vận chuyển ; (III) Các giấy tờ chứng minh rằng nhà vận chuyển có giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm bằng đường bộ; xe vận chuyển có giấy phép hoạt động; còn các tài xế và nhân viên hộ tống thì có giấy chứng nhận năng lực làm việc ; (IV) Các giấy phép cần thiết để mua các hóa chất độc hại, như được quy định tại các điều 38, khoản 1 và khoản 2 của quy định này; hoặc các giấy tờ xác nhận việc nhập khẩu/xuất khẩu do hải quan cấp. Cơ quan công an nhân dân cấp huyện phải đưa ra quyết định chấp thuận hoặc từ chối trong vòng 7 ngày kể từ ngày nhận được các tài liệu được quy định ở khoản trên. Nếu được phê duyệt, sẽ cấp giấy phép vận chuyển các hóa chất độc hại trên đường bộ ; Nếu không được chấp thuận, sẽ thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn và nêu rõ lý do. Quy định về việc cấp giấy phép vận chuyển hóa chất độc hại bằng đường bộ do cơ quan công an thuộc Chính phủ quyết định. Điều 51: Trong trường hợp các chất hóa học cực độc, các chất nguy hiểm dễ gây nổ bị mất mát, bị đánh cắp, bị cướp trong quá trình vận chuyển trên đường, người lái xe và nhân viên hộ tống phải ngay lập tức áp dụng các biện pháp cảnh báo và an toàn cần thiết, đồng thời báo cáo với cơ quan công an địa phương. Sau khi nhận được báo cáo, cơ quan công an phải ngay lập tức thông báo cho cơ quan quản lý an toàn sản xuất, cơ quan quản lý môi trường và cơ quan quản lý y tế, tùy theo tình hình thực tế. Các cơ quan liên quan cần áp dụng những biện pháp ứng phó khẩn cấp cần thiết. Điều 52: Khi vận chuyển hàng hóa nguy hiểm bằng đường thủy, cần tuân thủ các quy định của pháp luật, các văn bản pháp quy liên quan, cũng như các quy định của cơ quan quản lý giao thông vận tải thuộc Chính phủ về an toàn trong việc vận chuyển hàng hóa nguy hiểm bằng đường thủy. Điều 53: Cơ quan quản lý hàng hải phải xác định các điều kiện an toàn cần tuân thủ khi vận chuyển các chất nguy hiểm trên tàu, dựa trên loại và đặc tính nguy hiểm của các chất đó. Nếu các điều kiện an toàn cần thiết để vận chuyển hóa chất bằng tàu thuyền chưa được xác định rõ, thì cần phải có sự đánh giá từ một tổ chức được cơ quan quản lý hàng hải chỉ định. Chỉ sau khi các điều kiện an toàn đó được xác định rõ và được cơ quan quản lý hàng hải phê duyệt, thì hóa chất mới có thể được vận chuyển bằng tàu thuyền. Điều 54: Cấm vận chuyển các hóa chất cực độc, cũng như các loại hóa chất nguy hiểm khác mà theo quy định thì không được phép vận chuyển trên các vùng nước nội địa. Đối với các vùng nước sông khác ngoài những quy định nêu trên, việc vận chuyển các hóa chất cực độc và các loại hóa chất nguy hiểm khác mà theo quy định bị cấm vận chuyển qua đường sông là bị nghiêm cấm. Phạm vi các chất hóa học cực độc và các loại chất nguy hiểm khác bị cấm vận chuyển bằng đường thủy sẽ do cơ quan quản lý giao thông vận tải thuộc Quốc vụ viện, phối hợp với cơ quan quản lý môi trường, cơ quan quản lý công nghiệp và công nghệ thông tin, cùng cơ quan giám sát an toàn sản xuất, xác định và công bố dựa trên các yếu tố như tính chất nguy hiểm của chất hóa học, mức độ tổn hại mà chúng gây ra cho con người và môi trường nước, cũng như mức độ khó khăn trong việc loại bỏ những tác hại đó. Điều 55: Cơ quan quản lý giao thông vận tải thuộc Quốc vụ viện phải căn cứ vào đặc tính nguy hiểm của các chất nguy hiểm, thực hiện việc quản lý phân loại đối với các chất nguy hiểm được vận chuyển qua đường sông, những chất không nằm trong phạm vi quy định tại Điều 54 của Quy định này (sau đây gọi là chất nguy hiểm được vận chuyển qua đường sông). Cơ quan này cần đưa ra các quy định riêng cho từng loại chất nguy hiểm về phương thức vận chuyển, tiêu chuẩn đóng gói và các biện pháp bảo vệ an toàn, đồng thời giám sát việc thực hiện các quy định này. Điều 56: Việc vận chuyển các chất nguy hiểm bằng đường thủy phải do các doanh nghiệp vận tải đường thủy có giấy phép hợp pháp để vận chuyển hàng hóa nguy hiểm đảm nhận. Các đơn vị và cá nhân khác không được phép thực hiện công việc vận chuyển này. Người gửi hàng phải ủy thác việc vận chuyển cho các doanh nghiệp vận tải đường thủy đã được cấp giấy phép hợp pháp để vận chuyển hàng nguy hiểm; không được ủy thác cho các đơn vị hoặc cá nhân khác. Điều 57: Khi vận chuyển các chất nguy hiểm bằng đường thủy nội địa, phải sử dụng những tàu vận tải đã được cấp giấy chứng nhận phù hợp để vận chuyển hàng nguy hiểm theo quy định của pháp luật. Các doanh nghiệp vận tải đường thủy cần xây dựng kế hoạch ứng phó khẩn cấp trong trường hợp xảy ra sự cố liên quan đến các hóa chất nguy hiểm mà họ vận chuyển, dựa trên những đặc tính nguy hiểm của chúng. Đồng thời, các doanh nghiệp này cũng cần trang bị cho các tàu vận chuyển những thiết bị và công cụ cứu hộ đầy đủ và hiệu quả. Đối với các tàu vận chuyển hóa chất nguy hiểm trên sông ngòi, chủ sở hữu hoặc người quản lý tàu phải có giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm đối với các thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra, hoặc giấy tờ chứng minh khả năng tài chính để bồi thường thiệt hại đó. Bản sao giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm về ô nhiễm do tàu gây ra, hoặc giấy chứng minh về sự bảo lãnh tài chính, cần được mang theo trên tàu. Điều 58: Khi vận chuyển các chất nguy hiểm bằng đường thủy, chất liệu, kiểu dáng, độ bền của bao bì chứa các chất nguy hiểm, cũng như phương pháp đóng gói, đều phải tuân thủ các yêu cầu quy định trong tiêu chuẩn về việc đóng gói các chất nguy hiểm khi vận chuyển bằng đường thủy. Nếu cơ quan quản lý giao thông vận tải thuộc Bộ Quốc vụ viện đặt ra những quy định hạn chế về số lượng hóa chất nguy hiểm mà một con tàu được phép vận chuyển, thì bên vận chuyển phải tuân thủ các quy định đó khi sắp xếp lượng hàng cần vận chuyển. Điều 59: Các bến cảng và bãi đỗ tàu dùng để vận chuyển hàng hóa nguy hiểm trên sông phải tuân thủ các quy định an toàn liên quan; đồng thời, chúng phải giữ khoảng cách nhất định so với các nguồn nước dùng để lấy nước uống. Các cơ quan quản lý có trách nhiệm xây dựng kế hoạch ứng phó khẩn cấp đối với các sự cố liên quan đến hóa chất nguy hiểm tại các bến cảng và bãi đỗ tàu. Đồng thời, cần trang bị cho các bến cảng và bãi đỗ tàu những thiết bị và công cụ cứu hộ đầy đủ và hiệu quả. Các bến cảng và bãi đỗ tàu trên sông dùng để vận chuyển hàng hóa nguy hiểm chỉ được đưa vào sử dụng sau khi được cơ quan quản lý giao thông vận tải kiểm tra và chấp thuận theo **các quy định liên quan**. Điều 60: Khi tàu vận chuyển các chất nguy hiểm vào ra các cảng sông, chủ tàu phải báo trước cho cơ quan quản lý hàng hải về tên của các chất nguy hiểm đó, tính chất nguy hiểm của chúng, cách đóng gói chúng, cũng như thời điểm tàu vào và rời cảng. Sau khi nhận được báo cáo, cơ quan quản lý hàng hải phải đưa ra quyết định về việc có chấp thuận hay không trong thời hạn do cơ quan quản lý giao thông vận tải thuộc Hội đồng Nhà nước quy định. Sau đó, cơ quan này phải thông báo quyết định đó cho người đã nộp báo cáo, đồng thời báo cáo lại cho cơ quan quản lý cảng biển. Các tàu đã xác định rõ tuyến đi, loại hàng vận chuyển thì có thể báo cáo định kỳ. Khi tiến hành việc bốc dỡ, chuyển giao các chất nguy hiểm tại các cảng sông, cần phải báo cáo cho cơ quan quản lý cảng về tên của các chất nguy hiểm, đặc tính nguy hiểm của chúng, cách đóng gói chúng, cũng như thời gian và địa điểm thực hiện các hoạt động này. Sau khi nhận được báo cáo, cơ quan quản lý cảng phải đưa ra quyết định về việc có chấp thuận hay không trong thời hạn do cơ quan quản lý giao thông vận tải thuộc Hội đồng Nhà nước quy định. Đồng thời, cơ quan này cũng phải thông báo quyết định cho người đã nộp báo cáo, và báo cáo lại cho cơ quan quản lý hàng hải. Các tàu vận chuyển hóa chất nguy hiểm khi di chuyển trên sông ngòi, nếu phải đi qua các công trình dành cho tàu thuyền, thì cần phải báo cáo trước với cơ quan quản lý giao thông vận tải, đồng thời phải tuân theo các quy định của cơ quan này. Điều 61: Các tàu vận chuyển hóa chất nguy hiểm khi di chuyển trên sông ngòi, tiến hành việc bốc dỡ hàng hóa hoặc đậu tàu, phải treo các biển cảnh báo chuyên dụng, đồng thời phải phát tín hiệu theo quy định. Các tàu vận chuyển hóa chất nguy hiểm khi di chuyển trên sông ngòi, nếu theo quy định của cơ quan quản lý giao thông vận tải thuộc Chính phủ thì cần có sự hướng dẫn của người hướng dẫn tàu, thì phải nộp đơn xin sự hướng dẫn đó. Điều 62: Các tàu vận chuyển hóa chất nguy hiểm khi di chuyển trên sông phải tuân thủ các quy định của pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật khác, cũng như các quy định liên quan đến việc bảo vệ nguồn nước uống. Kế hoạch phát triển các tuyến đường thủy nội địa cần được điều chỉnh sao cho phù hợp với kế hoạch xác định các khu vực bảo vệ nguồn nước uống đã được phê duyệt theo pháp luật. Điều 63: Khi gửi các chất nguy hiểm, người gửi phải thông báo cho người vận chuyển về loại chất nguy hiểm, số lượng, đặc tính nguy hiểm của chúng, cũng như các biện pháp xử lý khẩn cấp trong trường hợp xảy ra sự cố. Ngoài ra, người gửi cần đóng gói các chất nguy hiểm một cách cẩn thận theo các quy định liên quan, và ghi rõ các dấu hiệu cảnh báo trên bao bì bên ngoài. Khi vận chuyển các chất nguy hiểm, nếu cần phải sử dụng chất ức chế hoặc chất ổn định, người gửi hàng phải thực hiện việc này và thông báo cho người vận chuyển về điều đó. Điều 64: Người gửi hàng không được phép lẫn các chất nguy hiểm vào số hàng hóa thông thường mà mình muốn gửi. Người gửi hàng cũng không được che giấu hoặc báo cáo sai rằng đó là hàng hóa thông thường. Không một đơn vị hay cá nhân nào được phép gửi các chất nguy hiểm qua bưu điện, hoặc giấu chúng trong các bưu kiện, thư từ. Cũng không được báo cáo sai lệch về loại hàng hóa này, tức là giả vờ rằng đó là những mặt hàng thông thường. Các doanh nghiệp bưu chính, dịch vụ giao hàng không được nhận gửi các chất nguy hiểm. Đối với những trường hợp bị nghi ngờ vi phạm các quy định tại khoản 1 và khoản 2 của điều này, cơ quan quản lý giao thông vận tải và cơ quan quản lý bưu chính có thể mở kiểm tra theo đúng quy định của pháp luật. Điều 65: Việc quản lý an toàn trong việc vận chuyển các chất nguy hiểm bằng đường sắt và đường hàng không phải tuân theo các quy định của các luật, quy định hành chính và quy tắc liên quan đến việc vận chuyển bằng đường sắt và đường hàng không. Chương 6: Đăng ký các chất nguy hiểm và ứng phó khẩn cấp trong trường hợp xảy ra tai nạn
Điều 66: **Cần áp dụng chế độ đăng ký các chất nguy hiểm, nhằm cung cấp sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật và thông tin cho việc quản lý an toàn các chất nguy hiểm, cũng như để phòng ngừa và ứng phó khẩn cấp trong trường hợp xảy ra tai nạn liên quan đến chúng.** Điều 67: Các doanh nghiệp sản xuất hoặc nhập khẩu hóa chất nguy hiểm phải tiến hành thủ tục đăng ký hóa chất nguy hiểm tại cơ quan chuyên trách về việc quản lý an toàn lao động thuộc Hội đồng Nhà nước (sau đây gọi là cơ quan đăng ký hóa chất nguy hiểm). Đăng ký hóa chất nguy hiểm bao gồm các nội dung sau: (I) Thông tin phân loại và nhãn mác ; (II) Tính chất vật lý, hóa học ; (III) Các mục đích sử dụng chính ; (IV) Các đặc tính nguy hiểm ; (V) Các yêu cầu về an toàn trong việc lưu trữ, sử dụng và vận chuyển ; (6) Các biện pháp ứng phó khẩn cấp trong trường hợp xảy ra tình huống nguy hiểm. Đối với các hóa chất nguy hiểm cùng loại được sản xuất hoặc nhập khẩu bởi cùng một doanh nghiệp, sẽ không tiến hành đăng ký lặp lại. Các doanh nghiệp sản xuất hóa chất nguy hiểm và các doanh nghiệp nhập khẩu hóa chất nguy hiểm, khi phát hiện ra rằng những hóa chất mà họ sản xuất hoặc nhập khẩu có thêm những đặc tính nguy hiểm mới, thì cần phải kịp thời tiến hành thủ tục điều chỉnh thông tin đăng ký tại cơ quan quản lý hóa chất nguy hiểm. Các quy định chi tiết về việc đăng ký các chất nguy hiểm sẽ do cơ quan quản lý an toàn lao động thuộc Hội đồng Nhà nước ban hành. Điều 68: Cơ quan đăng ký các chất nguy hiểm phải thường xuyên cung cấp cho các cơ quan liên quan như Bộ Công nghiệp và Thông tin, Bộ Bảo vệ Môi trường, Công an, Y tế, Giao thông Vận tải, Đường sắt, cùng các cơ quan giám sát chất lượng và kiểm dịch, những thông tin và tài liệu liên quan đến việc đăng ký các chất nguy hiểm. Điều 69: Các cơ quan quản lý an toàn sản xuất thuộc chính quyền địa phương ở cấp huyện trở lên phải phối hợp với các cơ quan liên quan như Bộ Công nghiệp và Thông tin, Bộ Bảo vệ Môi trường, Công an, Y tế, Giao thông vận tải, Đường sắt, cùng các cơ quan giám sát chất lượng và kiểm dịch để xây dựng kế hoạch ứng phó khẩn cấp trong trường hợp xảy ra tai nạn liên quan đến hóa chất nguy hiểm. Kế hoạch này cần được trình lên cơ quan chính quyền cùng cấp để phê duyệt. Điều 70: Các đơn vị sử dụng chất nguy hiểm phải xây dựng kế hoạch ứng phó khẩn cấp trong trường hợp xảy ra tai nạn liên quan đến chất nguy hiểm. Đồng thời, các đơn vị này cần có nhân viên chuyên trách việc ứng phó khẩn cấp, cùng với các thiết bị và công cụ cần thiết để ứng phó với tình huống khẩn cấp. Ngoài ra, các đơn vị này cũng cần tổ chức các cuộc diễn tập ứng phó khẩn cấp định kỳ. Các đơn vị sử dụng chất nguy hiểm phải nộp kế hoạch ứng phó khẩn cấp trong trường hợp xảy ra tai nạn liên quan đến chất nguy hiểm của mình cho cơ quan quản lý an toàn lao động thuộc chính quyền thành phố nơi đơn vị đó hoạt động, để được ghi nhận. Điều 71: Khi xảy ra tai nạn liên quan đến hóa chất nguy hiểm, người chịu trách nhiệm chính của đơn vị gây ra tai nạn phải ngay lập tức triển khai các biện pháp cứu hộ theo kế hoạch ứng phó với sự cố liên quan đến hóa chất nguy hiểm của đơn vị mình. Đồng thời, người này cũng phải báo cáo vụ việc cho cơ quan quản lý an toàn lao động tại địa phương, cùng các cơ quan chức năng chuyên trách về bảo vệ môi trường, công an và y tế ; Trong trường hợp xảy ra tai nạn liên quan đến hàng hóa nguy hiểm trong quá trình vận chuyển bằng đường bộ hoặc đường thủy, tài xế, thủy thủ hoặc nhân viên hộ tống cũng phải báo cáo sự việc cho cơ quan quản lý giao thông vận tải tại nơi xảy ra tai nạn. Điều 72: Khi xảy ra tai nạn liên quan đến hóa chất nguy hiểm, các cơ quan chức năng tại địa phương có trách nhiệm phải ngay lập tức huy động các cơ quan chuyên trách về quản lý an toàn lao động, bảo vệ môi trường, công an, y tế, giao thông vận tải… để thực hiện các biện pháp cứu hộ theo kế hoạch ứng phó với tai nạn hóa chất nguy hiểm tại địa phương đó. Không được trì hoãn hay né tránh trách nhiệm. Người dân địa phương **và các cơ quan có liên quan cần phải thực hiện các biện pháp xử lý khẩn cấp theo những quy định sau, nhằm giảm thiểu thiệt hại do tai nạn gây ra, đồng thời ngăn chặn sự lan rộng của tai nạn:
(1) Ngay lập tức tổ chức cứu hộ và chăm sóc những người bị nạn; đồng thời di dời hoặc áp dụng các biện pháp khác để bảo vệ những người còn lại trong khu vực bị ảnh hưởng ; (II) Nhanh chóng kiểm soát nguồn gây nguy hiểm, xác định tính chất của các chất nguy hiểm, khu vực bị ảnh hưởng bởi tai nạn và mức độ nguy hiểm ; (III) Đối với những tác hại thực tế cũng như những nguy cơ có thể xảy ra do tai nạn gây ra đối với con người, động vật, thực vật, đất đai, nguồn nước và không khí, cần phải nhanh chóng áp dụng các biện pháp như niêm phong, cách ly, khử trùng ; (IV) Giám sát và đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường cũng như tổn hại sinh thái do các tai nạn liên quan đến hóa chất nguy hiểm gây ra; đồng thời áp dụng các biện pháp cần thiết để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường và phục hồi hệ sinh thái. Điều 73: Các đơn vị liên quan đến chất nguy hiểm phải cung cấp sự hỗ trợ kỹ thuật và những giúp đỡ cần thiết để ứng phó khẩn cấp trong trường hợp xảy ra tai nạn liên quan đến chất nguy hiểm. Điều 74: Trong trường hợp tai nạn liên quan đến chất nguy hiểm gây ô nhiễm môi trường, cơ quan quản lý bảo vệ môi trường thuộc cấp thành phố có chức năng quản lý sẽ là đơn vị chịu trách nhiệm công bố các thông tin liên quan. Chương 7: Trách nhiệm pháp lý
Điều 75: Những ai sản xuất, kinh doanh hoặc sử dụng các chất nguy hiểm mà việc sản xuất, kinh doanh hoặc sử dụng chúng bị cấm, sẽ bị cơ quan quản lý an toàn lao động yêu cầu ngừng các hoạt động đó. Họ sẽ bị phạt tiền từ 200.000 nhân dân tệ đến 500.000 nhân dân tệ. Nếu có lợi nhuận bất chính từ việc này, thì số tiền lợi nhuận bất chính đó sẽ bị tịch thu ; Nếu hành vi đó cấu thành tội phạm, thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật. Trong trường hợp có các hành vi được quy định tại khoản trên, cơ quan quản lý an toàn sản xuất cũng phải yêu cầu đơn vị đó tiến hành xử lý các chất nguy hiểm mà họ sản xuất, kinh doanh hoặc sử dụng, nhằm giúp chúng trở nên không còn nguy hiểm nữa. Những ai vi phạm các quy định hạn chế về việc sử dụng các chất nguy hiểm, thì sẽ bị xử lý theo quy định tại khoản 1 của điều này. Điều 76: Những dự án xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng các cơ sở sản xuất, lưu trữ hóa chất nguy hiểm mà chưa qua kiểm tra về các điều kiện an toàn thì sẽ bị cơ quan quản lý an toàn lao động yêu cầu ngừng công trình lại và phải khắc phục sai sót trong thời hạn quy định ; Nếu không khắc phục trong thời hạn quy định, sẽ bị phạt tiền từ 500.000 nhân dân tệ trở lên, nhưng không quá 1.000.000 nhân dân tệ ; Nếu hành vi đó cấu thành tội phạm, thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật. Những dự án xây dựng cảng dùng để lưu trữ, bốc dỡ hóa chất nguy hiểm mà không qua kiểm tra các điều kiện an toàn, sẽ bị cơ quan quản lý cảng xử phạt theo quy định tại khoản trên. Điều 77: Những ai sản xuất chất nguy hiểm mà không có giấy phép an toàn trong sản xuất chất nguy hiểm theo quy định của pháp luật, hoặc những ai sản xuất các vật liệu đóng gói, bao bì dành cho chất nguy hiểm mà không có giấy phép sản xuất sản phẩm công nghiệp theo quy định của pháp luật, thì sẽ bị xử phạt theo các quy định tại “Quy định về giấy phép an toàn trong sản xuất” và “Quy định quản lý giấy phép sản xuất sản phẩm công nghiệp của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”. Nếu các doanh nghiệp hóa chất vi phạm quy định của quy chế này, tức là sử dụng các chất nguy hiểm trong quá trình sản xuất mà không có giấy phép cho phép sử dụng chúng một cách an toàn, thì cơ quan quản lý an toàn sản xuất sẽ yêu cầu họ khắc phục sai phạm trong thời hạn quy định. Đồng thời, họ sẽ bị phạt tiền từ 100.000 nhân dân tệ đến 200.000 nhân dân tệ ; Nếu vẫn không khắc phục sau thời hạn quy định, sẽ bị yêu cầu ngừng sản xuất để điều chỉnh. Nếu vi phạm các quy định của quy chế này, tức là hoạt động kinh doanh các chất nguy hiểm mà không có giấy phép cho phép, thì cơ quan quản lý an toàn lao động sẽ yêu cầu người vi phạm ngừng hoạt động kinh doanh đó. Các chất nguy hiểm được sử dụng trong hoạt động kinh doanh bất hợp pháp cùng với số tiền kiếm được từ hoạt động đó sẽ bị tịch thu. Ngoài ra, người vi phạm còn bị phạt tiền từ 100.000 đến 200.000 nhân dân tệ ; Nếu hành vi đó cấu thành tội phạm, thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật. Điều 78: Trong trường hợp có một trong các tình huống sau đây, cơ quan quản lý an toàn lao động sẽ yêu cầu bên liên quan phải khắc phục sai phạm; đồng thời có thể áp đặt mức phạt lên đến 50.000 nhân dân tệ ; Nếu từ chối sửa chữa, sẽ bị phạt tiền từ 50.000 nhân dân tệ trở lên đến 100.000 nhân dân tệ ; Trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng, cơ quan chức năng sẽ yêu cầu đơn vị đó tạm ngừng hoạt động để khắc phục sai phạm: (1) Các đơn vị sản xuất, lưu trữ hóa chất nguy hiểm không đặt các biển báo rõ ràng tại những đường ống chứa hóa chất nguy hiểm đó, hoặc không tiến hành kiểm tra, đo lường định kỳ các đường ống này ; (II) Thực hiện các công việc xây dựng có thể gây nguy hiểm đến an toàn của đường ống chứa chất nguy hiểm. Nhà thầu xây dựng không thông báo bằng văn bản cho đơn vị quản lý đường ống theo quy định; hoặc không cùng với đơn vị quản lý đường ống xây dựng kế hoạch ứng phó khẩn cấp và áp dụng các biện pháp bảo vệ an toàn cần thiết. Hoặc đơn vị quản lý đường ống không cử nhân viên chuyên trách đến hiện trường để hướng dẫn việc bảo vệ an toàn cho đường ống ; (III) Các doanh nghiệp sản xuất hóa chất nguy hiểm không cung cấp tờ hướng dẫn an toàn về hóa chất, hoặc không dán nhãn thông tin an toàn lên bao bì của hóa chất (bao gồm cả bao bì bên ngoài) ; (IV) Hồ sơ kỹ thuật về an toàn hóa chất do các doanh nghiệp sản xuất hóa chất nguy hiểm cung cấp không phù hợp với loại hóa chất mà họ sản xuất; hoặc những nhãn cảnh báo về an toàn hóa chất được dán lên bao bì (bao gồm cả bao bì ngoài) cũng không phù hợp với loại hóa chất bên trong. Ngoài ra, nội dung trong hồ sơ kỹ thuật về an toàn hóa chất và những nhãn cảnh báo này cũng không tuân thủ các yêu cầu của **tiêu chuẩn** ; (V) Các doanh nghiệp sản xuất hóa chất nguy hiểm, nếu phát hiện ra rằng các hóa chất mà họ sản xuất có những đặc tính nguy hiểm mới, thì không thông báo ngay lập tức, hoặc không sửa đổi kịp thời các tài liệu hướng dẫn an toàn liên quan đến hóa chất đó ; (VI) Các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất nguy hiểm mà không có tờ hướng dẫn an toàn về hóa chất và nhãn báo hiệu an toàn cho các hóa chất đó ; (7) Vật liệu dùng để đóng gói các chất nguy hiểm, cũng như kiểu dáng, kích thước, phương pháp đóng gói và trọng lượng của từng sản phẩm đóng gói, không phù hợp với tính chất và mục đích sử dụng của các chất nguy hiểm được đóng gói ; (8) Các đơn vị sản xuất, lưu trữ hóa chất nguy hiểm không thiết lập các biển cảnh báo an toàn rõ ràng tại nơi làm việc cũng như trên các thiết bị, công trình an toàn; hoặc không lắp đặt các thiết bị liên lạc, báo động tại nơi làm việc ; (IX) Kho chứa các hóa chất nguy hiểm không có người được giao nhiệm vụ quản lý cụ thể; hoặc đối với các hóa chất độc hại được lưu trữ trong kho, cũng như các hóa chất nguy hiểm khác mà số lượng lưu trữ của chúng tạo thành nguồn nguy cơ lớn, thì không áp dụng quy định về việc có hai người phụ trách việc nhận và giao hàng, cũng như hai người phụ trách việc bảo quản chúng ; (10) Các đơn vị lưu trữ hóa chất nguy hiểm chưa xây dựng được hệ thống kiểm tra và ghi chép việc nhập xuất hóa chất nguy hiểm ; (11) Kho chứa các chất nguy hiểm không có biển báo rõ ràng ; (12) Các doanh nghiệp sản xuất hoặc nhập khẩu hóa chất nguy hiểm không tiến hành thủ tục đăng ký các loại hóa chất này; hoặc khi phát hiện ra rằng các hóa chất mà họ sản xuất hoặc nhập khẩu có những đặc tính nguy hiểm mới, họ cũng không tiến hành thủ tục điều chỉnh thông tin trong biên bản đăng ký. Những đơn vị kinh doanh cảng có nhiệm vụ lưu trữ các chất nguy hiểm, nếu vi phạm các quy định nêu trên, thì sẽ bị cơ quan quản lý cảng xử phạt theo các quy định tương ứng. Nếu các kho chứa hóa chất độc hại, hóa chất dễ gây nổ không được trang bị các thiết bị phòng ngừa kỹ thuật theo **quy định liên quan**, thì cơ quan công an sẽ xử phạt theo quy định nêu trên. Các đơn vị sản xuất, lưu trữ hóa chất cực độc hoặc hóa chất dễ gây nổ mà không thành lập cơ quan bảo vệ an ninh hay bố trí nhân viên chuyên trách về công tác bảo vệ an ninh thì sẽ bị xử phạt theo quy định của “Quy định về công tác bảo vệ an ninh trong các doanh nghiệp và cơ quan”. Điều 79: Những doanh nghiệp sản xuất bao bì, thiết bị chứa đựng hóa chất nguy hiểm mà bán những sản phẩm này mà chưa qua kiểm tra hoặc kết quả kiểm tra cho thấy chúng không đạt tiêu chuẩn, sẽ bị cơ quan giám sát chất lượng và kiểm dịch yêu cầu khắc phục sai phạm. Họ sẽ bị phạt từ 100.000 đến 200.000 nhân dân tệ. Nếu có thu nhập bất chính, số tiền đó sẽ bị tịch thu ; Nếu từ chối sửa chữa, sẽ bị yêu cầu tạm ngừng hoạt động để tiến hành điều chỉnh ; Nếu hành vi đó cấu thành tội phạm, thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật. Những con tàu vận chuyển hóa chất nguy hiểm mà chưa qua kiểm định, cùng các thùng chứa được sử dụng để chứa những hóa chất này, sẽ bị cơ quan quản lý hàng hải xử phạt theo quy định tại khoản trên. Điều 80: Những đơn vị sản xuất, lưu trữ hoặc sử dụng chất nguy hiểm mà có một trong các tình huống sau thì sẽ bị cơ quan quản lý an toàn lao động yêu cầu khắc phục sai phạm; đồng thời bị phạt tiền từ 50.000 đến 100.000 nhân dân tệ ; Nếu vẫn từ chối sửa chữa, thì sẽ bị yêu cầu tạm ngừng hoạt động để tiến hành điều chỉnh. Nếu vẫn không tuân thủ, cơ quan cấp giấy phép ban đầu sẽ thu hồi các giấy phép liên quan. Đồng thời, cơ quan quản lý kinh doanh sẽ yêu cầu doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi phạm vi kinh doanh, hoặc sẽ thu hồi giấy phép kinh doanh của họ ; Nếu những người chịu trách nhiệm vi phạm pháp luật, họ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật: (1) Những người không kiểm tra các bao bì, thiết bị chứa chất nguy hiểm trước khi sử dụng chúng lại ; (II) Không thiết lập các thiết bị an toàn cần thiết tại nơi làm việc, tùy theo loại hóa chất nguy hiểm được sản xuất hoặc lưu trữ và các đặc tính nguy hiểm của chúng; hoặc không thực hiện việc bảo trì, kiểm tra định kỳ các thiết bị an toàn đó theo các tiêu chuẩn, quy định ngành hoặc các quy định liên quan ; (III) Không tiến hành đánh giá an toàn định kỳ đối với các điều kiện an toàn trong quá trình sản xuất, theo như quy định của quy chế này ; (IV) Không lưu trữ các chất nguy hiểm trong kho chuyên dụng; hoặc không tách biệt các chất độc hại cực mạnh cùng những chất nguy hiểm khác mà số lượng của chúng tạo thành nguồn nguy cơ nghiêm trọng, để chúng trong kho chuyên dụng ; (V) Cách thức lưu trữ, phương pháp lưu trữ hoặc số lượng hóa chất nguy hiểm được lưu trữ không tuân thủ các **tiêu chuẩn** hoặc các quy định liên quan ; (6) Kho chứa hóa chất nguy hiểm không đáp ứng các yêu cầu của **tiêu chuẩn** và các tiêu chuẩn ngành ; (7) Không tiến hành kiểm tra định kỳ các thiết bị an toàn trong kho chứa hàng nguy hiểm. Những đơn vị kinh doanh cảng có nhiệm vụ lưu trữ các chất nguy hiểm, nếu vi phạm các quy định nêu trên, thì sẽ bị cơ quan quản lý cảng xử phạt theo các quy định tương ứng. Điều 81: Trong trường hợp có một trong các tình huống sau đây, cơ quan công an sẽ yêu cầu bên vi phạm khắc phục sai phạm; đồng thời có thể áp đặt mức phạt dưới 10.000 nhân dân tệ ; Những đơn vị từ chối sửa chữa sai phạm sẽ bị phạt tiền từ 10.000 đến 50.000 nhân dân tệ: (1) Các đơn vị sản xuất, lưu trữ, sử dụng các hóa chất cực độc hoặc các hóa chất dễ gây nổ mà không ghi chép chính xác số lượng và hướng di chuyển của các hóa chất này ; (II) Các đơn vị sản xuất, lưu trữ, sử dụng các chất hóa học cực độc hoặc các chất dễ gây nổ phát hiện ra rằng những chất này bị mất hoặc bị đánh cắp, nhưng lại không báo cáo ngay cho cơ quan công an ; (III) Các đơn vị lưu trữ hóa chất cực độc không báo cáo về số lượng hóa chất cực độc được lưu trữ, địa điểm lưu trữ, cũng như thông tin về người quản lý chúng cho cơ quan công an cấp huyện nơi đó ; (IV) Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hóa chất nguy hiểm không ghi chép đầy đủ thông tin về tên, địa chỉ của đơn vị mua các loại hóa chất cực độc, hóa chất dễ gây nổ; tên và số chứng minh thư của người phụ trách việc mua bán; cũng như loại và số lượng hóa chất được mua, mục đích sử dụng chúng. Hoặc thời gian lưu trữ các hồ sơ bán hàng và các tài liệu liên quan chưa đạt 1 năm ; (5) Các doanh nghiệp bán các chất hóa học cực độc, các chất dễ gây nổ, cùng các đơn vị mua những chất này không báo cáo kịp thời về loại, số lượng và thông tin về hướng di chuyển của các chất hóa học cực độc, các chất dễ gây nổ mà mình đã bán hoặc mua cho cơ quan công an cấp huyện nơi mình đang hoạt động ; (6) Các đơn vị sử dụng các chất hóa học cực độc hoặc các chất dễ gây nổ, nếu muốn chuyển nhượng những chất này theo quy định của các quy định này, mà không báo cáo thông tin liên quan cho cơ quan công an cấp huyện tại nơi mình đang hoạt động. Các doanh nghiệp sản xuất, lưu trữ hóa chất nguy hiểm, hoặc các doanh nghiệp sử dụng hóa chất nguy hiểm trong quá trình sản xuất, nếu không báo cáo báo cáo đánh giá an toàn cũng như kế hoạch khắc phục các vấn đề liên quan đến an toàn cho cơ quan quản lý an toàn lao động hoặc cơ quan quản lý cảng theo quy định của các quy định này; hoặc nếu các đơn vị lưu trữ hóa chất nguy hiểm không báo cáo về số lượng hóa chất cực độc và các loại hóa chất nguy hiểm khác mà số lượng lưu trữ của chúng tạo thành nguồn nguy cơ lớn, cùng với thông tin về địa điểm lưu trữ và nhân viên phụ trách việc quản lý chúng cho cơ quan quản lý an toàn lao động hoặc cơ quan quản lý cảng, thì cơ quan quản lý an toàn lao động hoặc cơ quan quản lý cảng sẽ áp dụng các biện pháp xử phạt theo quy định ở trên. Các doanh nghiệp sản xuất các chất nguy hiểm cần được quản lý một cách nghiêm ngặt về mặt môi trường, hoặc các doanh nghiệp sử dụng các chất nguy hiểm này trong quá trình sản xuất mà không báo cáo các thông tin liên quan cho cơ quan quản lý môi trường theo quy định, thì sẽ bị cơ quan quản lý môi trường xử phạt theo quy định tại khoản 1 của điều này. Điều 82: Những đơn vị sản xuất, lưu trữ, sử dụng hóa chất nguy hiểm mà chuyển sang sản xuất loại hàng hóa khác, ngừng sản xuất, ngừng kinh doanh hoặc giải thể, nhưng lại không có biện pháp hiệu quả để xử lý kịp thời và đúng cách các thiết bị sản xuất hóa chất nguy hiểm, các cơ sở lưu trữ hóa chất nguy hiểm cũng như lượng hóa chất nguy hiểm còn tồn kho; hoặc vứt bỏ hóa chất nguy hiểm, thì sẽ bị cơ quan quản lý an toàn lao động yêu cầu khắc phục sai phạm, đồng thời bị phạt tiền từ 50.000 đến 100.000 nhân dân tệ ; Nếu hành vi đó cấu thành tội phạm, thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật. Các đơn vị sản xuất, lưu trữ, sử dụng hóa chất nguy hiểm nếu chuyển sang sản xuất loại hàng hóa khác, ngừng sản xuất, ngừng kinh doanh hoặc giải thể mà không báo cáo kế hoạch xử lý các thiết bị sản xuất hóa chất nguy hiểm, cơ sở lưu trữ hóa chất cũng như lượng hóa chất nguy hiểm còn tồn kho cho các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của quy chế này, thì sẽ bị các cơ quan có thẩm quyền yêu cầu khắc phục sai phạm; đồng thời có thể bị phạt tiền dưới 10.000 nhân dân tệ ; Nếu từ chối sửa chữa, sẽ bị phạt tiền từ 10.000 đến 50.000 nhân dân tệ. Điều 83: Nếu các doanh nghiệp kinh doanh hóa chất nguy hiểm mua hóa chất nguy hiểm từ những doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh hóa chất nguy hiểm một cách trái phép mà không có giấy phép, thì cơ quan quản lý công thương sẽ yêu cầu các doanh nghiệp này khắc phục sai phạm, đồng thời phạt chúng từ 100.000 đến 200.000 nhân dân tệ ; Nếu vẫn từ chối sửa chữa, cơ quan có thẩm quyền sẽ yêu cầu doanh nghiệp ngừng hoạt động để tiến hành điều chỉnh. Nếu vẫn không tuân thủ, cơ quan này sẽ thu hồi giấy phép kinh doanh hàng hóa nguy hiểm của doanh nghiệp đó. Đồng thời, cơ quan quản lý kinh doanh sẽ yêu cầu doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi phạm vi kinh doanh, hoặc sẽ thu hồi giấy phép kinh doanh của họ. Điều 84: Những doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh chất nguy hiểm mà có một trong các tình huống sau thì sẽ bị cơ quan quản lý an toàn lao động yêu cầu khắc phục sai phạm; đồng thời bị tịch thu số tiền kiếm được bất hợp pháp, và phải chịu mức phạt từ 100.000 đến 200.000 nhân dân tệ ; Nếu vẫn từ chối sửa chữa, thì sẽ bị yêu cầu ngừng sản xuất và kinh doanh để tiến hành điều chỉnh; nếu vẫn không chấp hành, thì giấy phép sản xuất và kinh doanh các chất nguy hiểm sẽ bị thu hồi. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý công thương cũng sẽ yêu cầu doanh nghiệp đó thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi phạm vi kinh doanh, hoặc sẽ thu hồi giấy phép kinh doanh của họ. Cụ thể: (1) Bán các chất hóa học cực độc hoặc các chất dễ gây nổ cho những đơn vị không có các giấy phép hoặc chứng từ cần thiết theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều 38 của quy định này ; (II) Bán các chất hóa học cực độc không theo loại và số lượng được ghi trong giấy phép mua chất hóa học cực độc ; (III) Bán các hóa chất cực độc cho cá nhân (trừ các loại thuốc trừ sâu thuộc nhóm hóa chất cực độc), cũng như các hóa chất dễ gây nổ. Các đơn vị không có các giấy phép hoặc chứng từ cần thiết theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều 38 của quy định này, mà vẫn mua các hóa chất cực độc hoặc các hóa chất dễ gây nổ; hoặc cá nhân mua các hóa chất cực độc (trừ các loại thuốc trừ sâu thuộc nhóm hóa chất cực độc) hoặc các hóa chất dễ gây nổ, thì cơ quan công an sẽ tịch thu các hóa chất đó, đồng thời có thể phạt tiền lên đến 5000 nhân dân tệ. Các đơn vị sử dụng hóa chất cực độc, hóa chất dễ gây nổ sẽ bị cơ quan công an yêu cầu khắc phục sai phạm; đồng thời bị phạt tiền từ 100.000 đến 200.000 nhân dân tệ, nếu họ cho mượn hoặc chuyển giao những hóa chất cực độc, hóa chất dễ gây nổ mà mình đã mua cho các đơn vị không có giấy phép theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều 38 của quy định này. Ngoài ra, họ cũng sẽ bị phạt nếu chuyển giao những hóa chất cực độc (trừ các loại thuốc trừ sâu thuộc nhóm hóa chất cực độc) và hóa chất dễ gây nổ cho cá nhân ; Nếu từ chối sửa chữa, sẽ bị yêu cầu tạm ngừng hoạt động để tiến hành điều chỉnh. Điều 85: Những người thực hiện việc vận chuyển hàng hóa nguy hiểm bằng đường bộ hoặc đường thủy mà không có giấy phép theo quy định của pháp luật, sẽ bị xử phạt theo các quy định của luật và quy định hành chính liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ và đường thủy. Điều 86: Trong trường hợp có một trong các tình huống sau đây, cơ quan quản lý giao thông vận tải sẽ yêu cầu bên liên quan phải khắc phục sai phạm, đồng thời áp đặt mức phạt từ 50.000 đến 100.000 nhân dân tệ ; Nếu từ chối sửa chữa, sẽ bị yêu cầu tạm ngừng hoạt động để tiến hành điều chỉnh ; Nếu hành vi đó cấu thành tội phạm, thì người liên quan sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật: (1) Những người làm việc tại các doanh nghiệp vận chuyển hàng hóa nguy hiểm bằng đường bộ hoặc đường thủy, như tài xế, thủy thủ, nhân viên quản lý việc bốc dỡ hàng hóa, nhân viên hộ tống hàng hóa, nhân viên khai báo thông tin, và nhân viên kiểm tra hàng hóa khi đóng gói vào container; những người này không có chứng chỉ hành nghề mà vẫn tiếp tục làm việc ; (II) Vận chuyển các chất nguy hiểm mà không áp dụng các biện pháp bảo vệ an toàn phù hợp với tính chất nguy hiểm của chúng; hoặc không trang bị đầy đủ các thiết bị bảo hộ cần thiết cũng như các phương tiện cứu hộ khẩn cấp ; (III) Sử dụng tàu thuyền không có giấy chứng nhận phù hợp để vận chuyển hàng hóa nguy hiểm theo quy định của pháp luật, nhằm vận chuyển các loại hàng hóa nguy hiểm qua đường sông ; (IV) Những đơn vị vận chuyển hóa chất nguy hiểm bằng đường thủy vi phạm các quy định về số lượng hóa chất nguy hiểm mà mỗi con tàu được phép vận chuyển, như đã được đặt ra bởi cơ quan quản lý giao thông vận tải thuộc Chính phủ ; (5) Các bến cảng và bãi đỗ tàu dùng để vận chuyển hàng hóa nguy hiểm không tuân thủ các quy định an toàn liên quan; hoặc không giữ được khoảng cách an toàn cần thiết so với các nguồn nước dùng để uống; hoặc được đưa vào sử dụng mà chưa qua kiểm tra và phê duyệt của cơ quan quản lý giao thông vận tải ; (6) Người gửi hàng không cung cấp cho người vận chuyển thông tin về loại hóa chất nguy hiểm, số lượng, các đặc tính nguy hiểm của chúng, cũng như các biện pháp xử lý khẩn cấp trong trường hợp xảy ra sự cố. Hoặc họ không đóng gói các hóa chất nguy hiểm một cách đúng cách theo quy định, và cũng không ghi rõ các dấu hiệu cảnh báo trên bao bì đựng chúng ; (7) Khi vận chuyển các chất nguy hiểm, cần phải thêm chất ức chế hoặc chất ổn định vào chúng. Nếu người gửi hàng không thực hiện việc này, hoặc không thông báo cho người vận chuyển về điều đó, thì sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Điều 87: Trong trường hợp có một trong các tình huống sau đây, cơ quan quản lý giao thông vận tải sẽ yêu cầu bên vi phạm khắc phục sai phạm; đồng thời áp đặt mức phạt từ 100.000 nhân dân tệ đến 200.000 nhân dân tệ. Nếu bên vi phạm có thu nhập bất chính, thì số tiền đó sẽ bị tịch thu ; Nếu từ chối sửa chữa, sẽ bị yêu cầu tạm ngừng hoạt động để tiến hành điều chỉnh ; Nếu hành vi đó cấu thành tội phạm, thì người liên quan sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật: (1) Nhờ các doanh nghiệp chưa có giấy phép vận chuyển hàng nguy hiểm bằng đường bộ hoặc đường thủy để vận chuyển các chất nguy hiểm ; (II) Vận chuyển các hóa chất cực độc qua các vùng nước kín trong sông ngòi, cũng như các loại hóa chất nguy hiểm khác mà theo quy định thì không được phép vận chuyển qua sông ngòi ; (III) Vận chuyển bằng đường thủy: Các hóa chất cực độc và các loại hóa chất nguy hiểm khác mà theo quy định thì không được phép vận chuyển bằng đường thủy ; (IV) Đưa các chất nguy hiểm vào trong số hàng hóa thông thường được gửi đi, hoặc báo cáo sai lệch hoặc che giấu thực chất của các chất nguy hiểm, khiến chúng bị coi như hàng hóa thông thường. Những người đưa các chất nguy hiểm vào trong thư từ, bưu kiện, hoặc giả mạo chúng thành những vật phẩm thông thường để gửi đi, sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật về quản lý trật tự công cộng ; Nếu hành vi đó cấu thành tội phạm, thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật. Các doanh nghiệp bưu chính, doanh nghiệp vận chuyển hàng hóa nếu nhận gửi các chất nguy hiểm thì sẽ bị xử phạt theo quy định của “Luật Bưu chính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”. Điều 88: Trong trường hợp có một trong các tình huống sau đây, cơ quan công an sẽ yêu cầu bên vi phạm khắc phục sai phạm, đồng thời phạt tiền từ 50.000 nhân dân tệ đến 100.000 nhân dân tệ ; Nếu hành vi đó vi phạm quy định về quản lý trật tự công cộng, thì sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật ; Nếu hành vi đó cấu thành tội phạm, thì người vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật: (1) Vận chuyển các chất nguy hiểm với khối lượng vượt quá giới hạn được quy định cho phương tiện vận chuyển ; (II) Việc vận chuyển các chất nguy hiểm bằng những phương tiện không đáp ứng các điều kiện kỹ thuật an toàn theo **tiêu chuẩn quy định** ; (III) Các phương tiện vận chuyển hóa chất nguy hiểm mà không được cơ quan công an cho phép thì sẽ không được vào các khu vực mà việc di chuyển của các phương tiện vận chuyển hóa chất nguy hiểm bị hạn chế ; (IV) Vận chuyển các hóa chất cực độc bằng đường bộ mà không có giấy phép cho phép việc vận chuyển những hóa chất này. Điều 89: Trong trường hợp có một trong các tình huống sau đây, cơ quan công an sẽ yêu cầu bên vi phạm khắc phục sai phạm, đồng thời phạt tiền từ 10.000 nhân dân tệ đến 50.000 nhân dân tệ ; Những hành vi vi phạm quy định về quản lý an ninh sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật: (1) Các phương tiện vận chuyển hóa chất nguy hiểm không gắn hoặc không sơn các biển cảnh báo; hoặc các biển cảnh báo được gắn/sơn không đáp ứng các yêu cầu quy định ; (II) Vận chuyển các chất nguy hiểm bằng đường bộ mà không có nhân viên hộ tống ; (III) Trong quá trình vận chuyển các hóa chất cực độc hoặc các hóa chất dễ gây nổ, nếu cần phải dừng xe trong thời gian dài, thì tài xế và người hộ tống không báo cáo việc này cho cơ quan công an địa phương ; (IV) Trong quá trình vận chuyển bằng đường bộ, nếu các hóa chất cực độc hoặc các hóa chất dễ gây nổ bị mất mát, bị đánh cắp, bị chiếm đoạt, hoặc xảy ra tình trạng rò rỉ, thì người lái xe và người hộ tống không áp dụng các biện pháp cảnh báo và an toàn cần thiết, hoặc không báo cáo với cơ quan công an địa phương. Điều 90: Đối với các doanh nghiệp vận chuyển hóa chất nguy hiểm gây ra tai nạn giao thông và phải chịu trách nhiệm hoàn toàn hoặc chủ yếu về tai nạn đó, cơ quan công an sẽ yêu cầu họ loại bỏ các mối nguy hiểm tiềm ẩn. Những phương tiện vận chuyển hóa chất nguy hiểm mà các mối nguy hiểm tiềm ẩn chưa được loại bỏ thì sẽ bị cấm lưu thông trên đường. Điều 91: Trong trường hợp có một trong các tình huống sau đây, cơ quan quản lý giao thông vận tải sẽ yêu cầu bên liên quan phải khắc phục sai phạm; đồng thời có thể áp đặt mức phạt dưới 10.000 nhân dân tệ ; Những đơn vị từ chối sửa chữa sai phạm sẽ bị phạt tiền từ 10.000 đến 50.000 nhân dân tệ: (1) Các doanh nghiệp vận chuyển hàng hóa nguy hiểm bằng đường bộ hoặc đường thủy mà không bố trí nhân viên chuyên trách về an toàn ; (II) Các đơn vị quản lý các bến cảng và bãi đỗ tàu dùng để vận chuyển hàng hóa nguy hiểm chưa xây dựng kế hoạch ứng phó khẩn cấp trong trường hợp xảy ra tai nạn liên quan đến hàng hóa nguy hiểm tại các bến cảng và bãi đỗ tàu đó; hoặc chưa trang bị đầy đủ các thiết bị và công cụ cần thiết để ứng phó khẩn cấp. Điều 92: Trong trường hợp có một trong các tình huống sau đây, sẽ bị xử phạt theo quy định của “Quy chế quản lý an toàn giao thông đường thủy của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”: (1) Các doanh nghiệp vận tải hàng hóa nguy hiểm bằng đường thủy không xây dựng kế hoạch ứng phó khẩn cấp trong trường hợp xảy ra tai nạn liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa nguy hiểm; hoặc không trang bị đầy đủ và hiệu quả các thiết bị, công cụ cần thiết để ứng phó khẩn cấp cho các tàu vận chuyển hàng hóa nguy hiểm ; (II) Chủ sở hữu hoặc người quản lý các tàu vận chuyển hóa chất nguy hiểm trên sông mà không có giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm phát sinh từ ô nhiễm do tàu gây ra, hoặc không có bằng chứng về khả năng tài chính để bồi thường thiệt hại ; (III) Tàu thuyền vận chuyển hóa chất nguy hiểm vào ra các cảng sông mà không báo cáo trước các cơ quan quản lý hàng hải về những vấn đề liên quan và không nhận được sự chấp thuận từ các cơ quan này ; (IV) Các tàu vận chuyển hóa chất nguy hiểm khi di chuyển trên sông, tiến hành việc bốc dỡ hàng hóa hoặc đậu tàu, nếu không treo các biển cảnh báo chuyên dụng, hoặc không phát tín hiệu theo quy định, hoặc không xin sự hỗ trợ của người dẫn đường theo quy định. Những trường hợp tiến hành việc bốc dỡ, chuyển giao các chất nguy hiểm tại cảng mà không báo cáo cho cơ quan quản lý cảng và không nhận được sự đồng ý từ họ, sẽ bị xử phạt theo quy định của “Luật Cảng của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”. Điều 93: Những người làm giả, sửa đổi, cho thuê, cho mượn hoặc chuyển nhượng giấy phép an toàn sản xuất các chất nguy hiểm, giấy phép sản xuất sản phẩm công nghiệp; hoặc sử dụng những giấy phép bị làm giả, sửa đổi này để sản xuất các chất nguy hiểm hay sản xuất sản phẩm công nghiệp, thì sẽ bị xử phạt theo quy định tại “Quy định về giấy phép an toàn sản xuất” và “Quy định quản lý giấy phép sản xuất sản phẩm công nghiệp của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”. Những người làm giả, sửa đổi, cho thuê, cho mượn hoặc chuyển nhượng các giấy phép khác được quy định trong quy chế này; hoặc sử dụng các giấy phép bị làm giả, sửa đổi như vậy, sẽ bị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép phạt tiền từ 100.000 đến 200.000 nhân dân tệ. Nếu có lợi nhuận bất chính, số tiền lợi nhuận đó sẽ bị tịch thu ; Nếu hành vi đó vi phạm quy định về quản lý trật tự công cộng, thì sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật ; Nếu hành vi đó cấu thành tội phạm, thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật. Điều 94: Nếu đơn vị sản xuất, lưu trữ chất nguy hiểm xảy ra sự cố liên quan đến chất nguy hiểm, mà người chịu trách nhiệm chính tại đơn vị đó không tức khắc tổ chức công tác cứu hộ hoặc không báo cáo ngay cho các cơ quan có thẩm quyền, thì sẽ bị xử phạt theo quy định tại “Quy định về việc báo cáo và xử lý các sự cố an toàn trong sản xuất”. Nếu các đơn vị sử dụng chất nguy hiểm gây ra tai nạn liên quan đến chất nguy hiểm, dẫn đến thương tích cho người khác hoặc thiệt hại về tài sản, thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật. Điều 95: Trong trường hợp xảy ra tai nạn liên quan đến hóa chất nguy hiểm, nếu các cơ quan chức năng tại địa phương và các cơ quan liên quan không tức thì triển khai các biện pháp cứu hộ, hoặc không áp dụng những biện pháp khẩn cấp cần thiết để giảm thiểu thiệt hại do tai nạn gây ra, ngăn chặn sự lan rộng của tai nạn, thì những người chịu trách nhiệm trực tiếp cùng các cá nhân có liên quan sẽ bị xử lý theo pháp luật ; Nếu hành vi đó cấu thành tội phạm, thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật. Điều 96: Những người làm việc tại các cơ quan có trách nhiệm giám sát và quản lý an toàn đối với các chất nguy hiểm, nếu lạm dụng quyền hạn, lơ là trách nhiệm, hoặc gian lận trong công việc giám sát và quản lý an toàn đó, và hành vi của họ cấu thành tội phạm, thì họ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật ; Nếu chưa cấu thành tội phạm, sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Chương 8: Các quy định khác
Điều 97: Việc quản lý an toàn đối với các hóa chất được giám sát, cũng như các loại dược phẩm và thuốc trừ sâu thuộc nhóm hóa chất nguy hiểm, phải tuân theo các quy định trong quy chế này ; Nếu luật pháp hoặc các quy định hành chính có quy định khác, thì phải tuân theo những quy định đó. Quy định này không được áp dụng đối với việc quản lý an toàn của các sản phẩm dân dụng, pháo hoa, chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân, cũng như các chất nguy hiểm được sử dụng trong lĩnh vực nghiên cứu và sản xuất quốc phòng. Nếu luật pháp và các quy định hành chính có những quy định riêng về việc quản lý an toàn khí đốt, thì phải tuân theo những quy định đó. Các thùng chứa hóa chất nguy hiểm thuộc loại thiết bị đặc biệt; việc quản lý an toàn của chúng phải tuân theo các quy định trong luật pháp và văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến an toàn của thiết bị đặc biệt. Điều 98: Việc quản lý việc nhập khẩu và xuất khẩu các chất nguy hiểm được thực hiện theo các quy định của các luật, văn bản pháp luật và quy định hành chính liên quan đến thương mại quốc tế ; Việc quản lý an toàn trong việc lưu trữ, sử dụng, kinh doanh và vận chuyển các hóa chất nguy hiểm nhập khẩu phải tuân theo các quy định của quy chế này. Việc đăng ký quản lý môi trường đối với các chất nguy hiểm và các chất hóa học mới được thực hiện theo các quy định của luật pháp, văn bản pháp luật và quy định hành chính liên quan đến bảo vệ môi trường. Đăng ký quản lý môi trường đối với hóa chất nguy hiểm sẽ phải chịu phí theo **quy định liên quan**. Điều 99: Những chất nguy hiểm không có chủ mà người dân phát hiện hoặc nhặt được sẽ được cơ quan công an tiếp nhận. Đối với các hóa chất nguy hiểm mà cơ quan công an tiếp nhận hoặc các cơ quan có thẩm quyền tịch thu theo pháp luật, nếu cần phải xử lý chúng sao cho không gây hại, thì chúng sẽ được giao cho các đơn vị chuyên môn do cơ quan quản lý môi trường chỉ định để xử lý; hoặc được giao cho các doanh nghiệp sản xuất hóa chất nguy hiểm để xử lý. Chi phí xử lý do **ngân sách nhà nước chi trả. Điều 100: Đối với những hóa chất mà các đặc tính nguy hiểm của chúng chưa được xác định, Bộ quản lý an toàn lao động thuộc Chính phủ, Bộ quản lý môi trường thuộc Chính phủ, và Bộ y tế thuộc Chính phủ sẽ lần lượt chịu trách nhiệm tổ chức việc đánh giá các đặc tính nguy hiểm về mặt vật lý, mức độ gây hại cho môi trường, cũng như các đặc tính độc học của hóa chất đó. Theo kết quả đánh giá, nếu cần điều chỉnh danh mục các chất nguy hiểm, thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 2, Điều 3 của quy chế này. Điều 101: Các doanh nghiệp hóa chất đã sử dụng các chất nguy hiểm trong quá trình sản xuất trước khi quy định này có hiệu lực, và theo quy định của quy chế này thì cần phải có giấy phép sử dụng an toàn các chất nguy hiểm, thì các doanh nghiệp này phải nộp đơn xin cấp giấy phép đó trong thời hạn do cơ quan quản lý an toàn lao động thuộc Hội đồng Nhà nước quy định. Điều 102: Quy định này có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 12 năm 2011.