Thread Content
Tiêu chuẩn bồi thường tai nạn lao động, còn được gọi là tiêu chuẩn trợ cấp tai nạn lao động, là những mục và mức bồi thường mà người lao động bị tai nạn lao động hoặc người thân của người lao động tử vong do tai nạn lao động có quyền nhận theo pháp luật. Trong thời gian người lao động chưa tham gia bảo hiểm tai nạn lao động mà xảy ra tai nạn lao động, thì đơn vị sử dụng lao động phải chi trả các khoản chi phí liên quan đến bảo hiểm tai nạn lao động theo các mục và tiêu chuẩn quy định trong “Quy định về bảo hiểm tai nạn lao động”. Cơ sở pháp lý: Điều 35, Điều 36, Điều 37 và Điều 39 của “Quy định về bảo hiểm tai nạn lao động”. Tiêu chuẩn bồi thường cho các mức khuyết tật từ 1 đến 10 được quy định tại các điều 35, 36 và 37 của “Quy định về bảo hiểm tai nạn lao động”. Khi người lao động bị khuyết tật do làm việc và được xác định thuộc mức khuyết tật từ 1 đến 10, thì quỹ bảo hiểm tai nạn lao động sẽ trả một khoản tiền bồi thường một lần. Cụ thể như sau: Khuyết tật cấp 1: Mức lương của người lao động × 27; Khuyết tật cấp 2: Mức lương của người lao động × 25; Khuyết tật cấp 3: Mức lương của người lao động × 23; Khuyết tật cấp 4: Mức lương của người lao động × 21; Khuyết tật cấp 5: Mức lương của người lao động × 18; Khuyết tật cấp 6: Mức lương của người lao động × 16; Khuyết tật cấp 7: Mức lương của người lao động × 13; Khuyết tật cấp 8: Mức lương của người lao động × 11; Khuyết tật cấp 9: Mức lương của người lao động × 9; Khuyết tật cấp 10: Mức lương của người lao động × 7. Tiêu chuẩn bồi thường cho các trường hợp bị khuyết tật từ cấp độ 1 đến cấp độ 6 (được trả hàng tháng): Theo các điều 35 và 36 của “Quy định về bảo hiểm tai nạn lao động”, những người lao động bị khuyết tật do công việc sẽ được hưởng trợ cấp khuyết tật hàng tháng. Mức trợ cấp như sau: Khuyết tật cấp độ 1: Lương của người lao động × 90%; Khuyết tật cấp độ 2: Lương của người lao động × 85%; Khuyết tật cấp độ 3: Lương của người lao động × 80%; Khuyết tật cấp độ 4: Lương của người lao động × 75%; Khuyết tật cấp độ 5: Lương của người lao động × 70%; Khuyết tật cấp độ 6: Lương của người lao động × 60%. Giải thích: 1) Trợ cấp dành cho những người bị khuyết tật ở mức độ 1–4 sẽ được chi trả từ quỹ bảo hiểm lao động. Nếu số tiền trợ cấp này thấp hơn mức lương tối thiểu tại địa phương, thì phần chênh lệch sẽ do quỹ bảo hiểm lao động bù đắp. 2) Trợ cấp dành cho những người bị khuyết tật ở mức độ 5–6 sẽ do người sử dụng lao động chi trả, trong trường hợp họ gặp khó khăn trong việc tìm việc làm cho người khuyết tật đó. Nếu số tiền trợ cấp này thấp hơn mức lương tối thiểu tại địa phương, thì phần chênh lệch sẽ do người sử dụng lao động bù đắp. 3) Mức lương của người lao động: Là mức lương trung bình hàng tháng mà người lao động phải trả trong 12 tháng trước khi gặp tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp. Nếu mức lương của cá nhân cao hơn 300% mức lương trung bình của người lao động trong khu vực được quản lý chung, thì mức lương sẽ được tính dựa trên 300% mức lương trung bình đó. Ngược lại, nếu mức lương của cá nhân thấp hơn 60% mức lương trung bình của người lao động trong khu vực được quản lý chung, thì mức lương sẽ được tính dựa trên 60% mức lương trung bình đó (các trường hợp khác cũng tương tự). Tiêu chuẩn bồi thường: Đối với các mức độ thương tật từ 3 đến 10, có khoản trợ cấp y tế một lần và khoản trợ cấp hỗ trợ việc làm do chấn thương lao động. 1) Khoản trợ cấp y tế một lần: được thanh toán bởi quỹ bảo hiểm lao động; 2) Khoản trợ cấp hỗ trợ việc làm một lần: được thanh toán bởi người sử dụng lao động. Các tiêu chuẩn này được xác định dựa trên mức độ thương tật. Luật Bảo hiểm lao động không quy định một tiêu chuẩn chung; việc xác định tiêu chuẩn cụ thể được giao cho các tỉnh, khu tự trị và thành phố trực thuộc trung ương quy định. Có thể tìm thấy thông tin này trong các quy định về bảo hiểm tai nạn lao động hoặc các chính sách liên quan đến bảo hiểm tai nạn lao động tại từng tỉnh. Ví dụ: Tiêu chuẩn về trợ cấp y tế một lần do tai nạn lao động và trợ cấp hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật tại tỉnh Quảng Đông như sau: Trợ cấp y tế một lần: Đối với người bị khuyết tật cấp độ 5: Mức lương của người đó × 10; cấp độ 6: Mức lương của người đó × 8; cấp độ 7: Mức lương của người đó × 6; cấp độ 8: Mức lương của người đó × 4; cấp độ 9: Mức lương của người đó × 2; cấp độ 10: Mức lương của người đó × 1. Trợ cấp việc làm do khuyết tật một lần: Khuyết tật cấp 5: Lương của người đó × 50; Khuyết tật cấp 6: Lương của người đó × 40; Khuyết tật cấp 7: Lương của người đó × 25; Khuyết tật cấp 8: Lương của người đó × 15; Khuyết tật cấp 9: Lương của người đó × 8; Khuyết tật cấp 10: Lương của người đó × 4. Tiêu chuẩn bồi thường 4: Tiền lương trong thời gian nghỉ việc nhưng vẫn được hưởng lương. Trong thời gian này, mức lương và các quyền lợi khác vẫn giữ nguyên, và do đơn vị làm việc trả lương hàng tháng. Thời gian ngừng làm việc nhưng vẫn nhận lương thường không quá 12 tháng. Trong trường hợp chấn thương nghiêm trọng hoặc có tình huống đặc biệt, với sự xác nhận của ủy ban đánh giá khả năng lao động cấp thành phố, thời hạn có thể được kéo dài một cách phù hợp. Tuy nhiên, mức độ kéo dài này không được vượt quá 12 tháng. Chú ý: Trong thực tế, cách làm phổ biến nhất là dựa vào mức lương trung bình trong 12 tháng trước khi xảy ra tai nạn lao động để xác định mức trợ cấp. Tiêu chuẩn bồi thường: Trong thời gian nghỉ việc để điều trị chấn thương lao động mà người lao động không thể tự chăm sóc bản thân, thì đơn vị sở thuộc phải chịu trách nhiệm chăm sóc họ. Nếu đơn vị không sắp xếp người chăm sóc, thì đơn vị phải chi trả tiền thuê người chăm sóc. Tiêu chuẩn bồi thường: Chi phí chăm sóc sau khi được đánh giá mức độ khuyết tật. Đối với những người lao động bị chấn thương nghề nghiệp và đã được xác định mức độ khuyết tật, đồng thời được ủy ban đánh giá năng lực lao động xác nhận rằng họ cần được chăm sóc trong cuộc sống hàng ngày, thì chi phí chăm sóc này sẽ được thanh toán hàng tháng từ quỹ bảo hiểm tai nạn lao động. Không thể tự chăm sóc bản thân hoàn toàn: Mức lương trung bình của xã hội × 50%; Không thể tự chăm sóc bản thân phần lớn các công việc hàng ngày: Mức lương trung bình của xã hội × 40%; Chỉ có thể tự chăm sóc bản thân một phần: Mức lương trung bình của xã hội × 30%. Tiêu chuẩn bồi thường bao gồm chi phí hỗ trợ ăn uống trong thời gian nằm viện, chi phí di chuyển, chi phí ăn ở. Đối với những người lao động bị thương do công việc và phải nằm viện để điều trị, chi phí hỗ trợ ăn uống sẽ được chi trả từ quỹ bảo hiểm tai nạn lao động. Còn các chi phí liên quan đến việc di chuyển và ăn ở khi người lao động này điều trị tại nơi khác so với khu vực được quy định, cũng sẽ được chi trả từ quỹ này. Tiêu chuẩn cụ thể về mức chi trả sẽ do chính quyền địa phương quy định. Tiêu chuẩn bồi thường: Các chi phí y tế cần thiết để điều trị chấn thương lao động, nếu nằm trong danh mục các dịch vụ khám chữa bệnh được bảo hiểm lao động chi trả, danh mục các loại thuốc được bảo hiểm lao động chi trả, và tiêu chuẩn dịch vụ nằm viện được bảo hiểm lao động quy định, thì sẽ được thanh toán từ quỹ bảo hiểm lao động. Chi phí y tế vượt quá mức quy định trong danh mục và tiêu chuẩn dịch vụ vẫn do người lao động bị tai nạn lao động hoặc đơn vị sử dụng lao động chịu trách nhiệm. Trong thực tế, các địa phương có cách xử lý khác nhau; phần lớn các địa phương quy định rằng đơn vị sử dụng lao động không phải chịu trách nhiệm. Tiêu chuẩn bồi thường: Chi phí phục hồi chức năng do tai nạn lao động. Những người lao động bị tai nạn lao động có thể đến các cơ sở y tế đã ký kết hợp đồng dịch vụ để được phục hồi chức năng. Nếu chi phí này nằm trong phạm vi quy định, thì sẽ được thanh toán từ quỹ bảo hiểm tai nạn lao động. Tiêu chuẩn bồi thường cho chi phí các dụng cụ hỗ trợ: Những người lao động bị chấn thương nghề nghiệp, do nhu cầu trong cuộc sống hàng ngày hoặc trong công việc, có thể được cấp các dụng cụ hỗ trợ như chân giả, dụng cụ chỉnh hình, mắt giả, răng giả, xe lăn, v.v. Chi phí liên quan sẽ được thanh toán từ quỹ bảo hiểm tai nạn lao động theo **tiêu chuẩn đã quy định**. Cần lưu ý rằng, các thiết bị hỗ trợ nên được sử dụng nhằm hỗ trợ các hoạt động sinh hoạt hàng ngày và lao động sản xuất một cách cần thiết, đồng thời nên chọn những sản phẩm phổ biến trên thị trường trong nước. Người lao động bị tai nạn lao động chọn các sản phẩm loại khác thì chi phí sẽ cao hơn một chút so với loại thông dụng; phần chênh lệch này sẽ do người lao động tự chi trả. Tiêu chuẩn bồi thường: Đối với trường hợp người lao động bị tái phát chấn thương nghề nghiệp, nếu được xác nhận cần điều trị, họ sẽ được hưởng chi phí điều trị, chi phí mua các dụng cụ hỗ trợ, cùng với tiền lương trong thời gian nghỉ việc để điều trị. Tiêu chuẩn bồi thường đối với trường hợp tử vong do làm việc được quy định tại Điều 39 của “Quy chế bảo hiểm tai nạn lao động”. Khi người lao động tử vong do làm việc, những người thân của họ có thể nhận được các khoản trợ cấp như tiền hỗ trợ tang lễ, tiền trợ cấp cho người phụ thuộc và tiền trợ cấp một lần khi tử vong do làm việc, theo các quy định sau: 1. Tiền hỗ trợ tang lễ: Thu nhập bình quân địa phương × 6. Ví dụ, thu nhập bình quân tại Bắc Kinh hiện nay là 7086 nhân dân tệ, vậy tiền hỗ trợ tang lễ sẽ là 7086 × 6 = 42516 nhân dân tệ. 2. Trợ cấp cho người thân phụ thuộc: Được trả theo một tỷ lệ nhất định so với mức lương của người lao động, dành cho những người thân không có khả năng lao động, và vốn dựa vào người lao động đó để có cuộc sống. Tiêu chuẩn như sau: vợ/chồng nhận 40% mỗi tháng; các thành viên khác trong gia đình nhận 30% mỗi tháng. Đối với người cao tuổi không có người nuôi dưỡng hoặc trẻ mồ côi, mức trợ cấp sẽ tăng thêm 10% so với mức tiêu chuẩn nói trên. Tổng số tiền trợ cấp dành cho các thân nhân được hưởng lương hưu không được vượt quá mức lương mà người lao động đó nhận được trong thời gian còn sống. Công thức tính như sau: Vợ/chồng: Lương của người quá cố × 40% (trả hàng tháng); Các thân nhân khác: Lương của người quá cố × 30% (mỗi người mỗi tháng); Người cao tuổi không có người nuôi dưỡng hoặc trẻ mồ côi: Tăng thêm 10% so với mức trên. Khi tính toán, tổng số tiền trợ cấp này phải ≤ mức lương hàng tháng của người lao động (tính theo tháng). 3. Trợ cấp một lần khi tử vong do tai nạn lao động: Mức trợ cấp này bằng 20 lần thu nhập khả dụng bình quân của người dân thành thị cả nước trong năm trước đó. Theo số liệu thống kê mới nhất từ **Cục Thống kê, năm 2015, thu nhập bình quân đầu người của cư dân thành thị trên toàn quốc là 31.195 nhân dân tệ, tăng 8,2% so với năm trước. Do đó, mức trợ cấp một lần khi tử vong do tai nạn lao động trong năm 2016 là 31195 nhân với 20, tức là 623900 nhân dân tệ. Do Quy định về bảo hiểm tai nạn lao động được áp dụng thống nhất trên toàn quốc, dù ở khu vực phía Đông hay phía Tây, hay ở những nơi có nền kinh tế phát triển hay chưa phát triển, mức trợ cấp một lần khi người lao động tử vong vào năm 2016 vẫn được quy định thống nhất ở mức 623.900 nhân dân tệ. Chú thích: Các tiêu chuẩn trên đều được tổng hợp dựa trên các quy định trong “Quy chế bảo hiểm tai nạn lao động” mới nhất cùng với các số liệu thống kê hiện tại.