Vào ngày 27 tháng 11 năm 4714 theo lịch của Hoàng Đế, gió lạnh thổi mạnh, và sương mù cũng tan biến
Thread Content
Bài viết này cuối cùng được *nht1 chỉnh sửa vào ngày 27/11/2016 lúc 00:01. Vào ngày 27 tháng 11, năm 4714 kể từ thời đại Hoàng Đế, gió lạnh dịu bớt, sương mù tan biến. Đó cũng chính là ngày sinh nhật của các bậc hiền triết phương Tây; toàn thể dân chúng cùng nhau ăn mừng. Bên ngoài một thành phố ở vùng Tây Bắc, có một kỵ sĩ đang phi nhanh như mũi tên… Con ngựa ấy đến từ kinh đô; đó là một sĩ quan thuộc quân đội hoàng gia, mang theo tin tức khẩn cấp. Tâu rằng: Hôm nay, tỉnh Tiêu Mai đã ban hành bộ luật về thuế nhằm giảm ô nhiễm không khí. Ngày áp dụng bộ luật này sẽ được hoãn lại một năm năm ngày so với ngày hôm nay. Vui mừng thay, đúng là giúp đỡ người khác trong lúc khó khăn, như cơn gió mang theo ánh sáng xuyên qua làn sương mù vậy. Đây là **luật thuế chống sương mù đầu tiên của tôi. Trời phù hộ Trung Hoa. Như dự đoán, không vui vì của cải, cũng chẳng buồn vì bản thân. Cách xua tan sương mù rốt cuộc cũng có thể đảo ngược tình thế. Bèn cho gió tây bắc thổi vào điện để tiếp kiến. Nói rằng: Gió từ phía tây bắc thổi suốt ngày đêm, không ngại khó khăn gian khổ để loại bỏ sương mù. Ta nhớ đến công lao vất vả của ngươi, cũng như tình cảm sâu sắc mà ngươi dành cho quê hương mình. Vì vậy, ta cho phép ngươi trở về quê hương ở Siberia vào mùa xuân và mùa hè năm sau, để nghỉ ngơi và sống cuộc đời yên bình. Khi đến lúc phải nộp thuế cho triều đình, ta sẽ ban thưởng cho ngươi mười ngàn lượng vàng. Những kẻ lười biếng, thích hưởng thụ mà ghét lao động; không gieo trồng vào mùa xuân, cũng không thu hoạch vào mùa thu; cả ngày chỉ biết lười biếng, không làm việc chăm chỉ. Ta sẽ cắt đứt nguồn lương thực của bọn chúng, để chúng năm sau không còn gì để ăn nữa! Ngay lập tức có lệnh ban hành, toàn thể mọi tầng lớp trong xã hội đều tôn sùng việc học hành; các thương nhân khắp cả nước vội vàng quay trở lại làm việc và sản xuất. Ghi chép về hạt óc chó.Điều 7: Cơ sở tính thuế đối với các chất gây ô nhiễm bị đánh thuế được xác định theo các phương pháp sau:
(a) Đối với các chất gây ô nhiễm trong không khí, cơ sở tính thuế được xác định dựa trên lượng chất gây ô nhiễm được thải ra ; (II) Các chất gây ô nhiễm trong nước phải chịu thuế sẽ được xác định dựa trên số lượng tương đương của chất gây ô nhiễm, tính toán từ lượng chất thải ra môi trường ; (III) Rác thải rắn phải chịu thuế được xác định dựa trên lượng rác thải rắn được thải ra ; (IV) Tiếng ồn phải chịu thuế được xác định dựa trên số decibel vượt quá **tiêu chuẩn quy định**. Điều 8: Giá trị tương đương gây ô nhiễm của các chất gây ô nhiễm không khí và nước phải chịu thuế được tính bằng cách chia lượng chất gây ô nhiễm được thải ra cho giá trị tương đương gây ô nhiễm của chất đó. Giá trị tương đương gây ô nhiễm cụ thể của từng loại chất gây ô nhiễm không khí và nước phải chịu thuế, sẽ được xác định theo “Bảng các chất gây ô nhiễm phải chịu thuế và giá trị tương đương” kèm theo luật này. Điều 9: Đối với từng nguồn phát thải khí ô nhiễm thuộc diện phải nộp thuế, hoặc những trường hợp không có nguồn phát thải nào, các chất gây ô nhiễm sẽ được sắp xếp theo mức độ ô nhiễm từ cao xuống thấp. Thuế bảo vệ môi trường sẽ được áp dụng đối với ba chất gây ô nhiễm có mức độ ô nhiễm cao nhất. Đối với các chất gây ô nhiễm nước thuộc diện phải nộp thuế tại từng điểm thải, sẽ được phân loại thành chất gây ô nhiễm nước loại 1 và các loại chất gây ô nhiễm nước khác, dựa trên bảng “Danh sách các chất gây ô nhiễm nước và giá trị tương đương” kèm theo luật này. Các chất gây ô nhiễm nước loại 1 sẽ bị tính thuế bảo vệ môi trường dựa trên 5 mục đầu tiên trong bảng xếp hạng; còn các chất gây ô nhiễm nước thuộc các loại khác thì sẽ bị tính thuế dựa trên 3 mục đầu tiên trong bảng xếp hạng. Các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương có thể, dựa trên những nhu cầu đặc biệt trong việc giảm lượng chất thải ô nhiễm tại địa phương mình, tăng số loại chất thải cần chịu thuế bảo vệ môi trường tại cùng một điểm thải. Việc này cần được báo cáo lên ủy ban thường vụ hội đồng nhân dân cùng cấp để quyết định, đồng thời phải báo cáo lên ủy ban thường vụ Quốc hội và Hội đồng Nhà nước để lưu hồ sơ. Điều 10: Lượng chất gây ô nhiễm không khí, chất gây ô nhiễm nước và chất thải rắn cần chịu thuế, cùng mức độ tiếng ồn được tính toán theo các phương pháp và trình tự sau: (1) Nếu người nộp thuế lắp đặt và sử dụng thiết bị giám sát tự động các chất gây ô nhiễm phù hợp với các quy định và tiêu chuẩn giám sát, thì việc tính toán sẽ dựa trên dữ liệu do thiết bị giám sát tự động cung cấp ; (II) Trong trường hợp người nộp thuế không lắp đặt và sử dụng thiết bị giám sát tự động về chất gây ô nhiễm, thì việc tính toán sẽ được thực hiện dựa trên các dữ liệu giám sát do cơ quan giám sát cung cấp, những dữ liệu này phải tuân thủ các quy định và tiêu chuẩn giám sát tương ứng ; (III) Trong trường hợp không đáp ứng các điều kiện cần thiết để giám sát do có nhiều loại chất thải được thải ra, thì việc tính toán sẽ được thực hiện dựa trên các hệ số phát thải và phương pháp tính toán lượng vật chất do cơ quan quản lý bảo vệ môi trường thuộc Chính phủ quy định ; (IV) Nếu không thể tính toán theo các phương pháp quy định tại các điểm 1 đến 3 của khoản này, thì việc tính toán sẽ được thực hiện theo phương pháp khảo sát mẫu do cơ quan chức năng phụ trách bảo vệ môi trường của tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương quy định. Điều 11: Số tiền thuế bảo vệ môi trường phải nộp được tính theo phương pháp sau: (1) Số tiền thuế đối với các chất gây ô nhiễm không khí là tổng số lượng đơn vị ô nhiễm nhân với mức thuế áp dụng cụ thể ; (II) Số tiền thuế phải nộp đối với các chất gây ô nhiễm nước bị đánh thuế là tổng số lượng đơn vị gây ô nhiễm nhân với mức thuế cụ thể được áp dụng ; (III) Số tiền thuế phải nộp đối với rác thải rắn chịu thuế là sản lượng rác thải rắn được thải ra nhân với mức thuế áp dụng cụ thể ; (IV) Mức thuế phải nộp đối với tiếng ồn thuộc diện chịu thuế là mức thuế cụ thể tương ứng với số decibel vượt quá **tiêu chuẩn quy định**. Chương 3: Miễn thuế và giảm thuế
Điều 12: Trong các trường hợp sau đây, thuế bảo vệ môi trường sẽ được miễn thu tạm thời:
(a) Các hoạt động sản xuất nông nghiệp (không bao gồm việc chăn nuôi quy mô lớn) gây ra ô nhiễm môi trường ; (II) Các nguồn gây ô nhiễm di động như phương tiện cơ giới, đầu máy đường sắt, máy móc di chuyển trên mặt đất, tàu thuyền và máy bay, v.v., phát thải các chất gây ô nhiễm cần phải nộp thuế ; (III) Các cơ sở xử lý nước thải đô thị và nông thôn, cũng như các cơ sở xử lý rác thải sinh hoạt được thành lập theo quy định của pháp luật, khi thải ra các chất gây ô nhiễm cần phải nộp thuế, thì mức độ thải ra này không được vượt quá các tiêu chuẩn quy định của pháp luật và các quy định địa phương ; (IV) Các loại chất thải rắn mà người nộp thuế sử dụng một cách tổng hợp phải đáp ứng các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường của ** và các quy định tại địa phương ; (5) Các trường hợp khác được Hội đồng Nhà nước chấp thuận miễn thuế. Quy định miễn thuế tại điểm thứ năm của khoản trên sẽ do Hội đồng Nhà nước báo cáo lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội để lưu hành. Điều 13: Nếu nồng độ các chất gây ô nhiễm không khí hoặc nước mà người nộp thuế thải ra thấp hơn 30% so với tiêu chuẩn quy định của nhà nước và địa phương, thì mức thuế bảo vệ môi trường sẽ được giảm xuống còn 75%. Nếu nồng độ các chất gây ô nhiễm không khí hoặc nước mà người nộp thuế thải ra thấp hơn 50% so với tiêu chuẩn quy định của nhà nước và địa phương, thì mức thuế bảo vệ môi trường sẽ được giảm xuống còn 50%. Chương 4: Quản lý việc thu thuế
Điều 14: Thuế bảo vệ môi trường được cơ quan thuế thu và quản lý theo quy định của “Luật Quản lý việc thu thuế của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” và các quy định liên quan trong luật này. Cơ quan chức năng phụ trách bảo vệ môi trường có trách nhiệm giám sát và quản lý các chất gây ô nhiễm, theo quy định của luật này cũng như các quy định pháp luật liên quan đến bảo vệ môi trường. Các cơ quan nhân dân ở cấp huyện trở lên cần thiết lập cơ chế phối hợp giữa các cơ quan thuế, cơ quan quản lý môi trường và các đơn vị liên quan, nhằm tăng cường việc thu thuế bảo vệ môi trường, đảm bảo rằng số tiền thuế được nộp đúng hạn và đầy đủ. Điều 15: Các cơ quan chuyên trách về bảo vệ môi trường và các cơ quan thuế phải xây dựng nền tảng chia sẻ thông tin liên quan đến thuế, cũng như thiết lập cơ chế phối hợp công việc giữa các cơ quan này. Cơ quan chức năng phụ trách bảo vệ môi trường cần định kỳ gửi cho cơ quan thuế các thông tin liên quan đến việc bảo vệ môi trường, như giấy phép xả thải của các đơn vị xả thải, dữ liệu về lượng chất thải được thải ra, các hành vi vi phạm quy định về môi trường và các hình thức xử phạt tương ứng. Cơ quan thuế phải định kỳ gửi cho cơ quan chuyên trách về bảo vệ môi trường các thông tin liên quan đến thuế bảo vệ môi trường, bao gồm: bản khai nộp thuế của người nộp thuế, số tiền thuế đã nộp, số tiền thuế được miễn giảm, số tiền thuế còn nợ, cũng như các dấu hiệu đáng ngờ liên quan đến rủi ro. Điều 16: Thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế là ngày mà người nộp thuế thải ra các chất gây ô nhiễm cần chịu thuế. Điều 17: Người nộp thuế phải nộp thuế bảo vệ môi trường cho cơ quan thuế tại nơi xả chất thải gây ô nhiễm. Điều 18: Thuế bảo vệ môi trường được tính hàng tháng, và việc nộp thuế được thực hiện theo từng quý. Nếu không thể tính và nộp theo khoảng thời gian cố định, có thể khai báo và nộp từng lần. Khi khai báo và nộp thuế, người nộp thuế phải cung cấp cho cơ quan thuế thông tin về các loại chất gây ô nhiễm cần nộp thuế, số lượng của chúng; đồng thời cung cấp giá trị nồng độ của các chất gây ô nhiễm trong không khí và nước. Ngoài ra, người nộp thuế còn phải cung cấp các tài liệu khác mà cơ quan thuế yêu cầu dựa trên nhu cầu thực tế. Điều 19: Những người nộp thuế phải khai báo và nộp thuế theo từng quý. Họ phải thực hiện việc khai báo thuế và nộp tiền thuế cho cơ quan thuế trong vòng 15 ngày kể từ ngày kết thúc quý đó. Nếu người nộp thuế phải khai báo và nộp thuế theo từng lần, thì họ phải thực hiện việc khai báo thuế và nộp tiền thuế cho cơ quan thuế trong vòng 15 ngày kể từ ngày mà nghĩa vụ nộp thuế bắt đầu. Người nộp thuế phải khai báo thuế một cách trung thực theo đúng quy định của pháp luật, và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác và đầy đủ của các thông tin được khai báo. Điều 20: Cơ quan thuế phải so sánh dữ liệu khai báo thuế của người nộp thuế với các dữ liệu liên quan do cơ quan quản lý môi trường cung cấp. Khi cơ quan thuế phát hiện rằng dữ liệu khai báo thuế của người nộp thuế có dấu hiệu bất thường, hoặc người nộp thuế không nộp tờ khai thuế đúng hạn, thì cơ quan thuế có thể yêu cầu cơ quan chuyên trách về bảo vệ môi trường tiến hành xem xét lại. Cơ quan chuyên trách về bảo vệ môi trường phải đưa ra ý kiến xem xét lại cho cơ quan thuế trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được dữ liệu từ cơ quan thuế. Cơ quan thuế phải điều chỉnh số tiền thuế mà người nộp thuế cần thanh toán, dựa trên các dữ liệu được xem xét lại bởi cơ quan chuyên trách về bảo vệ môi trường. Điều 21: Theo quy định tại khoản 4, Điều 10 của luật này, việc xác định lượng chất thải được phát thải sẽ do cơ quan thuế phối hợp với cơ quan quản lý môi trường thực hiện. Các cơ quan này sẽ xác định loại chất thải, lượng chất thải cũng như số tiền thuế cần nộp. Điều 22: Đối với những người nộp thuế tham gia vào các dự án khai thác biển và gây ra ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước hoặc chất thải rắn trong vùng biển thuộc quyền quản lý của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, thì phương thức khai báo và nộp thuế bảo vệ môi trường sẽ do cơ quan quản lý thuế thuộc Hội đồng Nhà nước phối hợp với cơ quan quản lý biển thuộc Hội đồng Nhà nước quy định. Điều 23: Nếu người nộp thuế, cơ quan thuế, cơ quan quản lý môi trường và các nhân viên của họ vi phạm các quy định của luật này, thì họ sẽ bị xử lý theo quy định của “Luật Quản lý thuế của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”, “Luật Bảo vệ môi trường của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” và các quy định pháp luật liên quan khác. Điều 24: Các cấp chính quyền nhân dân cần khuyến khích người nộp thuế tăng cường đầu tư vào công tác bảo vệ môi trường. Đồng thời, cần hỗ trợ người nộp thuế về mặt tài chính và chính sách đối với các khoản đầu tư của họ vào các thiết bị dùng để giám sát ô nhiễm môi trường. Chương V: Các quy định khác. Điều 25: Ý nghĩa của các thuật ngữ được sử dụng trong luật này: (1) Đơn vị đo mức độ ô nhiễm, là chỉ số hoặc đơn vị đo lường tổng thể để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các chất gây ô nhiễm hoặc các hoạt động gây ô nhiễm đối với môi trường, dựa trên mức độ nguy hại mà chúng gây ra cũng như tính khả thi về mặt kỹ thuật và kinh tế trong việc xử lý chúng. Các chất gây ô nhiễm khác nhau có cùng giá trị độ ô nhiễm trong cùng một môi trường thì mức độ ô nhiễm của chúng về cơ bản là tương đương nhau. (II) Hệ số phát thải là giá trị trung bình thống kê về lượng chất thải mà một đơn vị sản xuất cần phải thải ra, trong điều kiện kỹ thuật, kinh tế và quản lý bình thường. (III) Tính toán cân bằng vật chất là phương pháp dùng nguyên lý bảo toàn khối lượng vật chất để ước tính lượng nguyên liệu sử dụng trong quá trình sản xuất, lượng sản phẩm được tạo ra, cũng như lượng chất thải phát sinh. Điều 26: Các doanh nghiệp, tổ chức và những người khác tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh mà trực tiếp thải các chất gây ô nhiễm vào môi trường phải nộp thuế bảo vệ môi trường theo quy định của luật này. Ngoài ra, họ còn phải chịu trách nhiệm pháp lý về những thiệt hại mà mình gây ra. Điều 27: Kể từ ngày luật này có hiệu lực, thuế bảo vệ môi trường sẽ được thu theo quy định của luật này; phí xả thải sẽ không còn được thu nữa. Điều 28: Luật này có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2018.