Thread Content
Câu đối là một trong những thể loại văn học độc lập trong kho tàng văn hóa Trung Hoa. Chúng phổ biến, thiết thực và được đánh giá cao và đã được ưa chuộng từ rất lâu. Đặc điểm cơ bản của câu đối là từ đối lập và sự hài hòa về âm điệu. Để phát huy tinh hoa của dân tộc Trung Hoa, hiệp hội của chúng tôi đã tập hợp các chuyên gia từ hiệp hội để sắp xếp và chuẩn hóa các cuộc thảo luận về luật hiệp hội đã được rải rác trong nhiều tác phẩm kinh điển trong hơn một nghìn năm và hình thành nên "Nguyên tắc chung của Luật Hiệp hội (Thử nghiệm)". Trên cơ sở hơn một năm thực hành, ý kiến của tất cả các bên đã được tổng hợp để sửa đổi và "Các nguyên tắc chung của Lianli" (dự thảo sửa đổi) đã được hình thành. Hiện nó đã được xem xét và thông qua tại cuộc họp điều hành lần thứ 17 của kỳ họp thứ năm của Hiệp hội Câu đối Trung Quốc và được ban hành. Chương 1 Quy tắc cơ bản Câu đầu tiên là tương đương. Câu đối gồm có hai phần: câu đối trên và câu đối dưới. Số câu ở câu đối trên và câu dưới bằng nhau, số từ ở câu đối tương ứng cũng bằng nhau. Phần thứ hai của bài phát biểu tương ứng. Các từ ở cùng một vị trí trong cấu trúc cú pháp của câu đối trên và câu dưới đều có thuộc tính thành phần câu giống nhau hoặc tuân theo kiểu phản đề truyền thống. Cấu trúc thứ ba tương ứng. Cấu tạo của từ ở câu đối trên và câu dưới, sự phối hợp nghĩa của từ, cách sắp xếp trật tự từ, cách sử dụng từ chức năng và cách sử dụng biện pháp tu từ đều phù hợp với quy luật hay * thói quen, tương ứng với nhau và cân bằng lẫn nhau. Nhịp điệu thứ tư là khớp nhịp. Dòng chảy và nhịp điệu của câu đối trên và dưới đều nhất quán. Nhịp điệu có thể được xác định theo nhịp điệu “hai chữ một câu”. Điểm nhịp nằm ở vị trí chẵn của các từ dùng trong câu, một từ chiếm một câu. ; Nó cũng có thể dựa trên nhịp điệu ngữ nghĩa, tức là nó có những điểm tương đồng và khác biệt với nhịp điệu của âm nhạc. Nếu có những từ có ba ký tự trở lên không nên tách thì điểm nhịp nằm ở ký tự cuối cùng. Điều 5 Đối lập giữa bằng và xiên. Các câu xen kẽ xiên và xiên tùy theo nhịp điệu, các từ dùng ở câu đối trên và câu dưới tương ứng với các điểm nhịp thì đối lập nhau. Đối với hai câu đơn phương và nhiều câu đối, mỗi chân câu được nối theo thứ tự. Các thông số kỹ thuật phẳng và xiên thường yêu cầu hình thành sự thay thế bước chân, theo truyền thống được gọi là "đỉnh phẳng, đỉnh phẳng, đỉnh phẳng". Nếu vi phạm điều cấm kỵ tại Điều 10 Nguyên tắc chung (3) này, hoặc ảnh hưởng đến sự hài hòa giữa từ xiên và xiên trong câu thì sẽ được áp dụng khoan hồng. Câu đối đầu tiên được phát ra bằng âm phẳng, và câu đối thứ hai được phát ra bằng âm phẳng. Câu đối thứ sáu là câu đối nghịch. Hình thức tương phản, ý nghĩa tương quan. Nội dung thể hiện của câu đối trên và câu dưới thống nhất trong chủ đề. Chương 2 Đối ngữ truyền thống Điều 7 Đối với các kiểu ghép sở hữu cách đã hình thành trong lịch sử và còn được sử dụng cho đến ngày nay như chồng, ký tự nhúng, ký tự tiêu đề trong thư pháp, âm vay mượn, từ đồng âm, tính liên tục trong ngữ âm, cấu tạo lẫn nhau, mặt cắt, chuyển giao về hình thái, câu dang, câu ba chân, dòng nước chảy trong cú pháp v.v., chỉ cần phù hợp với các đối ngữ tu từ truyền thống thì có thể coi là cặp, phản ánh yêu cầu đối lập của phần lời nói và cấu trúc của các từ đối ứng, cũng như các yêu cầu về mức độ và độ xiên trong câu sẽ được khoan dung. Điều 8. Giọng điệu sử dụng phải tuân theo quy ước âm vị học tiếng Trung. Việc phán đoán giọng điệu, giọng điệu theo “hệ thống đường đôi” của giọng điệu cũ “Nhịp thơ” hay giọng điệu hiện đại của tiếng phổ thông hiện đại phổ biến trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, Điều 9 không thể trộn lẫn trong cùng một câu đối. Được phép sử dụng từ dẫn đầu, từ lót, giới từ, liên từ, tiểu từ, thán từ, từ tượng thanh, từ định lượng từ 3 âm tiết trở lên ở đầu và giữa câu, không tính nhịp điệu cùng với các từ được nối. Điều 10: Tránh những câu hỏi cấm kỵ. (1) Tránh đặt hai lòng bàn tay vào nhau. (2) Tránh sử dụng các ký tự bất quy tắc và nặng nề (3) Cố gắng tránh kết thúc câu bằng các ký tự xiên và xiên. ; Tránh kết thúc câu bằng ba kết thúc phẳng. Chương 3: Phạm vi rộng hơn của các cặp từ loại Điều 11: Phạm vi cho phép các phần khác nhau của lời nói có liên quan với nhau một cách đại khái bao gồm:: (1) Tính từ và động từ (đặc biệt là nội động từ) ; (2) Các từ đóng vai trò bổ nghĩa cho cụm từ khẳng định tập trung vào danh từ ; (3) Các từ đóng vai trò trạng từ theo cấu trúc cú pháp ; (4) Từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa, vị trí và số lượng, số và màu sắc, từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa, từ đồng nghĩa và liên từ, từ trái nghĩa và liên từ, trạng từ và liên từ và giới từ, liên từ, giới từ và hạt, và sự tương ứng giữa liên từ và liên từ, v.v. ; (5) Một số tên gọi của những sự vật tạo thành một dãy (hoặc dãy) và hai dãy (hoặc dãy) đó có quan hệ tương đối với nhau, chẳng hạn như dãy số tự nhiên, dãy thiên thân và dãy nhánh đất, dãy ngũ hành, mười hai cung hoàng đạo, dãy cấu trúc tạm thời hợp logic, logic khi viết ra sự vật. Điều 12: Các cặp thông minh, các cặp thú vị, các cặp mượn (hoặc mượn âm thanh, ý nghĩa), các câu trích, và tập hợp các câu không được phép bị hạn chế nghiêm ngặt bởi các cặp điển hình. Chương 4 Quy định bổ sung Điều 13 Quy định chung này là cơ sở pháp lý cho việc lập, rà soát và đánh giá các câu đối. Giải thích bởi Hiệp hội Câu đối Trung Quốc. Điều 14 Quy tắc chung này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 2008. "Những nguyên tắc chung của Lianli (Xét xử)" ban hành ngày 1 tháng 6 năm 2007 sẽ bị bãi bỏ cùng lúc.