Thread Content
Bài viết này cuối cùng được chỉnh sửa bởi vrain vào ngày 12-12-2016 lúc 10:15. Theo thông báo của Tổng cục Giám sát chất lượng, kiểm tra và kiểm dịch: “Đường ống áp lực là những thiết bị dạng ống được sử dụng để vận chuyển khí hoặc chất lỏng, dưới tác động của một áp suất nhất định. Phạm vi áp dụng bao gồm các đường ống có áp suất làm việc tối đa lớn hơn hoặc bằng 0,1 MPa (áp suất biểu kiến); chất lỏng hoặc khí được vận chuyển có thể là khí, khí hóa lỏng, hơi nước, hoặc các chất dễ cháy, nổ, độc hại, có tính ăn mòn; nhiệt độ làm việc tối đa lớn hơn hoặc bằng điểm sôi tiêu chuẩn; đồng thời đường kính danh nghĩa của chúng phải lớn hơn hoặc bằng 50 mm.” Loại trừ các đường ống và thiết bị dùng để vận chuyển các loại khí không độc, không cháy, không gây ăn mòn, có đường kính danh nghĩa nhỏ hơn 150mm, và áp suất làm việc tối đa của chúng nhỏ hơn 1,6 MPa (áp suất biểu kiến). 。 Áp suất hiện tại lớn hơn ở các đường ống nước tuần hoàn có kích thước DN150, với mức áp suất là 4 barg. Mọi người nghĩ sao nhỉ. 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 。 Trả lời: Có lẽ không phải vậy. Cảm ơn mọi người đã thảo luận. Trước hết, đối với các ống dẫn có áp suất lớn hơn 150, chúng phải là những ống dẫn chứa khí không độc, không cháy và không gây ăn mòn; do đó chúng không thuộc diện được chấp nhận. Cảm ơn mọi người đã tham gia thảo luận
Theo các tiêu chuẩn bạn liệt kê, những loại có kích thước DN150 đều lớn hơn 150mm, nên không nằm trong phạm vi này
Đường ống nước tuần hoàn hoàn toàn không thuộc loại đường ống chịu áp lực.
Không thuộc. Định nghĩa trên cần được xem xét dựa vào các tính từ mô tả và cách phân chia câu. Cụ thể như sau: 1) Áp suất làm việc tối đa lớn hơn hoặc bằng 0,1 MPa (áp suất biểu kiến). Các đường ống dùng để vận chuyển khí, khí hóa lỏng, hơi nước; đường ống có đường kính danh nghĩa lớn hơn hoặc bằng 50 mm được coi là đường ống chịu áp lực (trừ những đường ống có đường kính danh nghĩa nhỏ hơn 150 mm, và áp suất làm việc tối đa của chúng nhỏ hơn 1,6 MPa (áp suất biểu kiến); những đường ống này dùng để vận chuyển khí không độc, không dễ cháy, không gây ăn mòn) ; 2) Áp suất làm việc tối đa lớn hơn hoặc bằng 0,1 MPa (áp suất biểu kiến); chất lỏng được vận chuyển là chất dễ cháy, nổ, độc hại, có tính ăn mòn; nhiệt độ làm việc tối đa lớn hơn hoặc bằng điểm sôi tiêu chuẩn; đường ống có đường kính danh nghĩa lớn hơn hoặc bằng 50 mm thì được coi là đường ống chịu áp lực (trừ các đường ống thuộc về chính thiết bị ra) ; Như vậy, các đường ống dẫn nước tuần hoàn bị loại trừ khỏi danh sách này là do chất lỏng được vận chuyển qua chúng không phải là chất dễ cháy, dễ nổ, độc hại hay gây ăn mòn; ngoài ra, nhiệt độ hoạt động tối đa của chúng cũng không vượt quá điểm sôi tiêu chuẩn của chất lỏng đó (nhiệt độ nước tuần hoàn khi trở về thường không vượt quá 42°C, còn nhiệt độ thiết kế thì khoảng 60°C). Vì vậy, dù áp suất trong đường ống nước tuần hoàn cao đến đâu, kích thước ống lớn đến đâu, chúng cũng không thể được xếp vào loại đường ống chịu áp. Bài toán đã được chứng minh.
Không phải là đường ống chịu áp lực; đối với các chất không độc, không cháy, không gây ăn mòn với kích thước DN > 150, chỉ khi đó là khí thì mới được coi là đường ống chịu áp lực. Nước tuần hoàn thì dù sao cũng không thể coi là đường ống chịu áp lực.
Không tính. Chất lỏng trong đường ống chịu áp lực bị hạn chế. Trừ những đường ống và thiết bị dùng để vận chuyển các loại khí không độc, không dễ cháy và không gây ăn mòn, có đường kính danh nghĩa nhỏ hơn 150mm, và áp suất làm việc tối đa của chúng nhỏ hơn 1,6 MPa (áp suất biểu kiến). )là trường hợp đặc biệt được đề xuất dành cho môi trường khí
Nhiệt độ làm việc tối đa của nước tuần hoàn thấp hơn điểm sôi của nước, nên không được coi là đường ống chịu áp lực