Thread Content
Trong ngành hàn, những chuyên gia hàng đầu – các viện sĩ – chính là những người được tất cả những người làm việc trong lĩnh vực hàn ngưỡng mộ. Họ đã có những đóng góp xuất sắc cho ngành hàn ở Trung Quốc. Bài viết này sẽ tổng hợp lại những thành tựu nổi bật của bốn viện sĩ trong lĩnh vực hàn, nhằm giúp các chuyên gia trong ngành hiểu rõ hơn về họ. Pàn Tế Luân (viện sĩ) – Những thành tựu học thuật nổi bật: Ông đã tham gia vào việc thành lập những chuyên ngành hàn đầu tiên tại các trường đại học trong nước. Vào cuối những năm 1950, ông đã thành công trong việc phát triển kỹ thuật hàn bằng điện cực và kỹ thuật phủ lớp kim loại lên các khuôn dùng để đúc vật liệu nặng; những kỹ thuật này sau đó được ứng dụng trong sản xuất. Đầu những năm 1960, kỹ thuật hàn bằng tia argon đã được áp dụng thành công trong việc chế tạo lò phản ứng hạt nhân, qua đó hoàn thành công trình hàn lò phản ứng hạt nhân đầu tiên do Trung Quốc tự sản xuất. Tiếp theo, họ đã nghiên cứu thành công chiếc máy hàn bằng chùm tia điện đầu tiên của nước ta, đồng thời tiến hành nghiên cứu sâu về cơ chế phát sinh các vết nứt do quá trình hàn. Vào cuối những năm 1970, người ta bắt đầu nghiên cứu về cảm biến dạng hồ quang. Lần đầu tiên, các mô hình toán học mô tả chế độ hoạt động và trạng thái tĩnh của cảm biến dạng hồ quang được xây dựng. Đồng thời, những chiếc cảm biến dạng hồ quang có tính năng ưu việt cùng các hệ thống theo dõi tự động cũng được phát triển thành công. Vào những năm 80, phương pháp kiểm soát hồ quang hàn “QH-ARC” đã được phát triển thành công. Đây là lần đầu tiên người ta đề xuất việc sử dụng các đặc tính điện áp đa đường cong của nguồn điện, cũng như các đặc tính điện áp tăng đột ngột và đặc tính quét để kiểm soát hồ quang hàn. Phương pháp này đã mở ra con đường mới cho việc kiểm soát hồ quang hàn và tự động hóa quy trình hàn. Từ năm 1987 đến năm 1991, tôi đã đảm nhận vai trò cố vấn về lĩnh vực hàn trong quá trình xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của nước ta – nhà máy điện hạt nhân Qinshan. Tôi đã có những đóng góp quan trọng cho dự án này. Năm 2003, robot hàn kiểu bò đã được phát triển thành công, thuộc mức độ tiên tiến nhất thế giới. Kết quả nghiên cứu “Phương pháp QH—ARC” đã giành được **Giải nhất về sáng chế và phát minh (năm 1984)** ; ““Hệ thống theo dõi tự động bằng laser hai chiều dùng cho việc hàn” đã giành giải Nhì về thành tựu khoa học kỹ thuật tại thành phố Bắc Kinh (năm 1984) ; ““Máy hàn bằng chùm tia điện ZD-30” đã được Ủy ban Khoa học, Ủy ban Kinh tế, Ủy ban Kế hoạch và các cơ quan liên quan cùng trao giải Nhì về việc sáng tạo sản phẩm mới (năm 1965). Ngoài ra, ông còn được trao Giải thưởng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ Ho Leung Ho Lee (năm 2000), Giải thưởng cao quý nhất trong lĩnh vực hàn tại Trung Quốc (năm 2001), Giải nhất cho cuốn sách khoa học kỹ thuật xuất sắc nhất toàn quốc lần thứ 10 (năm 2001), cùng các giải nhì và ba về thành tựu giảng dạy (năm 2001). Các tác phẩm tiêu biểu gồm: “Kiểm soát quá trình hàn bằng dây điện”, “Kiểm soát hàn bằng dây điện trong thời đại hiện đại”, “Nứt nhiệt trong quá trình hàn”, “Sổ tay hàn” và các tác phẩm khác. Đã công bố hơn 100 bài báo khoa học, chủ yếu là “Kiểm soát tự động trong quá trình hàn GMA” và các bài khác. Đã nhận hơn **10 bằng sáng chế, trong đó có một bằng sáng chế tại Hoa Kỳ. Giáo sư Quan Qiao là người có công lớn trong việc xây dựng lý thuyết về “khả năng hàn ở áp lực thấp mà không gây biến dạng”. Ông chính là người phát minh ra công nghệ mới này. Về mặt lý thuyết, người ta đã làm rõ và chứng minh được các điều kiện cần thiết và đủ để kiểm soát biến dạng do ứng suất trong quá trình hàn. Điều này đã phá vỡ quan niệm truyền thống rằng biến dạng trong quá trình hàn là điều không thể tránh khỏi, từ đó giải quyết được một vấn đề nan giải trong lĩnh vực công nghệ hàn và kỹ thuật chế tạo. Sử dụng lý thuyết này để hướng dẫn nghiên cứu về ứng suất trong phương pháp hàn các chi tiết tấm mỏng mà không gây biến dạng, đã giúp nhận được **bằng sáng chế**. Công nghệ này được ứng dụng trong việc chế tạo các động cơ phản lực dùng cho máy bay, cũng như trong quá trình sản xuất tên lửa vũ trụ. Nó giúp loại bỏ những nguy cơ liên quan đến chất lượng sản phẩm, giải quyết những vấn đề kỹ thuật khó khăn trong quá trình phát triển các mẫu sản phẩm mới. Hiệu quả của công nghệ này rất rõ rệt và tính ứng dụng thực tế cũng rất cao ; Đã từng nhận Giải thưởng Tiến bộ Khoa học Công nghệ trong lĩnh vực hàng không hạng nhất và Giải thưởng Tiến bộ Khoa học Công nghệ trong lĩnh vực vũ trụ hạng nhất. Xét rằng thành tựu này là một bước đột phá quan trọng trong lĩnh vực kiểm soát biến dạng của các cấu trúc hàn, nó có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính tin cậy và độ bền của các cấu trúc hàn có thành mỏng trong ngành hàng không vũ trụ. Đồng thời, thành tựu này cũng góp phần quan trọng vào sự phát triển của ngành cơ học hàn. Vì những lý do này, thành tựu này đã được trao giải **Giải thưởng Sáng chế hạng hai vào năm 1995. Trong những năm gần đây, ông lại tiếp tục ứng dụng hệ thống “nguồn nhiệt – bộ hấp thụ nhiệt”, từ đó tạo ra phương pháp kiểm soát biến dạng do nhiệt trong quá trình hàn một cách linh hoạt. Điều này giúp cho công nghệ hàn ít gây ra áp lực và không gây biến dạng, từ đó nâng cao tính linh hoạt trong quy trình sản xuất các thiết bị hàng không mới ; Một lần nữa giành được **bằng sáng chế công nghệ. Có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực cơ học hàn và nghiên cứu về tính toàn vẹn của kết cấu hàn. Để khắc phục những hạn chế của giả định về mặt cắt phẳng trong lý thuyết cơ học hàn truyền thống, người ta đã đưa ra khái niệm “mức độ kìm hãm nội bộ”. Các mô hình toán học vật lý cho việc kiểm soát tĩnh điện trường ở nhiệt độ được xác định trước, cũng như kiểm soát động thông qua hệ thống nhiều nguồn, đã được xây dựng. Điều này mở ra những hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực cơ học hàn và phân tích định lượng các tổn thương do ứng suất nhiệt ở các mối nối. Ông khăng định rằng các mô phỏng số cần được kiểm chứng thông qua thí nghiệm. Ông đã phát triển “kỹ thuật kiểm tra các biến dạng nhiệt tức thời trong quá trình hàn” trong những điều kiện đặc biệt như nhiệt độ cao tại vùng hàn, gradient nhiệt lớn, và gradient biến dạng lớn; kỹ thuật này được sử dụng để kiểm chứng tính chính xác của các phần mềm được phát triển ; Thành quả nghiên cứu đầy thách thức này đã đưa lĩnh vực nghiên cứu về cơ học hàn của nước ta lên tầm cao mới, ngang bằng với các tiêu chuẩn quốc tế trong lĩnh vực này. Nhờ đó, nhóm nghiên cứu đã giành được giải Nhì trong Giải thưởng Tiến bộ Khoa học Công nghệ trong lĩnh vực hàng không. Ông đã nhiều lần trình bày các bài nghiên cứu tại hội nghị thường niên của Hiệp hội Hàn quốc tế (IIW), thu hút sự chú ý của các đồng nghiệp. Các công trình nghiên cứu của ông cũng được đề xuất để được đăng trên tạp chí uy tín của IIW là “Welding in the World”. Là người dẫn đầu trong lĩnh vực kỹ thuật hàn hàng không của đất nước. Trong hơn 30 năm qua, ông đã đứng đầu và hướng dẫn việc nghiên cứu, phát triển cũng như ứng dụng các công nghệ hàn đặc biệt mà ngành công nghiệp hàng không rất cần, tại các môi trường nghiên cứu khoa học và sản xuất thực tế ; Như ; Hàn mở rộng, quy trình kết hợp SPF/DB, quy trình hàn TIG xung và hàn MIG trong môi trường treo, quy trình ủi vết hàn và biến dạng sơ bộ, hàn điện cực trong chân không và hàn hồ quang, hàn ma sát khuấy trộn, v.v ; Đã mở ra hướng phát triển quan trọng cho công nghệ hàn đặc biệt trong ngành hàng không của đất nước chúng ta, đồng thời tạo ra cơ sở kỹ thuật tiên tiến để phục vụ việc chế tạo các loại máy bay mới và cải tạo công nghệ tại các nhà máy. Vào cuối những năm 1980, dựa trên phân tích về xu hướng phát triển đa ngành trong lĩnh vực chế tạo vật liệu trên phạm vi quốc tế, người ta đã đề xuất thành lập một “phòng thí nghiệm nghiên cứu chuyên sâu về công nghệ xử lý bằng chùm tia năng lượng cao”. Tôi cũng tham gia vào việc thành lập phòng thí nghiệm này, đồng thời giữ chức chủ tịch ủy ban học thuật. Tôi chịu trách nhiệm hướng dẫn các nghiên cứu về cơ sở khoa học và ứng dụng của các kỹ thuật sử dụng chùm tia điện tử, laser và plasma trong lĩnh vực chế tạo và tạo ra các vật liệu tiên tiến. Năm 1998, dưới sự vận động của ông, phòng thí nghiệm nghiên cứu chuyên sâu về “Công nghệ kết nối hàng không” lại được thành lập, và ông giữ chức chủ tịch ủy ban học thuật của phòng thí nghiệm này. Ông chú trọng đến việc đào tạo nhân tài, đã dẫn dắt được một đội ngũ nghiên cứu chuyên nghiệp trẻ trung và có trình độ cao. Nhiều nghiên cứu sinh và cán bộ trẻ do ông đào tạo hiện đang đảm nhận những trách nhiệm quan trọng. Để vinh danh những đóng góp của ông, ông đã được trao nhiều giải thưởng như Giải thưởng Hội nghị Khoa học Quốc gia, danh hiệu Chuyên gia có đóng góp xuất sắc, Giải vàng trong lĩnh vực hàng không, Giải vàng trong lĩnh vực công nghệ Guanghua, cùng Giải Khoa học Công nghệ của Quỹ Ho Leung Ho Lee. Từ Bân Sĩ (viện sĩ), chuyên gia về hàn. Chuyên gia về kỹ thuật sửa chữa, kỹ thuật bề mặt và kỹ thuật tái chế; một trong những người tiên phong và có công lớn trong việc phát triển ngành kỹ thuật bề mặt và kỹ thuật tái chế tại Trung Quốc. Thành tựu chính: (1) Đã phát triển một cách hệ thống các thiết bị phun điện, dung dịch phủ và quy trình phủ. Đã giải quyết nhiều công nghệ then chốt cấp bách trong các dự án trọng điểm, như việc sửa chữa một phần các thiết bị cỡ lớn như tàu hàng trọng tải hàng vạn tấn, xe tăng, v.v., mà không cần tháo rời chúng; qua đó vượt qua được những thách thức kỹ thuật lớn trong việc sửa chữa các thiết bị cỡ lớn ngay tại hiện trường. Công nghệ phủ điện cực liên tục được xếp vào **các dự án công nghệ mới cần được quảng bá mạnh mẽ trong ba kế hoạch 5 năm liên tiếp. Trong những năm gần đây, ông lại tiếp tục phát triển thành công công nghệ phủ điện bằng hạt nano. Lớp phủ nano được tạo ra nhờ công nghệ này có khả năng nâng cao đáng kể khả năng chống mài mòn ở nhiệt độ cao và khả năng chống mệt mỏi do ma sát của vật liệu. Ông đã nhận được **2 bằng sáng chế**, và công nghệ này đã được ứng dụng rộng rãi tại 16 đơn vị sửa chữa thiết bị quan trọng thuộc quân đội. Công nghệ này đã giúp giải quyết những vấn đề liên quan đến việc tái chế các linh kiện quan trọng trên các loại xe tải nặng, tàu thuyền, động cơ máy bay. (2) Lần đầu tiên tại trong nước, công nghệ phun plasma đã được sử dụng để giải quyết vấn đề nan giải liên quan đến việc không thể sửa chữa các bộ phận có thành mỏng của các loại xe tải nặng như xe tăng. Máy phun plasma dùng để sửa chữa các bộ phận của xe tăng đã được phát triển, đồng thời năm quy trình sửa chữa phù hợp với các điều kiện hoạt động khác nhau cũng được xây dựng. Nhờ đó, vấn đề không thể sửa chữa 52 loại bộ phận có thành mỏng của xe tăng đã được giải quyết. Từ năm 1981, phương pháp này được áp dụng rộng rãi trong toàn quân đội; mức lợi ích kinh tế hàng năm đạt 3,66 triệu nhân dân tệ. Vào cuối những năm 1990, dựa trên công nghệ phun plasma truyền thống, người ta đã nghiên cứu và phát triển công nghệ phun plasma siêu âm hiệu quả cao. Hiệu suất tổng thể của công nghệ này vượt trội hơn so với các sản phẩm tương tự của Mỹ. Lớp phủ nano được tạo ra bằng công nghệ này có thể được sử dụng để sửa chữa các lá máy của động cơ máy bay hiệu suất cao. (3) Đã phát minh ra vật liệu mới dùng để chế tạo bánh xích xe tăng, đó là ZGMn8CrMo. Dựa trên phát minh về hợp kim chống mài mòn và chống mệt mỏi do chính ông tạo ra, sau nhiều năm nghiên cứu, ông đã thành công trong việc phát triển loại vật liệu mới dùng để chế tạo bánh xích xe tăng – ZGMn8CrMo. Nhờ đó, tuổi thọ của vật liệu được sử dụng trong các xe tăng sản xuất trong nước đã tăng từ 3725 km lên hơn 10.000 km; con số này cao gấp hơn 3 lần so với vật liệu Mn13 trước đây. (4) Lần đầu tiên tại Việt Nam, công nghệ phun hồ quang được ứng dụng trong nghiên cứu về việc bảo vệ bề mặt các cấu trúc bằng thép của các tàu thủy lớn. Đã phát triển công nghệ phun hồ quang tốc độ cao mới, đồng thời tạo ra các hợp kim và dây có lõi bột dùng để chống ăn mòn và chịu mài mòn, phù hợp sử dụng trên tàu thuyền, nhà máy điện và nhiều ứng dụng khác. Giúp nâng cao đáng kể tuổi thọ sử dụng của các thiết bị chiến đấu chính như thân tàu, xe tăng cạn và thủy. (5) Đề xướng và thúc đẩy việc thành lập các ngành học mới về kỹ thuật bề mặt và kỹ thuật tái chế tại Trung Quốc. Vào những năm 1980, Trung Quốc là quốc gia đầu tiên đề xướng và tích cực thúc đẩy việc xây dựng ngành kỹ thuật bề mặt. Quốc gia này đã thành lập phòng nghiên cứu về kỹ thuật bề mặt đầu tiên tại Trung Quốc, cùng với trung tâm nghiên cứu về kỹ thuật bề mặt dành cho việc sửa chữa thiết bị quân sự, và các phòng thí nghiệm nghiên cứu về kỹ thuật bề mặt trong quân đội ; Trong những năm gần đây, khái niệm kỹ thuật bề mặt nano đã được đưa ra. Các công nghệ như phủ điện trên bề mặt nano, kỹ thuật phun plasma siêu âm ở cấp độ nano, cũng như các chất phụ gia giúp giảm ma sát và tự sửa chữa bề mặt ở cấp độ vi/nano đã được nghiên cứu sâu rộng. Những công nghệ này được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực xã hội và quốc phòng, mang lại những lợi ích kinh tế và xã hội đáng kể. Vào tháng 10 năm 2004, Liên đoàn Quốc tế về Xử lý Nhiệt và Kỹ thuật Bề mặt đã trao cho ông giải thưởng về thành tựu học thuật cao nhất, nhằm ghi nhận những đóng góp xuất sắc của ông cho sự phát triển của lĩnh vực kỹ thuật bề mặt. Trên cơ sở tăng cường các công việc bảo trì và xây dựng các công trình bề mặt, ông đã là người đầu tiên ở trong nước đề xướng và xây dựng ngành kỹ thuật tái chế; đồng thời thành lập Phòng thí nghiệm khoa học công nghệ quốc phòng chuyên về công nghệ tái chế thiết bị. Công nghệ tái chế đã nhận được sự quan tâm từ phía chính phủ Trung Quốc và các cơ quan liên quan. Vào năm 2005, Bộ Chính trị đã ban hành các văn bản số 21 và 22, trong đó coi công nghệ tái chế là một trong những công nghệ then chốt. Năm 2006, “Báo cáo nghiên cứu chiến lược về kế hoạch phát triển khoa học và công nghệ trung và dài hạn” đã xem “các công nghệ chế tạo then chốt và công nghệ tái chế” là một trong 24 chủ đề ưu tiên trong việc phát triển công nghệ chế tạo. Điều này đã tạo ra cơ sở quyết định quan trọng cho sự phát triển lâu dài của công nghệ tái chế tại Trung Quốc. Các tác phẩm chính bao gồm: “Bộ sách Kỹ thuật vật liệu Trung Quốc (Tập 16, 17): Kỹ thuật bề mặt vật liệu (Phần trên, Phần dưới)”, “Lý thuyết và kỹ thuật trong lĩnh vực tái chế thiết bị”, “Kinh tế tuần hoàn và tái chế”, “Lý thuyết và kỹ thuật trong kỹ thuật bề mặt”, “Kỹ thuật bề mặt và việc sửa chữa”, “Kỹ thuật bề mặt ở cấp độ nano”, “Những kiến thức cơ bản về kỹ thuật tái chế và ứng dụng của nó”, “Tái chế và kinh tế tuần hoàn” – tổng cộng 19 cuốn sách chuyên khảo ; Đã công bố hơn 1000 bài báo khoa học, trong đó có hơn 400 bài được lưu trữ trong ba cơ sở dữ liệu tìm kiếm quan trọng ; Cấp phép và tiếp nhận hơn **50 sáng chế công nghệ. Lâm Thượng Dương (Viện sĩ) Lâm Thượng Dương, Viện sĩ, chủ yếu nghiên cứu về công nghệ hàn, vật liệu hàn, kỹ thuật hàn dưới nước cũng như việc máy móc hóa và tự động hóa quy trình hàn. Thành tựu nổi bật: Vào những năm 1970, các nhà nghiên cứu đã giải quyết được những khó khăn kỹ thuật liên quan đến việc sử dụng que hàn chứa nhiều nhôm. Họ cũng thành công trong việc xác định mối quan hệ giữa ba thành phần chính là Al, Mn và Si. Lần đầu tiên tại Việt Nam, người ta đã chế tạo thành công que hàn dùng để hàn thép loại austenit ở nhiệt độ thấp, thuộc nhóm Fe-Mn-Al. Kim loại tại vùng hàn này có khả năng chịu lực va đập ở nhiệt độ -196 và -253 độ C, với giá trị đạt 80J. Đồng thời, người ta cũng đã nghiên cứu thành công loại que hàn 507CrNiCu dùng để chế tạo thép chống ăn mòn trong môi trường nước biển, nhằm sử dụng trong việc hàn các đường ống dưới nước và bến tàu. Kể từ giữa những năm 1970, nhằm đáp ứng nhu cầu khai thác biển của Trung Quốc, ông đã chủ trì các nghiên cứu về công nghệ hàn dưới nước. Ông đã phát minh ra phương pháp hàn bán tự động có sử dụng khí carbon dioxide để bảo vệ vùng được hàn dưới nước. Phương pháp này đã giúp giải quyết ba vấn đề kỹ thuật quan trọng: tầm nhìn kém dưới nước, hàm lượng hydro cao trong mối hàn, và độ bền cũng như tính dẻo kém của vật liệu được hàn. Nhờ đó, công nghệ hàn dưới nước của Trung Quốc đã tiến bộ 20 năm, và đạt được mức độ tiên tiến trên trường quốc tế. Trong 20 năm qua, tôi đã tham gia hơn mười dự án hàn dưới nước quan trọng, bao gồm các giàn khoan dầu trên biển kiểu cố định và kiểu tự nâng, các bến cảng cũng như tàu đánh cá, v.v. Những thành tựu này đã giúp tôi nhận được Giải thưởng Tiến bộ Khoa học Kỹ thuật cấp nhất từ Bộ Cơ khí, cùng Giải thưởng Sáng chế cấp ba. Trong quá trình nghiên cứu kỹ thuật hàn khô dưới nước ở độ sâu 200m, tôi đã phát minh ra loại máy hàn có cấu trúc luồng khí bảo vệ hai lớp mới; phát minh này đã được Cục Sáng chế Trung Quốc cấp bằng sáng chế. Loại máy hàn này chỉ cần sử dụng 30% khí argon và 70% khí carbon dioxide (không trộn lẫn) là có thể tạo ra dòng khí đẩy ổn định. Vào những năm 1980, phương pháp hàn điện tử với hai sợi dây và khe hở hẹp đã được phát minh. Phương pháp này đã giúp giải quyết được vấn đề về hiệu suất và chất lượng khi hàn các cấu trúc bằng thép có độ dày lớn, đồng thời cũng giúp tự động hóa quá trình hàn. Thiết bị này có thiết kế sáng tạo, cách bố trí dây hàn rất độc đáo; hệ thống điều khiển được tích hợp bằng máy tính, giúp toàn bộ quy trình hàn được tự động hóa. Phương pháp hàn dưới vòng cung với khe hẹp giữa hai sợi dây hàn không chỉ giúp nâng cao chất lượng hàn các tấm thép dày, tiết kiệm đáng kể nguyên vật liệu và năng lượng tiêu thụ, mà còn cải thiện các tính chất cơ học của mối hàn, đặc biệt là ở vùng bị quá nhiệt. Trong hơn 10 năm qua, bộ thiết bị do phát minh này tạo ra đã được ứng dụng tại 15 nhà máy hàng đầu trong các lĩnh vực như lò hơi, máy móc nặng, máy móc hóa chất, van công nghiệp, v.v. Những thiết bị được chế tạo bằng phương pháp hàn này bao gồm các bình chứa hơi trong các nhà máy điện có công suất 300 và 600 MW, xi lanh chính của các máy ép thủy lực cỡ lớn, các van công nghiệp lớn, cũng như các bình chứa dùng trong quá trình phản ứng hóa học. Độ dày tối đa của các mối hàn là 260 mm. Trong nhiều năm qua, tỷ lệ các mối hàn đạt tiêu chuẩn sau khi kiểm tra lần đầu luôn trên 98%, mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn. Thành quả này từng giành Giải nhất về tiến bộ khoa học kỹ thuật của Bộ Cơ khí, **Giải ba về sáng chế phát minh và Giải thưởng dự án sáng chế xuất sắc toàn quốc. Trong cùng kỳ, ông còn chủ trì việc nghiên cứu và phát triển máy hàn tự động kiểu cửa sổ hai đầu, có khả năng theo dõi hai chiều. Máy này được sử dụng để hàn các bộ phận như dầm chính của các thiết bị nâng trong dự án giai đoạn hai của công ty Baosteel, cũng như các thanh kim loại dùng trong các tháp phóng tên lửa. Nhờ những thành tựu này, ông đã được trao giải Nhì về tiến bộ khoa học kỹ thuật do Bộ Cơ khí trao tặng. Đã chủ trì việc nghiên cứu và phát triển dòng máy hàn tự động dành cho xe máy loại 80 tại nhà máy; tổng cộng có 14 chiếc máy hàn chuyên dụng. Cho đến nay, những chiếc máy này đã được sử dụng để hàn các bộ phận như thân xe, phuộc trước/sau, ống xả, v.v. của hơn 1 triệu chiếc xe máy. Thành tựu này từng giành Giải nhất về tiến bộ khoa học kỹ thuật của Bộ Cơ khí và **Giải nhì về tiến bộ khoa học kỹ thuật. Vào những năm 1990, phòng nghiên cứu ứng dụng robot hàn đã được thành lập. Tại đây, người ta đã chế tạo thành công bộ thiết bị robot hàn dùng để gia công khung xe ủi đất – bộ thiết bị lớn và phức tạp nhất cả nước vào thời điểm đó. Công trình này đã giành được Giải thưởng Nhất về tiến bộ khoa học kỹ thuật từ Bộ Cơ khí, cũng như Giải thưởng Ba về tiến bộ khoa học kỹ thuật. Dựa trên nhiều năm nghiên cứu khoa học, kể từ năm 1992, ông đã tích cực vận động và thúc đẩy việc áp dụng công nghệ tự động hóa với chi phí thấp trong quy trình hàn tại Trung Quốc, điều này đã nhận được sự phản ứng tích cực từ giới chuyên gia hàn ở nước này. Đã nhiều lần chủ trì các cuộc khảo sát về tình hình cơ giới hóa, tự động hóa trong ngành sản xuất hàn trên toàn quốc cũng như việc ứng dụng robot hàn. Các bài báo và dữ liệu mà ông công bố đã nhận được sự quan tâm rộng rãi từ các chuyên gia trong và ngoài nước.