Thread Content
Luật Phòng cháy chữa cháy của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định rằng công tác phòng cháy chữa cháy cần tuân theo nguyên tắc “ưu tiên phòng ngừa, kết hợp giữa việc phòng ngừa và việc ứng phó với các sự cố cháy nổ”. Công tác này được thực hiện dựa trên các nguyên tắc như: sự lãnh đạo thống nhất, sự giám sát của các cơ quan chức năng theo đúng pháp luật, trách nhiệm toàn diện của các đơn vị, và sự tham gia tích cực của người dân. Đồng thời, cần xây dựng một hệ thống phòng cháy chữa cháy toàn diện trong xã hội. Trong những năm gần đây, các cơ quan cảnh sát phòng cháy chữa cháy đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm nâng cao khả năng tự kiểm tra và tự sửa chữa của các đơn vị có nguy cơ cao về an toàn phòng cháy. Nhờ đó, các mối nguy tiềm ẩn liên quan đến an toàn phòng cháy được ngăn chặn ngay từ giai đoạn đầu. Hôm nay, chúng tôi xin liệt kê một số kiến thức cơ bản về an toàn phòng cháy mà nhân viên của các đơn vị quan trọng cần phải nắm vững, để mọi người có thể học hỏi và áp dụng. Nội dung của việc xây dựng “bốn năng lực” trong lĩnh vực an toàn phòng cháy là gì? “Kiểm tra khả năng loại bỏ các nguy cơ gây cháy, khả năng tổ chức dập tắt các vụ cháy ở giai đoạn đầu, khả năng tổ chức sơ tán mọi người khỏi khu vực nguy hiểm, cũng như khả năng tuyên truyền và đào tạo về phòng cháy chữa cháy. Mỗi nhân viên cần phải đạt được tiêu chí “ba hiểu và ba biết”. Vậy nội dung của “ba hiểu và ba biết” là gì? “Biết những kiến thức cơ bản về phòng cháy chữa cháy, biết cách sử dụng các thiết bị phòng cháy chữa cháy, biết kỹ năng tự sơ cứu và thoát hiểm ; Biết cách kiểm tra và khắc phục các nguy cơ cháy nổ, biết cách dập tắt đám cháy ở giai đoạn đầu, biết cách tổ chức việc sơ tán mọi người. Vậy thứ nhất, thứ hai trong các lực lượng ứng phó khẩn cấp để dập lửa và hướng dẫn sơ tán là gì? Khi xảy ra hỏa hoạn, nhân viên có mặt tại hiện trường chính là lực lượng ứng phó khẩn cấp đầu tiên, và họ cần phải tổ chức dập tắt đám cháy ngay trong vòng 1 phút ; Sau khi xác nhận có hỏa hoạn, đơn vị sẽ áp dụng kế hoạch ứng phó với hỏa hoạn và sơ tán khẩn cấp của mình để tổ chức lực lượng ứng phó với hỏa hoạn. Đây được coi là lực lượng ứng phó thứ hai; lực lượng này cần phải bắt đầu công tác dập lửa trong vòng 3 phút kể từ khi xảy ra hỏa hoạn ; Khi xảy ra hỏa hoạn, những nhân viên chịu trách nhiệm hướng dẫn mọi người rời khỏi tòa nhà thông qua các lối thoát hiểm và lối ra an toàn ở các tầng khác nhau được gọi là nhân viên hướng dẫn sơ tán. 4 Lực lượng ứng phó khẩn cấp dập lửa nên xử lý đám cháy ban đầu như thế nào? 1) Những nhân viên đang ở gần nút báo cháy hoặc điện thoại, hãy ngay lập tức nhấn nút đó hoặc gọi điện để báo cho trung tâm kiểm soát cháy nổ hoặc nhân viên trực ca ; 2) Nhân viên làm việc gần các thiết bị chữa cháy cần sử dụng các thiết bị như vòi chữa cháy, bình chữa cháy tại chỗ để dập lửa ; 3) Nhân viên tại hiện trường nhanh chóng hướng dẫn mọi người sơ tán. 5 Lực lượng ứng phó khẩn cấp dập lửa thứ hai nên tổ chức hoạt động dập lửa như thế nào? 1) Khi phòng kiểm soát chữa cháy hoặc nhân viên trực ca kích hoạt kế hoạch chữa cháy và sơ tán khẩn cấp, họ cũng phải báo cáo cho người quản lý của đơn vị ; 2) Người phụ trách đơn vị nhanh chóng ra lệnh chỉ huy, triệu tập các nhóm thực hiện nhiệm vụ để tiến hành dập lửa và sơ tán người dân theo đúng quy trình ; 3) Nhóm liên lạc phải nhanh chóng thông báo cho các nhân viên biết về tình hình hỏa hoạn, đồng thời duy trì liên lạc với lực lượng cứu hỏa. Họ cũng cần báo cáo tình hình hỏa hoạn cho người chỉ huy hiện trường, và truyền đạt các mệnh lệnh của người chỉ huy đến các nhân viên có liên quan ; 4) Nhóm ứng phó cháy sẽ sử dụng các thiết bị và công cụ chữa cháy có sẵn trong đơn vị mình để dập tắt đám cháy, tùy theo tình hình của vụ cháy ; 5) Nhóm hướng dẫn sơ tán sẽ phân công nhiệm vụ để tổ chức việc sơ tán mọi người tại hiện trường ; 6) Nhóm cứu hộ an toàn hỗ trợ việc cứu chữa và đưa những người bị thương đi nơi an toàn ; 7) Nhóm bảo vệ tại hiện trường ngăn không cho những người không liên quan vào khu vực xảy ra hỏa hoạn, đồng thời duy trì trật tự tại hiện trường. 6 Yêu cầu đối với nhân viên hướng dẫn sơ tán và cách hướng dẫn mọi người sơ tán? Các đơn vị cần chỉ định những người phụ trách hướng dẫn việc sơ tán tại mỗi tầng, các lối thoát hiểm và lối ra an toàn (những người này cần đeo băng tay phát sáng hoặc áo chống đạn, và cầm theo đèn phát sáng trong trường hợp khẩn cấp). Những người này có nhiệm vụ hướng dẫn mọi người rời khỏi khu vực đó một cách an toàn. Khi xảy ra hỏa hoạn, nhân viên hướng dẫn sơ tán cần sử dụng các phương thức như hô to, phát thông báo qua loa để thông báo và hướng dẫn mọi người tại hiện trường thoát khỏi nơi xảy ra hỏa hoạn một cách đúng cách, theo kế hoạch ứng phó với hỏa hoạn và sơ tán khẩn cấp. 7. Làm thế nào để gọi điện báo cháy? 1) Sau khi gọi đến số điện thoại khẩn cấp 119, cần phải nói rõ địa điểm xảy ra hỏa hoạn, tên quận/huyện, tên phố, số nhà và các thông tin địa chỉ chi tiết khác ; 2) Cần làm rõ vật gì đang bị cháy, tình hình của ngọn lửa như thế nào ; 3) Cần chỉ rõ vị trí chính xác xảy ra hỏa hoạn, chất bị cháy và tình hình cháy ; 4) Người báo cáo cần nói rõ tên mình, đơn vị làm việc và số điện thoại của mình ; 5) Sau khi báo động, cần phải cử người đến chờ sự xuất hiện của xe cứu hỏa tại ngã tư, đồng thời hướng dẫn xe cứu hỏa con đường dẫn đến hiện trường vụ hỏa hoạn, nhằm giúp xe cứu hỏa có thể đến nơi xảy ra hỏa hoạn một cách nhanh chóng và chính xác. Khi phát hiện hỏa hoạn, cần báo cảnh sát ngay lập tức; đó là trách nhiệm của mọi công dân. 8 Nhân viên ở các vị trí khác nhau nên kiểm tra và khắc phục những nguy cơ cháy nổ xung quanh mình như thế nào? Các nhân viên ở mỗi vị trí công việc cần tiến hành kiểm tra an toàn chống cháy tại nơi làm việc của mình trước giờ vào và ra làm hàng ngày. Các nội dung cần kiểm tra bao gồm: 1) Việc sử dụng lửa, điện, dầu, khí có tuân thủ các quy định hay không ; 2) Các lối thoát hiểm và lối ra khẩn cấp gần đó có thông thoáng hay không? ; 3) Tình trạng của các thiết bị chữa cháy và biển báo an toàn phòng cháy chữa cháy trong khu vực lân cận ; 4) Khu vực có còn sót lại nguồn lửa nào không? ; 5) Các tình hình an toàn phòng cháy khác. 9 Tần suất và nội dung kiểm tra thường xuyên đối với các đơn vị trọng điểm? Các đơn vị có nguy cơ cháy nổ cao phải tiến hành kiểm tra an toàn phòng cháy mỗi 2 giờ một lần trong giờ hoạt động. Nội dung của các cuộc kiểm tra bao gồm: 1) Việc sử dụng lửa, điện, dầu, khí có vi phạm quy định hay không ; 2) Các lối thoát hiểm và lối ra an toàn có thông thoáng hay không? ; 3) Các thiết bị chữa cháy và biển báo an toàn phòng cháy có còn nguyên vẹn hay không? ; 4) Tình hình có mặt tại vị trí công việc của nhân viên ở các vị trí quan trọng ; 5) Các tình hình an toàn phòng cháy khác. 10 Điểm quan trọng trong việc quản lý các thiết bị chữa cháy tự động là gì? 1) Tăng cường việc bảo trì định kỳ các thiết bị chữa cháy; các thiết bị chữa cháy tự động cần được vận hành bởi những người có chuyên môn, nhằm đảm bảo chúng hoạt động tốt và hiệu quả ; 2) Đối với những nơi có phòng kiểm soát chữa cháy, phòng này phải có người trực 24/24 giờ mỗi ngày, với ít nhất 2 người mỗi ca. Những người trực và nhân viên vận hành phải có chứng chỉ nghề đặc thù liên quan đến công tác chữa cháy; họ chỉ được phép làm việc khi có chứng chỉ này ; 3) Sau khi xác nhận có hỏa hoạn, phòng điều khiển chữa cháy cần ngay lập tức chuyển công tắc điều khiển báo động cháy sang chế độ tự động (trừ trường hợp nó đã ở chế độ tự động rồi).