Thread Content
MTBE được sử dụng như chất phụ gia cho xăng, và đã được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới. •Nó không chỉ giúp nâng cao chỉ số octan của xăng một cách hiệu quả, bù đắp cho sự suy giảm chỉ số octan do sự giảm đi của các hợp chất thơm và hydrocarbon, mà còn có tính ổn định cao, ít gây ảnh hưởng đến môi trường ; Hàm lượng oxy tương đối cao, giúp cải thiện đáng kể chất lượng khí thải từ ô tô, từ đó giảm hàm lượng CO và HC trong khí thải. •Ngoài ra, MTBE còn là một nguyên liệu hóa chất quan trọng; thông qua quá trình phân hủy, có thể tạo ra isobutylene có độ tinh khiết cao. •Thiết bị MTBE cũng có thể được sử dụng để loại bỏ isobutylene ra khỏi hỗn hợp hydrocarbon loại C4. Butylen còn lại có thể được dùng làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp hóa chất khác (chẳng hạn như sản xuất cao su).
MTBE cũng là thành phần của hóa chất chiến tranh gì đó.
Nâng cao giá trị octan của xăng, bù đắp cho sự giảm giá trị octan do sự giảm số lượng các hợp chất thơm và hydrocarbon không no; đồng thời, chúng có tính ổn định cao và ít gây ảnh hưởng đến môi trường; Hàm lượng oxy tương đối cao, giúp cải thiện đáng kể chất lượng khí thải từ xe hơi, từ đó giảm hàm lượng CO và HC trong khí thải
Etyl metyl butyl ether hiện là sản phẩm thay thế cho tetraetyl chì. Được tạo ra từ isobutylene và methanol có trong carbon tứ phân, dưới sự xúc tác của chất xúc tác keo ion kiềm có lỗ rỗng lớn, sau đó được tinh chế để thu được sản phẩm cuối cùng. Tính chất của sản phẩm: Sản phẩm có mùi tương tự như long não, có màu trong suốt. Ở nhiệt độ phòng, nó có thể hòa tan hoàn toàn với các chất như rượu, ête, hydrocarbon béo, hydrocarbon thơm, và các dung môi halogen hóa. Giống như các loại ether methyl tert-butyl khác, chất này còn có một đặc tính rất quan trọng nữa, đó là khả năng chống oxy hóa tự phát rất tốt; do đó, nó không dễ tạo thành các peroxide. Chủ yếu được sử dụng bởi các nhà máy lọc dầu làm chất pha trộn để tạo ra xăng có chỉ số octan cao. Ngoài ra, nó còn có thể được dùng làm dung môi cho parafin, các loại dầu mỏ, hương liệu, alcaloid, nhựa, cao su, cũng như là chất phản ứng trong các phản ứng tổng hợp hữu cơ. Dễ cháy và dễ bay hơi; có nguy cơ nổ khi tiếp xúc với nguồn lửa hoặc nguồn nhiệt. Vào những năm 1970, MTBE bắt đầu được chú ý như một thành phần dùng để nâng cao chỉ số octan của xăng. MTBE có thể nâng cao chỉ số octan của xăng, đồng thời có tính ổn định về mặt hóa học. Xăng chứa MTBE còn giúp cải thiện hiệu suất vận hành của xe hơi, đồng thời giảm lượng khí carbon monoxide trong khí thải. Hơn nữa, hiệu suất đốt cháy cao, có thể ức chế sự hình thành ozone. Nó có thể thay thế tetraethyl lead làm chất chống nổ, để sản xuất xăng không chì. Hiện nay, khoảng 95% lượng MTBE được sử dụng làm chất tăng chỉ số octan và chất giúp tăng hàm lượng oxy trong xăng. MTBE cũng là nguyên liệu quan trọng để sản xuất isobutylene dùng trong ngành tổng hợp. Còn được dùng trong sản xuất axetaldehyde và axit methacrylic. Năm 1973, Ý đã phát triển bộ thiết bị công nghiệp sản xuất MTBE đầu tiên trên thế giới. Tu chính án về luật làm sạch không khí năm 1990 do Hoa Kỳ ban hành (CAA-1990) yêu cầu phải thêm các hợp chất oxy hóa (như MTBE) vào xăng có công thức mới, nhằm giảm mức ô nhiễm từ xe cộ. Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu công nghệ MTBE từ cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980. Năm 1983, nhà máy cao su thuộc công ty Qilu Petrochemical đã xây dựng được bộ thiết bị thí nghiệm công nghiệp MTBE đầu tiên tại Trung Quốc. Năm 1986, công ty Jihua lại xây dựng được nhà máy sản xuất MTBE quy mô hàng vạn tấn đầu tiên tại Trung Quốc. Năm 1999, Trung Quốc đã khởi xướng “Dự án làm sạch không khí toàn quốc – Chương trình sử dụng xe ô tô thân thiện với môi trường”, nhằm khuyến khích việc sử dụng xăng chứa MTBE. MTBE, với vai trò là chất cải thiện chỉ số octan của xăng, không chỉ giúp tăng hàm lượng oxy trong xăng mà còn thúc đẩy quá trình đốt cháy sạch hơn, từ đó giảm thiểu ô nhiễm do các chất độc hại phát ra từ xe cộ. MTBE có mức độ hòa tan nhất định trong nước. Do đó, chủ yếu do sự rò rỉ từ các bồn chứa xăng dưới lòng đất và trên mặt đất, người ta ngày càng phát hiện nhiều MTBE trong các nguồn nước uống dưới lòng đất tại Hoa Kỳ. Ngay cả ở nồng độ rất thấp, MTBE vẫn gây ra mùi hôi khó chịu trong nước. Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ đã xếp MTBE vào danh sách các chất có thể gây ung thư ở con người. Việc thêm MTBE vào xăng ở Mỹ không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu về hàm lượng oxy trong xăng là 2%, mà MTBE còn có ưu điểm là chỉ số octan trên đường cao, đạt 110; đồng thời giá trị RVP (áp suất hơi ở nhiệt độ cao) của nó chỉ là 8 (pound/inch²). Thêm MTBE giúp đáp ứng yêu cầu về hàm lượng oxy trong xăng là 2%, từ đó làm tăng lượng xăng lên 11%. Mỹ ban đầu quy định rằng 3,65% tổng lượng xăng phải là MTBE; khoảng 87% loại xăng có công thức mới sử dụng MTBE như chất oxy hóa. Do tác hại của MTBE đối với chất lượng nước, bang California của Mỹ đã cấm sử dụng MTBE kể từ năm 2004. Các bang như Arizona, Connecticut và New York cũng ban hành lệnh cấm sử dụng MTBE vào năm 2005. Các bang khác cũng lần lượt giảm lượng MTBE được sử dụng, và tham gia vào hàng ngũ các bang cấm sử dụng MTBE. Úc cũng đã cấm sử dụng MTBE kể từ năm 2004. Từ năm 2006, việc cấm sử dụng MTBE trong xăng tại Hoa Kỳ ngày càng được thúc đẩy mạnh mẽ hơn. Từ tháng 5 năm 2006, đã có 25 tiểu bang của Hoa Kỳ cấm sử dụng MTBE. Dự kiến nhu cầu về MTBE tại Hoa Kỳ sẽ giảm từ 12,9 triệu tấn/năm vào năm 2001 xuống còn 3,44 triệu tấn/năm vào năm 2010. Nhu cầu MTBE trên toàn thế giới đã đạt mức cao nhất vào năm 2001, với con số 22,58 triệu tấn/năm. Dự đoán rằng nhu cầu này sẽ tiếp tục giảm trong tương lai.
Chủ yếu là giảm các hydrocarbon đa vòng, nâng cao chỉ số octan.
MTBE có thể được phân hủy ngược để tạo ra isobutylene có độ tinh khiết cao, dùng để sản xuất cao su hoặc nhựa acrylic và các chất tương tự. Cũng có thể phát triển methyl methacrylate ở khâu sản xuất sau.